Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

Chuyên đề nâng cao chất lượng dạy học - Môn Sử


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Chuyên đề nâng cao chất lượng dạy học - Môn Sử": http://123doc.vn/document/541246-chuyen-de-nang-cao-chat-luong-day-hoc-mon-su.htm


1. CHUYÊN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC.
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG, HỨNGTHÚ
CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP QUA VIỆC
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM BÀI TẬP LỊCH SỬ
Nguyễn Thị Thu Cúc
Bùi Thị Thu Vân
Võ Thị Như Thuỷ
Tổ Sử-GDCD -Trường THCS Lê Ngọc Hân
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hầu hết học sinh (HS) chưa có quan
niệm đúng về BÀI TẬP LỊCH SỬ (BTLS), cho rằng học lịch sử chỉ cần học thuộc sự kiện,
hoặc một trong những trở ngại lớn của HS trung học cơ sở khi học lịch sử , đặc biệt là lịch
sử thế giới, là không nhớ được sự kiện, dễ nhầm lẫn năm, tháng, địa điểm, con người …
Thực ra BTLS có vai trò quan trọng đối với việc học tập của HS. Nó không chỉ có
tác dụng giúp HS nắm vững, hiểu sâu và hoàn thiện những kiến thức cơ bản của bài mà
còn nâng cao hiểu biết của các em, rèn luyện những kĩ năng cần thiết như vẽ bản đồ , sơ đồ
, đồ thị , lập các bảng niên biểu lịch sử giải quyết tốt những vấn đề lịch sử đặt ra. Mặt
khác, BTLS còn phát huy tính độc lập, rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo và khiêu gợi
hứng thú học tập của HS .
Vấn đề đặt ra ở đây là hướng dẫn HS làm BTLS như thế nào để nâng cao được
trình độ tư duy lịch sử, nắm vững kiến thức và phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú
của HS trong học tập?
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
* Mục tiêu.
BTLS không phải chỉ là những câu hỏi trong sách giáo khoa, lại càng không phải là
những lời dăn dò chung chung của GV vào cuối giờ học. Vì BTLS có nội dung rộng hơn
câu hỏi kiểm tra, đòi hỏi thời gian, công sức và trí tuệ của HS nhiều hơn và tác dụng kết
quả của nó cũng cao hơn .
BTLS được xây dựng trên cơ sở một sự kiện quan trọng, một số bài học hay cả
khoá trình. Nó vừa phù hợp với năng lực nhận thức của HS lại vừa có yêu cầu cao đối với
các em, nhằm củng cố vững chắc bài học, tiếp tục hoàn thiện kiến thức giáo dục, tính
chuyên cần trong học tập, đặc biệt là phát huy năng lực nhận thức của HS.
* Tài liệu và phương tiện dạy học.
1/. Lịch sử 7 sách giáo viên / Bộ Giáo dục và Đào tạo [Phan Ngọc Liên (Tổng chủ
biên), Nguyễn Cảnh Minh (Chủ biên), Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn văn Đằng, Nguyễn Phan
Quang, Nghiêm Đình Vỹ], Nhà xuất bản GD-2003.
2/.Thiết kế bài giảng Lịch sử 7 [Nguyễn thị Phượng (Chủ biên ) - Nguyễn Thị
Thạch - Nguyễn Thị Khôi Trang - Nguyễn Bạch Trâm], Nhà xuất bản Hà Nội-2003.
3/. Vở Bài tập Lịch sử 7 [Trương Hữu Quýnh (Chủ biên) - Bùi Tuyết Hương -
Nguyễn Hồng Liên - Nghiêm Đình Vỹ], Nhà xuất bản GD-2003.
4/.Hướng dẫn học và ôn tập Lịch sử 7 (Trương Hữu Quýnh), Nhà xuất bản GD-
2005.
1
5/. Tư liệu Lịch sử 7 [Nghiêm Đình Vỹ (Chủ biên) - Bùi Tuyết Hương - Nguyễn
Hồng Liên], Nhà xuất bản GD-2003.
6/. Phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử / Bộ Giáo dục và Đào tạo
(Phan Ngọc Liên - Trịnh Đình Tùng), Nhà xuất bản GD-1998.
7/. Hướng dẫn học và ôn tập lịch sử THCS / Trương Hữu Quýnh, Nhà xuất bản
GD-1999.
8 /. Lịch sử 8 sách giáo viên / Bộ Giáo dục và Đào tạo (Phan Ngọc Liên - Nguyễn
Hữu Chí - Nguyễn Ngọc Cơ - Nguyễn Anh Dũng - Trịnh Đình Tùng - Trần Thị Vinh), Nhà
xuất bản GD-2004.
9/. Câu hỏi trắc nghiệm và nâng cao Lịch sử 8 / Đoàn Thịnh - Phạm văn Hà -
Nguyễn Thanh Lường, Nhà xuất bản GD-2004.
10/. Bài tập Lịch sử 8 / Lê Xuân Sáu, Nhà xuất bản GD-2004.
11/. Lịch sử 9 sách giáo viên / Bộ Giáo dục và Đào tạo [Phan Ngọc Liên (Tổng chủ
biên)- Trần Bá Đệ (Chủ biên) - Vũ Ngọc Anh - Nguyễn Thị Côi – Nguyễn Quốc Hùng],
Nhà xuất bản GD-2005.
12/. Tập Bản đồ - Tranh ảnh - Bài tập lịch sử 9 (Trần Bá Đệ - Nguyễn Quốc Hùng -
Nguyễn Nam Phóng - Nguyễn Xuân Trường ), Nhà xuất bản GD-2005.
13/ Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì (2004-2007)-
Môn Lịch sử (Quyển 2) / Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Trung học, Nhà xuất bản
GD-2007.
14/ Hướng dẫn giảng dạy bộ môn Lịch sử / Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang .
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
* Chuẩn bị.
1/. Đối với Học sinh.
- Tất cả đều phải có sách giáo khoa .
- Ở nhà HS phải xem trước toàn bài sẽ học và thử trả lời một số câu hỏi mang tính
khái quát do giáo viên (GV) đặt ra cho nhóm thảo luận hoặc dựa vào hệ thống câu hỏi có
sẵn ở cuối mỗi phần để HS tập trả lời câu hỏi .(HS có thể ghi phần trả lời của mình vào
quyển tập nháp (nếu có) hoặc sử dụng viết chì đánh dấu vào SGK).
- Các tổ trưởng, tổ phó chấm điểm cộng cho bạn theo mẫu GV đã hướng dẫn đầu
năm.
2/. Đối với Giáo viên.
BTLS có nhiều loại khác nhau, thể hiện tính đa dạng phong phú như chính bản
thân lịch sử, đối tượng tiếp thu là HS lớp đại trà nên có đủ trình độ HS giỏi, khá, trung
bình, yếu, kém ( HS trường Lê Ngọc Hân được tuyển theo địa bàn phổ cập ).
Nếu muốn việc hướng dẫn làm BTLS cho HS có hiệu quả, GV phải chuẩn bị chu
đáo các việc sau:
Ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc sư phạm như: giải quyết các yêu cầu cụ thể của
bài học mà việc phát huy tính tích cực ở HS là chính. Trong lúc làm bài tập, HS biết tự
kiểm tra và đánh giá. Phải bám sát nội dung chương trình SGK phù hợp với trình độ, yêu
cầu học tập của HS. Tiến hành một cách phong phú đa dạng trong phần học trên lớp, khi
trình bày mới, củng cố, ôn tập và kiểm tra …chủ yếu khơi dậy sự suy nghĩ của HS một
cách thông minh, sáng tạo, kết hợp học với hành …thì người GV phải lựa chọn BTLS phù
hợp cho từng đối tượng HS để tạo hứng thú cho HS yếu, kém. Bên cạnh đó, ngay từ đầu
năm, để tạo không khí thi đua sôi nổi phù hợp với tâm lý HS trung học cơ sở, chúng tôi đã
hướng dẫn các tổ trưởng cách ghi điểm cộng cho các bạn mỗi khi trả lời đúng câu hỏi cô ra
hoặc cho điểm trừ nếu bạn vi phạm vào những nội qui học Sử đã qui định (không làm bài
tập ở nhà, không mang đủ dụng cụ học tập, gây ồn trong giờ học). Mười điểm cộng nhỏ
này sẽ được cộng thêm một điểm vào cột điểm hệ số một ( tức kiểm tra miệng hoặc 15
2
phút). Nếu HS nào phát biểu tốt trong các tiết học, thực hiện tốt nội quy sẽ đạt điểm cao ở
cuối học kỳ và ngược lại có tích cực phát biểu nhưng cũng quá gây ồn trong giờ học, kết
quả không còn điểm cộng nào. Nhìn chung, hầu hết HS chúng tôi dạy đều thích điểm cộng
này .
* Thực nghiệm sư phạm.
BTLS có nhiều loại khác nhau như Câu hỏi trắc nghiệm (kiểm tra việc nắm kiến
thức). Bài tập nhận thức, Bài tập về thực hành bộ môn (vẽ bản đồ, các loại đồ dùng trực
quan quy ước, lập hồ sơ tư liệu cho học tập…), vận dụng kiến thức đã học vào đời sống.
Trong phần này, chúng tôi trình bày một số dạng BTLS chủ yếu mà chúng tôi đã
thực nghiệm ở bộ môn Lịch sử lớp 7,8,9.
1. BÀI TẬP VỀ LẬP NIÊN BIỂU.
Chúng tôi cho các em làm bài tập niên biểu này để khắc phục tình trạng HS không
nhớ được sự kiện, dễ nhằm lẫn năm, tháng, địa điểm, con người…(như đã nêu trên). Và để
tạo sự hứng thú, thi đua sôi nổi trong thực hành Lịch sử, chúng tôi gọi bài tập về lập niên
biểu là trò chơi “Ai nhanh hơn” (gần giống như đố vui ôn tập). Loại bài này giúp HS hệ
thống hoá, nêu những sự kiện quan trọng, một biến cố hay một quá trình cách mạng theo
trình tự thời gian, so sánh các sự kiện để rút ra bản chất, sự khác biệt giữa chúng. Tuỳ theo
nội dung cụ thể từng bài hay từng phần đã học, chúng tôi yêu cầu HS lập niên biểu tổng
hợp hay niên biểu chuyên đề .
a. Thông thường niên biểu tổng hợp có tác dụng lớn trong các bài ôn tập, tổng
kết để hệ thống hoá kiến thức.
Ví dụ:
- Ở môn Lịch sử lớp 8, sau khi dạy xong bài 21, chúng tôi hướng dẫn HS “Lập
niên biểu về những sự kiện chính của chiến tranh thế giới lần thứ II (1939- 1945)”,
hoặc môn Lịch sử lớp 9, sau khi dạy xong bài 4, chúng tôi hướng dẫn HS “Lập niên biểu
các giai đoạn lịch sử của Trung Quốc từ năm 1946 đến nay”. Trước hết, chúng tôi
hướng dẫn HS tìm hiểu cấu trúc của niên biểu: Các vấn đề cần trình bày, bao nhiêu cột,
sắp xếp vị trí các cột thế nào cho hợp lý. Nội dung niên biểu này có 2 phần chính: niên đại
(năm, tháng xảy ra sự kiện), các sự kiện chính được sắp xếp thành 2 cột theo thứ tự nêu
trên. Tiếp đó, chúng tôi hướng dẫn HS lần lượt hoàn thành nội dung các cột của niên biểu.
Những HS nào trả lời đúng niên đại khớp với sự kiện lịch sử, hoặc ngược lại, chúng tôi
cho niên đại, HS tìm sự kiện, nếu chúng tôi nói “chính xác”, tổ trưởng của HS đó sẽ ghi
cho bạn một điểm cộng vào sổ theo dõi, còn bản thân HS trả lời đúng sẽ lên bảng điền
phần trả lời của mình vào bảng niên biểu chung cho khớp với sự kiện lịch sử. Các HS còn
lại sẽ ghi ý đó vào tập của mình. Các em rất hào hứng khi tham gia thực hành, mạnh dạn
xung phong, kể cả HS yếu, kém (vì chúng tôi qui định trong học tập, HS trả lời sai sẽ
không bị trừ điểm trừ, để động viên HS trung bình, yếu, kém mạnh dạn phát biểu). Chúng
tôi lưu ý HS: sự kiện được chọn phải tiêu biểu, đánh dấu những mốc quan trọng và sắp xếp
theo trình tự thời gian, khi lập niên biểu phải ghi các sự kiện rõ ràng, chính xác, ngắn gọn
và làm nổi bật nội dung của nó cũng như mối quan hệ giữa các sự kiện.
- Trong chương trình lịch sử lớp 7 có 2 phần : lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam.
Khi GV dạy bài 7 “Những nét chung về xã hội phong kiến “, bài học này có tính khái
quát cao khi HS đã học các bài cụ thể về chế độ phong kiến ở Châu Âu, Trung Quốc và
Đông Nam Á . Đây là bài học khó đối với HS lớp 7, vì trong bài này không chỉ có nhiều sự
kiện mà còn có nhiều khái niệm, thuật ngữ. Hơn thế nữa, xã hội phong kiến phương Đông
và Tây không giống nhau về thời gian hình thành và phát triển. Như vậy, để giúp HS lĩnh
hội kiến thức dễ dàng, dễ nhận biết, dễ phân biệt và khắc sâu kiến thức thì việc hướng dẫn
HS lập niên biểu so sánh sẽ không chỉ giúp HS giỏi, HS khá, HS trung bình, mà cả HS yếu,
kém cũng nắm được kiến thức lịch sử.
3
+ Trước hết, để các em làm bài tập tốt, trong tiết học trước, trong phần chuẩn bị bài
mới, GV hướng dẫn 5 nhóm HS tìm hiểu 5 vấn đề về xã hội phong kiến phương Đông và
phương Tây như sau:
• Nhóm 1: Thời kì hình thành?
• Nhóm 2: Thời kì phát triển?
• Nhóm 3: Thời kì khủng hoảng và suy vong?
• Nhóm 4: Cơ sở kinh tế ?
• Nhóm 5: Các giai cấp cơ bản ?
+ Đến khi học bài 7, sau khi các nhóm thi đua trình bài phần tìm hiểu của nhóm mình,
các nhóm khác nhận xét, GV kết luận và cho điểm cộng các nhóm, thì tập thể lớp đã có
một bảng tổng hợp So sánh xã hội phong kiến phương Đông và phương Tây ngắn gọn,
tương đối dễ tiếp thu như sau:
CÁC THỜI KÌ LỊCH SỬ XHPK PHƯƠNG ĐÔNG XHPK PHƯƠNG TÂY
Thời kì hình thành Từ thế kỉ IV TCN đến
khoảng thế kỉ X
Từ thế kỉ V đến thế X
Thời kì phát triển Từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ
XV
Từ thế kỉ XI đến giữa thế kỉ
XV
Thời kì khủng hoảng và suy
vong
Từ thế kỉ XVI đến giữa thế
kỉ XIX
Từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XV
Cơ sở kinh tế Nông nghiệp đóng kín trong
công xã nông thôn
Nông nghiệp đóng kín trong
lãnh địa
Các giai cấp cơ bản Địa chủ và nông dân lĩnh
canh
Lãnh chúa và nông nô
Để tránh cảm giác mệt mỏi, nhàm chán trong HS nếu cứ cho hoài một kiểu bài tập,
chúng tôi đã sưu tầm và khai thác tốt các dạng bài tập:
Khi thì hướng dẫn HS làm Bài tập nối cột.
Ví dụ:
+ “Hãy kết nối các thông tin có quan hệ với nhau dưới đây cho phù hợp”
(Bài 17/Lịch sử 8)
1. Hậu quả của chiến tranh thế giới thứ I
và ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười
Nga
a. Các nước Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản chủ
trương phát xít hoá chế độ thống trị .
2. Cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước
tư bản (1929-1933)
b. Đại hội thành lập Quốc tế cộng sản ở
Mát-xcơ-va (2/3/1919).
3. Lênin và Đảng Bôn-xê-vích Nga. c. Cao trào Cách mạng (1918-1923)
thành lập Đảng cộng sản ở nhiều nước
Châu Âu, Châu Á .
+ “Kết nối các thông tin có quan hệ với nhau dưới đây cho phù hợp”(Bài 19/
Lịch sử 7):
1. Đạo thứ nhất a. Tiến thẳng ra Đông Quan
2. Đạo thứ hai b. Tiến quân giải phóng miền Tây Bắc, ngăn chặn viện
binh từ Vân Nam sang .
3. Đạo thứ ba c. Giải phóng vùng hạ lưu sông Hồng , ngăn chặn viện
binh từ Quảng Tây sang .
+ “Nối sự kiện với thời gian cho đúng “(Bài 22/Lịch sử 9):
4
1. Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành
Trung ương
A. Ngày 19 tháng 5 năm 1941
2. Thành lập Mặt trận Việt Minh B. Tháng 5 năm 1944
3. Thành lập đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân
C. Từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm
1941
4. Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “Sắm
sửa vũ khí đuổi thù chung”
D. Ngày 22 tháng 12 năm 1944
Hoặc bài tập bằng cách đánh dấu “X”:
Ví dụ:
+ “Đánh dấu “X” vào ô trống đầu câu trả lời đúng về nguyên nhân Đinh Bộ
Lĩnh
dẹp được loạn 12 sứ quân”(Bài 8/Lịch sử 7):
□ Đinh Bộ Lĩnh là người có tài chỉ huy.
□ Do yêu cầu của đất nước.
□ Đinh Bộ Lĩnh có đông quân, được trang bị vũ khí đầy đủ.
□ Có nhiều ngưi ủng hộ và giúp đỡ Đinh Bộ Lĩnh.
+ “Các cuộc khởi nghĩa trong thời kì Chiến tranh Thế giới thứ I phản ánh nội
dung nào sau đây?.Hãy đánh dấu “X” vào ô trống đầu câu em chọn”
(Bài 30/Lịch sử 8):
□ Ách đô hộ của thực dân Pháp quá tàn ác đối với nhân dân ta.
□ Các tầng lớp nhân dân căm thù thực dân Pháp, thiết tha độc lập dân tộc.
□ Đất nước đang cần có một tổ chức ở trình độ cao hơn để lãnh đạo phong trào
đấu tranh .
□ Tất cả các điều trên .
+ “ Đánh dấu “X” vào câu trả lời đúng về các sự kiện có ảnh hưởng đến cách
mạngViệt nam sau Chiến tranh Thế giới thứ I” (Bài 15/Lịch sử 9)
□ Cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917).
□ Hội nghị Véc-xai(1919).
□ Quốc tế cộng sản thành lập (1919).
□ Tất cả đều đúng .
Hay bài tập xác định tên tác giả của các câu văn, câu thơ:
Ví du:
+ “Hãy xác định tên tác giả của các câu văn, câu thơ sau đây”(Bài 24/Lịch sử 8):
“Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”
Tácgiả:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Tác giả:
+ Đọc hai câu thơ sau: (Bài 18/Lịch sư 7):
“ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
Hai câu thơ trên nói về tội ác của quân xâm lược nào ?
Tác giả …………………
+ Đoc đoạn trích sau: (Bài 25/Lịch sử 9):
“…Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thì thắng
lợi nhất định về dân tộc ta !”
Đây là Lời kêu gọi ……………………chống
Tác giả:
b./ Bài tập hơi nâng cao là lập các niên biểu chuyên đề:
5
Ví dụ:
+ Sau khi dạy xong bài 19/Lịch sử 7 “Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)”,
chúng tôi cho HS làm bài tập niên biểu chuyên đề về diễn biến các cuộc khởi nghĩa chống
quân xâm lược Minh như: “Lập niên biểu ghi lại những nét chính về diễn biến hai trận
đánh lớn góp phần đưa đến thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn”. Để hướng dẫn HS
làm tốt bài tập này, chúng tôi sử dụng 2 lược đồ (lược đồ Trận Tốt Động–Chúc Động và
lược đồ trận Chi Lăng–Xương Giang), chia lớp thành 2 đội :đội A phụ trách trận Tốt
Động–Chúc Động , đội B phụ trách trận Chi Lăng-Xương Giang. Trong quá trình theo dõi
đại diện 2 nhóm lần lượt thi đua tường thuật diễn biến trận đánh trên lược đồ(1 em tường
thuật +1 em điền thời gian và sự kiện vào bảng niên biểu), tất cả thành viên của lớp có thể
phát biểu ý kiến bổ sung về cách chỉ lược đồ trận đánh, về độ chính xác của thời gian các
sự kiện. Để khích lệ các em trung bình, yếu, kém, mạnh dạn phát biểu, chúng tôi đã cho
điểm cộng các em này.
+ Dạy xong bài 30/Lịch sử 8, GV có thể đưa ra bài tập: “Lập niên biểu về hành
trình cứu nước của Nguyễn Aùi Quốc từ 5/6/1911 đến 1918”. Qua các câu hỏi gợi ý:
Cuộc hành trình cứu nước của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu từ tháng năm nào? Người đã đến
những đâu?, làm gì trong những tháng năm đó?. Những hoạt động đó có ý nghĩa gì? HS tự
lập niên biểu theo các nội dung trên. Chúng tôi hướng dẫn HS tìm sự kiện chính, những
mốc quan trọng trong cuộc hành trình của Bác hồ từ 1911 đến 1918, và đưa ví dụ gợi mở
HS:

Năm Tháng Địa điểm Bác
đến (Bác ở đâu?)
Những hoạt động cụ
thể (Bác làm gì ?)
Ý nghĩa những hoạt
động đó ?
5/6/1911 Rời Bến Nhà
Rồng
Làm phụ bếp trên một
chuyến tàu buôn Pháp.
Ra đi tìm đường cứu
nước .
+ Sau khi học xong bài 18/Lịch sử 9, GV có thể hướng dẫn HS lập niên biểu về cuộc
đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và những cống hiến của Người đối với
cách mạng Việt Nam qua câu hỏi: “Trên cơ sở trình bày những nét chính về cuộc đời
hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 đến năm 1930, em hãy nêu
những cống hiến của Người đối với cách mạng Việt Nam trong thời gian từ 1919 đến
1930?”
Đây là câu hỏi khó so với trình độ HS lớp 9, đa số các em có thể tự lập niên biểu
trên cơ sở các bài đã học chứ chưa thể tự tìm thấy hết những cống hiến to lớn của Nguyễn
Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam. Do đó, sau các câu hỏi gợi HS nhớ về cuộc hành
trình cứu nước của Nguyễn Ái Quốc từ 1911 đến 1918 mà các em đã được lập niên biểu ở
lớp 8, chúng tôi tiếp tục gợi ý: từ 18/6/1919 đến 1930, Người đã đến những đâu? làm gì
trong những tháng năm đó? Sau khi HS tự lập niên biểu dựa trên các kiến thức đã học từ
bài 16, 17 và 18 /Lịch sử 9. Tiếp theo, đối với HS giỏi, chúng tôi hướng dẫn các em tìm ra
những cống hiến to lớn của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam trong thời gian
từ 1919 đến 1930, Ví như: Con đường tìm chân lý cứu nước của Nguyễn Ái Quốc có gì
khác với lớp người đi trước? Tác dụng của việc truyền bá Chủ nghĩa Mac-Lênin vào trong
nước? Tại sao nói Cương lĩnh đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc
soạn thảo là đúng đắn và sáng tạo? Người đã xác định vị trí Cách mạng Việt Nam như thế
nào? Qua những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc nêu trên, theo các em 2 sự kiện nào có ý
nghĩa quyết định trong việc chuẩn bị tiến dến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam? Như
vậy bằng các câu hỏi gợi mở, chúng tôi đã hướng dẫn HS lần lượt khai thác ý nghĩa của
từng hoạt động của nguyễn Ái Quốc để tìm ra những cống hiến to lớn của Người trên cơ
sở niên biểu các em đã tự lập.
C./ Một dạng bài tập niên biểu là bài tập lập bảng so sánh:
6
Ở loại bài tập này, HS so sánh các sự kiện, hiện tượng để làm nổi bật bản chất, đặc
trưng của chúng.Ví dụ:
+ Để dạy Lịch sử 7/bài 14, phần III “Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm
lược Nguyên (1287-1288)” Chúng tôi cho HS “Lập bảng so sánh sự chuẩn bị của quân
Mông- Nguyên trong ba lần xâm lược Đại Việt”.
Lần thử nhất Lần thứ hai Lần thứ ba
Hơn 3 vạn quân 50 vạn Hơn 30 vạn quân, hàng trăm thuyền
chiến, đoàn thuyền chở hàng chục vạn
thạch lương.
Sau khi hướng dẫn HS lập bảng so sánh, GV có thể đặt câu hỏi: Qua bảng so sánh
trên, em hãy cho biết nhà Nguyên chuẩn bị đánh Đại Việt lần thứ ba có gì khác hai lần
trước?. Điều đó gây cho quân dân Đại Việt khó khăn gì? Từ đó HS thấy được ý nghĩa rất
lớn của cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm lược Nguyên của quân dân Đại Việt
(thế kỉ XIII).
+ Đối với môn Lịch sử 8, sau khi dạy bài 2 “Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794)”,
GV có thể yêu cầu HS “Lập bảng so sánh tiến trình, diễn biến, kết quả của Cách mạng
tư sản Anh thế kỉ XVII và Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII” để thấy được các
mặt tích cực, hạn chế của 2 cuộc cách mạng này và lý giải được vì sao nói Cách mạng tư
sản Pháp 1789 là cuộc cách mạng tư sản lớn nhất.
+ Sau khi dạy bài 18/Lịch sử 9, GV có thể cho HS: “Lập bảng so sánh Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930) do Nguyễn Ái Quốc soạn
thảo với Luận cương chính trị (10/1930) của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần
Phú Khởi thảo để thấy sự đúng đắn, sáng tạo của văn kiện trước và hạn chế của văn
kiện sau” .

2/. BÀI TẬP VẼ LƯỢC ĐỒ , SƠ ĐỒ , BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ.
Loại bài này rèn luyện kỹ năng vẽ, qua đó giáo dục tính chuyên cần, chính xác trong
lao động học tập và đòi hỏi không ít sự khéo léo, sáng tạo của HS, giúp các em củng cố,
ghi nhớ kiến thức đã học.
a/.Hướng dẫn HS vẽ lược đồ trong sách giáo khoa để khắc sâu kiến thức.
Ví dụ:
+ Sau khi học xong bài 26 / Lịch sử 8, chúng tôi cho bài tập thực hành: “Vẽ lược
đồ hình 91 trang 127 và hình 95 trang 130 sách giáo khoa”. Đồng thời hướng dẫn HS
quan sát, so sánh 2 lược đồ, kết hợp sách giáo khoa và gợi mở để HS thấy được: Lợi dụng
địa hình hiểm trở như thế nào mà nghĩa quân Hương Khê chủ yếu áp dụng lối đánh du kích
gây cho quân Pháp nhiều phen khốn đốn. Trên cơ sở đó, khắc sâu thêm kiến thức cho các
em hoàn thành bài tập nhận thức.

+ Đối với môn Lịch sử lớp 9, sau khi dạy xong tiết 1 bài 27, chúng tôi cho các em
bài tập thực hành:“Vẽ lược đồ hình 53: Hình thái chiến trường trên các mặt trân
Đông-Xuân 1953-1954.”Đồng thời hướng dẫn HS quan sát lược đồ, kết hợp sách giáo
khoa và gợi mở để HS thấy được: ta đã đánh địch vào những nơi quan trọng về chiến lược
mà Pháp tương đối yếu, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện cho ta
tiêu diệt nhiều sinh lực của Pháp, làm phá sản bước đầu Kế hoạch Na-Va của Pháp-Mỹ.
+ Để rèn HS lớp 7 môn Sử kỹ năng vẽ lược đồ và biết tường thuật lại các cuộc
kháng chiến chống ngoại xâm, ví dụ như dạy bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân xâm
lược Tống (1075-1077). GV hướng dẫn HS vẽ trước lược đồ hình 21: lược đồ trận chiến
tại phòng tuyến Như Nguyệt (tr. 43 / SGK). Do đã vẽ lược đồ trước ở nhà, vào lớp khi
7
GV tường thuật trân đánh trên lược đồ treo tường đồng thời hướng dẫn HS kết hợp với
lược đồ đã vẽ trong tập sẽ giúp các em khắc sâu kiến thức bài học nhanh hơn.
b/. Hướng dẫn HS vẽ sơ đồ diễn tả sự phát triển vận động của một sự kiện
lịch sử, khắc hoạ vào trí óc của HS những số liệu cần phải nhớ để hiểu được sự phát
triển, vận động của sự kiện ấy
Ví dụ:
+ Sau khi dạy bài 2/Lịch sử 8, chúng tôi yêu cầu HS làm bài tập “Trình bày sự phát
triển đi lên của Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII bằng sơ đồ”. Với bài tập nầy,
chúng tôi hướng dẫn HS rút gọn kiến thức bài học và cách vẽ. Qua sơ đồ HS sẽ thấy rõ “sự
phát triển đi lên” của Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII. Nội dung :
- Thời kì thứ nhất: 14/7/1789 hạn chế quyền vua, xoá bỏ chế độ đẳng cấp .
- Thời kì thứ hai:10/8/1972 xoá bỏ chế độ quân chủ, lập cộng hoà .
- Thời kì thứ ba: 2/6/1793 chuyên chính Gia-cô- banh xoá mọi nghĩa vụ phong kiến.
+ Đối với môn Lịch sử lớp 7, qua từng bài học, GV có thể hướng dẫn HS lần lượt vẽ
các sơ đồ về bộ máy nhà nước của các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần. Khi tìm hiểu
về một bộ máy nhà nước mới, GV sẽ đặt câu hỏi gọi mở hướng dẫn các em so sánh với bộ
máy nhà nước đã học ở các tiết trước, từ đó các em sẽ nhận thấy được sự tiến bộ phát triển
dần lên của các nhà nước phong kiến.

+ Hay ở môn lịch sử lớp 9, sau khi dạy xong bài 3 “Quá trình phát triển của phong trào
giải phóng dân tộc và sự tan rã của hệ thống thuộc địa”, chúng tôi hướng dẫn HS vẽ “Trục
thời gian biểu diễn các giai đoạn phát triển của phong trào giải phóng dân tộc khiến
cho hệ thống thuộc địa tan rã”:
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3
1945 Giữa những năm 60 Giữa những năm 70 Giữa những năm 90
Qua sơ đồ HS sẽ khắc sâu nội dung cơ bản :
- Giai đoạn 1 (Từ 1945 đến giữa những năm 60): Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa
đế quốc thực dân về cơ bản đã bị sụp đổ.
- Giai đoạn 2 (Từ giữa những năm 60 đến giữa những năm 70): Các thuộc địa của
Bồ Đào Nha ở Châu Phi đã giành được độc lập.
- Giai đoạn 3 (Từ giữa những năm 70 đến giữa những năm 90): Hệ thống thuộc địa
của chủ nghĩa đế quốc đã bị sụp đổ hoàn toàn.
3. Bài tập dưới dạng câu hỏi.
Là dạng bài tập nâng cao nhận thức, giúp HS mở rộng hiểu biết, hoàn thiện kiến
thức và nâng cao trình độ nhận thức ở mức khái quát. Những câu hỏi có tính chất bài tập
vừa kiểm tra kiến thức cơ bản vừa phát huy tư duy sáng tạo của HS.
Ví dụ:
+ Môn lịch sử 7: Sau khi dạy xong bài 18 “Cuộc kháng chiến của nhà Hồ và phong
trào khởi nghĩa chống quân Minh ở đầu thế kỉ XV”, chúng tôi cho HS làm bài tập “Em
hãy nhận xét đường lối của nhà Trần trong kháng chiến chống xâm lược Mông
-Nguyên và nhà Hồ trong kháng chiến chống quân Minh có gì khác nhau?”.
Câu hỏi này đối với HS trung bình, khá, các em chỉ trả lời: nhà Trần đoàn kết được
toàn dân, còn nhà Hồ không đoàn kết đươc toàn dân. Đối với HS giỏi, chúng tôi gợi các
em nhớ lại cách đánh của quân dân thời Trần trong cuộc kháng chiến chống Mông-
8
Nguyên qua câu hỏi “Đường lối của nhà trần trong kháng chiến chống quân xâm lược
Mông-Nguyên là gì?” để các em nhớ lại kiến thức bài cũ (bài 14): Dựa vào nhân dân, đoàn
kết toàn dân đánh giặc, vừa đánh để cản giặc, vừa rút lui để bảo toàn lực lượng, chủ động
phát huy chỗ mạnh của quân ta, khai thác chỗ yếu của kẻ thù, buộc giặc phải đánh theo
cách đánh của ta.
Từ đó các em sẽ tìm ra câu trả lời cho câu hỏi tiếp theo: “Đường lối kháng chiến
chống quân Minh của nhà Hồ?” là không dựa vào dân, không đoàn kết được toàn dân. Nhà
Hồ kháng chiến đơn độc. Qua đó chúng tôi gợi mở để HS rút ra được nhiều bài học kinh
nghiệm quí báu về truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta.

+ Môn Lịch sử 8: Dạy xong bài 25 “Kháng chiến lan rộng ra toàn quốc (1873-
1884}”, chúng tôi cho HS làm bài tập: “Em có nhận xét gì về triều đình Huế qua việc
chuộc lại 3 tỉnh đã mất và để mất thêm 3 tỉnh còn lại?”.
Câu hỏi này không chỉ đòi hỏi HS lựa chọn những kiến thức cơ bản, phương pháp
phân tích, chứng minh một vấn đề mà còn đòi hỏi sự tổng hợp, khái quát rất cao, đặc biệt
là năng lực trình bày một vấn đề lịch sử.
Để trả lời được vấn đề này, HS phải khai thác triệt để nội dung kiến thức cụ thể
trong sách giáo khoa không chỉ ở bài đang học mà cần phải liên hệ, nhớ lại các bài học
trước đó cùng bài giảng GV đã truyền đạt trên lớp để hoàn thành.
Đối với các lớp có trình độ khá giỏi, các em có thể tự trả lời, còn đối với HS trình
độ trung bình, yếu, kém, tôi cũng gợi cho HS nhớ lại các kiến thức cũ qua câu hỏi “Hàng
trăm cuộc nổi dậy chống nhà Nguyễn nói lên thực trạng xã hội bấy giờ như thế nào?”(bài
27: Chế độ phong kiến nhà Nguyễn/Lịch sử 7) để giúp các em hiểu đúng hơn thái độ của
nhà Nguyễn đối với cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
+ Môn Lịch sử lớp 9: Sau khi học xong bài 23, HS phải.làm 2 câu hỏi và bài tập
cuối bài (trang 95/SGK lớp 9), trong đó câu 1: “Sự lãnh đạo kịp thời, sáng tạo của Đảng
cộng sản Đông Dương và của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng Tám thể
hiện ở những điểm nào?”. Đây là một câu hỏi khó đối với HS lớp 9, SGV yêu cầu dựa
vào kiến thức ở mục I-SGK, GV hướng dẫn HS tìm ra các sự kiện và phân tích để làm rõ
sự lãnh đạo kịp thời, sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc
chớp thời cơ ngàn năm có một và lãnh đạo Tổng khởi nghĩa trong cả nước.
Trước hết, chúng tôi đặt cho HS các câu hỏi gợi nhớ kiến thức cũ, ví như: “Được
tập hợp và rèn luyện qua quá trình chuẩn bị lực lượng, đặc biệt là qua cao trào “Kháng
Nhật cứu nước” khí thế kháng chiến của quần chúng trong nước lúc này thế nào?”(quần
chúng trong nước sẵn sàng vùng dậy).Về phía Đảng Cộng Sản Đông Dương thì sao?”
(Đảng CSĐD đã chuẩn bị đầy đủ, có quyết tâm phát động và lãnh đạo quần chúng giành
chính quyền).
Liên hệ kiến thức mới, chúng tôi hỏi: “Tình thế quân Nhật lúc này (1945)?”(quân
Nhật đầu hàng Đồng Minh không điều kiện).Vậy theo các em,“ Cơ hội” ngàn năm có
một”để nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền là trong khoảng thời gian nào sau đây:
- Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng minh đến trước khi quân Đồng minh vào nước ta.
- Sau khi Nhật đảo chính Pháp đến trước khi quân Đồng minh vào nước ta.
- Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng minh đến ngày 19-8-1945.
Đến đây thì HS đễ dàng chọn ra đáp án chính xác, đó là “Sau khi Nhật đầu hàng
quân Đồng minh đến trước khi quân Đồng Minh vào nước ta”. Chúng tôi nhấn mạnh: “Nói
đây là thời cơ ngàn năm có một là: Giữa lúc phát xít Nhật và tay sai hoang mang tan rã
như vậy thì một tập đoàn đế quốc (Anh, Pháp) và quân Tưởng Giới Thạch đang ráo riết
kéo vào Đông Dương.Vì vậy phải giành chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay
sai, đứng ở địa vị người chủ nước nhà mà đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân
9
Nhật, nếu hành động chậm trễ khi quân Đồng minh vào Đông Dương thì thời cơ không
còn nữa”. Qua việc yêu cầu HS trao đổi để trả lời các câu hỏi: Quyết định kịp thời của
Đảng thể hiện ở các sự kiện nào? Sự lãnh đạo sáng tạo của Đảng trong khởi nghĩa? các em
đã có thể hoàn thành đáp án câu 1/ trang 95/ SGK:
- Phân tích thời cơ: Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, quân Đồng minh
chưa kịp vào nước ta, quần chúng sẵn sàng nổi dậy, Đảng đã chuẩn bị đầy đủ và sẵn sàng.
- Quyết định kịp thời của đảng thể hiện ở các sự kiện: Hội nghị toàn quốc của
Đảng và Quốc dân đại hội Tân Trào .
- Lãnh đạo sáng tạo của Đảng trong khởi nghĩa: Giành chính quyền trong 14 ngày.
Việc ra bài tập lịch sử cho HS còn có nhiều dạng bài tập khác nữa . Nếu khai
thác tốt các dạng bài tập trên sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ động hứng thú
của HS trong học tập .
IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN.
* Trong quá trình hướng dẫn HS làm bài tập lịch sử, chúng tôi thấy các em có chú ý,
dễ dàng tham gia và phát biểu sinh động (nhất là những bài tập được GV ứng dụng chương
trình thiết kế giáo án điện tử Power Point hoặc Violet). Nếu như những năm trước chỉ có
HS giỏi, khá thường xung phong giải bài tập lịch sử thì năm học vừa qua, cả những học
sinh trung bình, yếu, kém, cũng tập trung theo dõi bài, mạnh dạn xung phong phát biểu ý
kiến hay lên bảng giải bài tập một cách tự giác, tích cực .
* Qua tham khảo tất cả HS lớp đã dạy với câu hỏi: “Qua các loại bài tập thực hành
lịch sử như vẽ lược đồ, sơ đồ, biểu đồ, trò chơi “Ai nhanh hơn” (lập niên biểu), trả lời
câu hỏi,….loại bài tập nào em thích nhất ? Vì sao?”.
Kết quả: Hầu hết HS các lớp đều thích làm BTLS, trong đó trò chơi “Ai nhanh
hơn”(lập niên biểu) được các em thích nhất vì vui, sinh động, lại dễ thuộc bài .
=> Nhìn chung: nếu những năm trước (khi GV chưa ứng dụng chương trình thiết kế
giáo án điện tử Power Point hoặc Violet) chỉ có 90% HS có quan niệm đúng về BTLS thì
hiện nay đã có trên 98% HS đã có quan niệm đúng về BTLS, rất thích được giải BTLS,
nhất là khi giáo viên dạy bằng giáo án điện tử Power Point hoặc Violet.
Mặc dù kết quả còn khiêm tốn nhưng chúng tôi thấy ở năm học vừa qua chúng tôi
đã có thêm một kinh nghiệm nhỏ trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở môn lịch
sử. Đó chính là cơ sở để chúng tôi phát huy, cải tiến phương pháp giảng dạy cho hôm nay
và cho cả ngày mai.
V.BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
1. Muốn hướng dẫn HS làm BTLS có hiệu quả tốt cần.
a/ Về phía HS: Phải có sách giáo khoa để nghiên cứu, bản thân phải thích học lịch
sử, thực hiện tốt lời dạy của thầy, cô.
b/ Về phía GV: Đầu tư đúng mức, chuẩn bị chu đáo:
- Có dặn dò thì phải có kiểm tra ở tiết học sau:
+ Kiểm tra bài cũ cho HS: GV kiểm tra tập ghi bài của HS xem các em có làm như
thầy, cô dặn không, nếu HS thực hiện tốt phải động viên kịp thời bằng cách cho điểm cộng
hoặc tuyên dương trước lớp => tạo sự yêu thích đối với bộ môn của các em.
+ Đối với những HS còn lại: tổ trưởng và tổ phó kiểm tra phần chuẩn bị bài của
bạn và cho điểm cộng hoặc trừ theo qui định.
- Phần dặn dò HS chuẩn bị bài mới phải rõ ràng, cụ thể, tránh chung chung.
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét