Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

tình hình thị trường, khai thác và chế biến muối mỏ kali trên thế giới, triển vọng phát triển tại việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "tình hình thị trường, khai thác và chế biến muối mỏ kali trên thế giới, triển vọng phát triển tại việt nam": http://123doc.vn/document/1048948-tinh-hinh-thi-truong-khai-thac-va-che-bien-muoi-mo-kali-tren-the-gioi-trien-vong-phat-trien-tai-viet-nam.htm


I. MỞ ĐẦU
Sau đạm và lân, kali là thành phần dinh dưỡng quan trọng thứ ba đối
với cây trồng. Đối với một số cây trồng thì nó thực tế đã trở thành chất
dinh dưỡng quan trọng hàng đầu hoặc quan trọng thứ hai. Không có
chất nào có thể thay thế cho các loại phân kali trong nông nghiệp, vì
vậy phân kali là yếu tố quan trọng thiết yếu để duy trì và nâng cao sản
lượng lương thực. Bón phân kali nhằm tăng cường chất dinh dưỡng kali
và cân đối các chất dinh dưỡng N,P,K để đảm bảo năng suất thu hoạch
cây trồng bền vững là biện pháp thực hành thông thường hiện nay trong
các hệ thống nông nghiệp hiện đại trên thế giới.
Kali có ở một số loại quặng khác nhau, nhưng chỉ 2 loại quặng kali có
khả năng khai thác công nghiệp là quặng trầm tích ở độ sâu từ 400 m
đến trên 1000 m và các mỏ nước muối trong các hồ nước muối như ở
khu vực Biển Chết (Trung Đông), Hồ Muối Lớn (Mỹ), hồ Qarhan
( Trung Quốc),v.v.
Nhiều mỏ quặng kali trên thế giới đã được phát hiện trong quá trình
thăm dò khai thác dầu mỏ trong những môi trường trầm tích. Hầu hết
các mỏ quặng kali đều có những đặc điểm địa tầng chung, như nguyên
liệu dạng "đá mềm" với các tính chất cơ học tương tự nhau, có các lớp
đá trầm tích che phủ bên trên, v.v.
Những loại khoáng kali có ý nghĩa kinh tế quan trọng nhất là sylvinit,
sylvit, langbeinit, kainit và carnalit. Ở nhiều mỏ quặng kali trên thế giới,
như mỏ Saskatchewan ở Canađa (cho đến nay là mỏ kali lớn nhất thế
giới), quặng chủ yếu là sylvinit. Đây là hỗn hợp các tinh thể sylvit
(KCl) và halit (NaCl) riêng rẽ, cùng với những kết tủa không tan như
đất sét, cát, đôlômit (magiê-canxi cacbonat), hematit (sắt oxit) và
anhydrit (canxi sunfat).
Trong các loại quặng kali, sylvinit là loại quặng dễ chế biến nhất.
Thông thường nó được khai thác và tinh chế với những lượng lớn để
sản xuất KCl. Các sản phẩm phụ trong quá trình khai thác, chế biến
quặng này là các muối NaCl và MgCl
2
, chúng được sử dụng làm
nguyên liệu sản xuất các hoá chất cơ bản phục vụ cho nhiều ngành
công nghiệp khác nhau.

II. THỊ TRƯỜNG CÁC SẢN PHẨM KALI
1. Lĩnh vực sử dụng
Khoảng 95% mức tiêu thụ kali trên thế giới phục vụ cho sản xuất các
loại phân bón. Phần còn lại được sử dụng để sản xuất kali hydroxit và
các hoá chất trung gian khác cho các ngành công nghiệp như sản xuất
thuỷ tinh, chất tảy rửa, chất dẻo và dược phẩm.
Kali clorua (KCl) là loại phân kali thông dụng nhất. Kali sunfat
(K
2
SO
4
) là nguồn cung cấp kali quan trọng thứ 2, và sau đó là kali &
magiê sunfat, kali nitrat, kali phốt phát, các dung dịch kali thiosunfat và
kali polysunfua. Các loại muối kali khác như kali cacbonat, kali
bicacbonat có ứng dụng hạn chế hơn.
2. Thị trường phân kali trên thế giới
Có thể thấy, trong các thập niên 1960, 1970 của thế kỷ trước tiêu thụ
phân kali đã tăng mạnh từ 8 triệu tấn lên 24 triệu tấn/năm, còn trong
các thập niên 1980 và 1990 tiêu thụ phân kali giữ ổn định ở mức
khoảng 24 triệu tấn/năm.
Trong thời gian từ năm 2000 cho đến nay, tiêu thụ phân kali giảm
xuống và ổn định ở mức khoảng 22 triệu tấn/năm.
Cụ thể, phân bố mức tiêu thụ kali tại các khu vực trên thế giới trong
thời gian 1960-2000 như sau:
Đơn vị: Triệu tấn K
2
O
Khu vực
Năm
châu
Âu
Liên
Xô cũ
Châu
Mỹ
Châu
Phi
châu
Á
Các
nước
khác
Tổng
số
1960 4,4 0,77 2,3 0,1 0,81 0,1 8,48
1970 7,34 2,57 4,65 0,23 1,25 0,25 16,29
1980 8,33 4,9 7,93 0,37 2,56 0,3 24,39
1990 6,59 5,61 6,87 0,44 5,21 0,34 24,61
1995 4,9 0,94 7,41 0,4 6,35 0,55 20,55
2000 4,2 0,74 8,12 0,44 7,91 0,74 22,15

Thị trường phân kali tại châu Á
Nhu cầu phân kali tại châu Á hiện nay khá cao và đang tăng nhanh.
Tiêu thụ phân kali trong khu vực đã tăng đến khoảng 9,1 triệu tấn (quy
theo K
2
O) trong năm 2003. Nhu cầu tại đây tăng với tốc độ cao hơn (5-
5,6%/năm) so với mức trung bình toàn thế giới (2%/năm), nhưng năm
2003 đã có bước tăng đột biến 11% so với 2002. Trong thời kỳ 1993-
1994, tiêu thụ phân kali tại châu Á mới chiếm khoảng 23 % tổng mức
tiêu thụ toàn cầu, thì đến 2004-2005 đã chiếm 37 % và dự báo sẽ tăng
đến 40% vào thời kỳ 2005-2006.
Hiện nay, Trung Quốc (TQ) là nước tiêu thụ phân kali lớn nhất ở châu
Á, chiếm 43% tổng nhu cầu tại châu lục này, tiếp theo là Ấn Độ chiếm
19 %, Malayxia chiếm 9 %. Các nước khác như Nhật Bản, Inđônêxia,
Hàn Quốc cũng tiêu thụ những lượng phân kali lớn.
TQ cũng sẽ tiếp tục là nước có mức tăng nhu cầu kali nhanh nhất ở
châu Á. Dự báo, nhu cầu phân kali của nước này trong 10 năm tới có
thể tăng gấp đôi, vì các nhà nông học đang khuyến khích nông dân tăng
cường bón phân kali để giảm sự mất cân đối do sử dụng thiên về đạm.
Tại các nước châu Á hiện cũng có xu hướng trồng các loại cây với nhu
cầu kali cao, ví dụ các cây trồng cho mục đích xuất khẩu (đặc biệt là cọ
dừa như ở Malayxia, Inđônêxia) hoặc cây lương thực (Việt Nam,
Inđônêxia).
Theo Tổ chức Nông Lương (FAO) của LHQ, dự báo nhu cầu phân kali
trên toàn thế giới sẽ tiếp tục tăng với tốc độ 2,7 triệu tấn/năm. châu Á
chiếm 60% của mức tăng trưởng này. Nếu châu Á không sản xuất thêm
phân kali thì sự mất cân đối cung cầu hiện nay sẽ ngày càng tăng - đến
năm 2008 khu vực này sẽ phải nhập gần 17 triệu tấn quặng kali /năm.
Nhìn chung, các quốc gia không có nguồn nguyên liệu kali thường vẫn
phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu về phân bón kali. Trên thực tế, hầu
như toàn bộ nhu cầu phân kali của châu Á đều được đáp ứng nhờ nhập
khẩu. Canađa, Nga và Bêlarusia chiếm 80% lượng phân kali được nhập
vào khu vực. Do phân kali phải được nhập từ những nơi xa dưới dạng
hàng rời đóng bao, nên chi phí vận chuyển khá cao. Ví dụ, tháng
12/2004 giá quặng kali tại Vancuvơ (Canađa) là 120-130 USD/tấn,
FOB, khi vận chuyển đến châu Á phải cộng thêm chi phí vận chuyển
khoảng 15-40 USD/tấn. Vì vậy, đây cũng là một trong những động lực
thúc đẩy sự phát triển của sản xuất phân kali ngay trong khu vực. Công
ty Asia Pacific Potash (hiện đang phát triển mỏ kali Udon Thani tại
Somboon, Thái Lan), cho rằng chi phí sản xuất phân kali tại Thái Lan,
cộng với chi phí vận chuyển đường sắt và đưa lên tàu thuỷ sẽ thấp hơn
50 USD/tấn.
3. Cung cầu phân kali trên thế giới
Nhìn chung, trong những năm qua và dự báo tới năm 2010 năng lực sản
xuất vẫn cao hơn so với nhu cầu tiêu thụ phân kali.
4. Thị trường phân kali tại Việt Nam
Dự báo nhu cầu phân bón KCl tại Việt Nam (tính theo hàm lượng dinh
dưỡng K
2
O) như sau :
Đơn vị: 1000 tấn
Giai đoạn
Nhu cầu chất dinh
dưỡng K
2
O
Nhu cầu
phân KCl
2001-2005 534 890
2006-2010 598 996
2011-2015 669 1115

Như vậy, theo dự báo thì vào thập niên tới nhu cầu phân bón KCl ở
nước ta sẽ vượt ngưỡng 1 triệu tấn/năm.
Tình hình nhập khẩu phân KCl của Việt Nam:
Hiện nay Việt Nam đang phải nhập khẩu toàn bộ KCl với số lượng như
sau:
Đơn vị: tấn
Năm 2000 Dự kiến năm 2005
531.000 600.000


5. Giá KCl trên thế giới và tại Việt Nam
5.1.Trên thế giới
Trong hơn 10 năm qua, giá phân KCl (loại tiêu chuẩn) xuất khẩu từ
Canađa, nước sản xuất phân kali lớn nhất thế giới, dao động ở mức
107-120 USD/tấn (FOB tại cảng Vancuvn
Tương tự các loại khoáng chất khác, giá các loại sản phẩm muối kali
cũng phụ thuộc thành phần hóa học và sự phân bố cỡ hạt của chúng.
Muối kali đạt chất lượng dùng làm phân bón được bán trên thị trường
có hàm lượng K
2
O tối thiểu 60% và được phân loại theo các dạng sau :
sản phẩm hạt to, sản phẩm hạt nhỏ, sản phẩm loại tiêu chuẩn, sản phẩm
hạt mịn. Cùng một loại quặng với thành phần hóa học như nhau, sản
phẩm hạt càng to thì giá bán càng cao.
Quy cách cỡ hạt đối với muối kali đạt chất lượng phân bón trên thị
trường thế giới :

Tỷ lệ lọt sàng (% tích luỹ)
Cỡ sàng
Tyler
(mesh)
Lỗ sàng
(mm)
Sản
phẩm
hạt to
Sản
phẩm
hạt nhỏ
Sản
phẩm
tiêu
chuẩn
Sản phẩm
hạt mịn
6 3,360 25,0 17,5
8 2,380 73,0 53,0
10 1,680 97,0 88,0 7,0
14 1,190 99,5 98,8 29,0
20 0,841 99,5 50,0 0,2
28 0,600 99,7 78,0 1,0
35 0,420 87,0 16,0
65 0,210 98,0 77,0
100 0,149 93,0

5.2. Tại Việt Nam
Giá phân kali clorua tại Việt Nam (CIF Hải Phòng) tháng 11/2003 ở
mức 141 USD/tấn và tháng 3/2004: 150-160 USD/tấn (dạng bột) và
180-190 USD/tấn (dạng hạt).
Hiện nay giá mua KCl ở mức khoảng 150 USD/tấn (FOB cảng
Vancuvơ, Canađa) và giá nhập đến Việt Nam (CIF Thành phố Hồ Chí
Minh) khoảng 210-220 USD/tấn.

III. TRỮ LƯỢNG, TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SẢN XUẤT
MUỐI KALI TRÊN THẾ GIỚI
Trong khi phân đạm có thể được sản xuất từ bất cứ nguồn nhiên liệu
hoá thạch nào và phân lân có thể được sản xuất từ quặng phôtpho được
phân bố khá rộng rãi trên thế giới, thì khả năng sản xuất phân kali
tương đối bị hạn chế, vì chỉ rất ít quốc gia có quặng chứa kali. Hiện nay,
chỉ 15 nước trên thế giới có trữ lượng quặng kali quy mô lớn và có
ngành sản xuất phân kali với sản lượng đáng kể, tập trung chủ yếu ở
châu Âu, châu Mỹ, Trung Đông. Nhưng một số nước (ví dụ Pháp) đã
khai thác gần hết trữ lượng quặng kali của mình, một số nước khác
hoặc sẽ gặp phải những trở ngại kỹ thuật nếu muốn tăng sản lượng
phân kali. Ví dụ, một số mỏ muối kali của Canađa đang gặp khó khăn
do bị ngập nước.
Trong tình hình chung hiện nay, thương mại quốc tế đối với phân kali
bị chi phối bởi 6 nước sản xuất chính, chiếm 90% công suất phân kali
toàn cầu. Đó là : Canađa, Nga, Belarus, Đức, Ixraen, Gioocđani.
Canađa và các nước Liên Xô cũ là những nước cung cấp phân kali hàng
đầu cho châu Á. Hiện tại, nước sản xuất phân kali duy nhất ở châu Á là
TQ. Nhưng Thái Lan cũng có hai mỏ kali lớn sẽ bắt đầu đi vào sản
xuất trong vài năm tới.
1. Trữ lượng kali trên thế giới
Trữ lượng quặng kali trên thế giới hiện nay được thống kê ở mức 17,8
tỉ tấn quy đổi theo K
2
O, trong đó 8,4 tỉ tấn được xác định là có khả

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét