Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Một số giải pháp nhằm tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Một số giải pháp nhằm tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước": http://123doc.vn/document/556456-mot-so-giai-phap-nham-tiep-tuc-khuyen-khich-cac-hoat-dong-dau-tu-trong-nuoc.htm


Luận văn tốt nghiệp
đầu t đòi hỏi phải đợc tích luỹ từ nhiều nguồn khác nhau và chỉ có thể là tiền
tích luỹ của xã hội, của các chủ thể kinh doanh, của phần chi cho đầu t phát
triển thuộc ngân sách Chính phủ, là tiền tiết kiệm của dân và tiền huy động từ
nớc ngoài.
Quá trình sử dụng tiền đầu t, xét về mặt bản chất, là quá trình thực hiện sự
chuyển hoá vốn bằng tiền (vốn đầu t) thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu
tố cơ bản của quá trình tái sản xuất. Đó cũng chính là quá trình hoạt động đầu t
hay quá trình đầu t vốn.
Đầu t trong nớc, theo cách diễn đạt của Luật Khuyến khích đầu t trong nớc
năm 1994 là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam của các tổ chức,
công dân Việt Nam, ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài, ngời nớc ngoài c trú lâu
dài ở Việt Nam (Điều 2 - Luật Khuyến khích đầu t trong nớc năm 1994). Luật
Khuyến khích đầu t trong nớc (sửa đổi) số 03/1998/QH10 cũng có quan niệm
về đầu t trong nớc tơng tự.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài, Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1996,
diễn đạt nh sau: "là việc nhà đầu t nớc ngoài đa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu t theo quy định của
luật này". Đối tợng của luật đầu t nớc ngoài là tổ chức kinh tế, cá nhân nớc
ngoài đầu t vào Việt Nam. Đối tợng của Luật Khuyến khích đầu t trong nớc
gồm: tổ chức, công dân Việt Nam, ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài, ngời nớc
ngoài c trú lâu dài (hay còn gọi là thờng trú) tại Việt Nam. Các đối tợng tham
gia hoạt động đầu t có yếu tố nớc ngoài thì có thể lựa chọn một trong hai Luật.
Tuỳ theo góc độ đề cập, hoạt động đầu t trong nớc có thể đợc phân theo
các tiêu thức sau:
- Theo tính chất của các đối tợng đầu t, hoạt động đầu t gồm:
+ Đầu t cho đối tợng vật chất: nhà xởng, máy móc thiết bị, công trình hạ
tầng là điều kiện tiên quyết, cơ bản làm tăng tiềm lực của nền kinh tế.
5
Luận văn tốt nghiệp
+ Đầu t cho đối tợng tài chính: mua cổ phần, cổ phiếu là điều kiện quan
trọng để thu hút mọi nguồn vốn từ mọi tầng lớp dân c cho đầu t vào các đối t-
ợng vật chất.
+ Đầu t cho đối tợng phi vật chất: tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực,. là điều
kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu t các đối tợng vật chất tiến hành thuận lợi và
đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao.
- Theo cơ cấu tái sản xuất: hoạt động đầu t gồm:
+ Đầu t theo chiều rộng: là quá trình tăng quy mô đầu t của các chủ thể
kinh doanh. Quá trình đợc xem xét ở hai góc độ: trên phạm vi nền kinh tế, đó là
việc thành lập doanh nghiệp mới; ở góc độ doanh nghiệp, đó là việc triển khai
dự án đầu t mới hoặc mở rộng quy mô của các dự án hiện có. Xét trên tổng thể,
cách thứ nhất đòi hỏi vốn lớn, thời gian thực hiện đầu t dài, vốn khê đọng lâu,
thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn phải lớn, tính chất kỹ thuật phức tạp
và độ thoả hiệp cao.
+ Đầu t theo chiều sâu: là hoạt động làm tăng nguồn lực đầu t gắn với việc
làm tăng khả năng sinh lợi của các dự án đầu t, của các doanh nghiệp. So với
cách thứ nhất, cách thức này thờng thu hút khối lợng vốn đầu t ít hơn, thời gian
thực hiện đầu t nhanh hơn, độ mạo hiểm thấp và khả năng thu hồi vốn nhanh
chóng.
- Theo quan hệ quản lý của chủ đầu t: hoạt động đầu t có thể phân thành:
+ Đầu t gián tiếp: trong đó ngời bỏ vốn không nhất thiết tham gia trực tiếp
điều hành, quản lý quá trình thực hiện và vận hành các yếu tố đầu t. Một loại
chủ thể thực hiện hình thức này có thể là các Chính phủ, thông qua các chơng
trình tài trợ không hoàn lại hoặc có hoàn lại với lãi suất thấp của mình, cung
ứng tiền hoặc nguồn lực khác cho Chính phủ của các nớc khác để các nớc đó
phát triển kinh tế xã hội, điều chỉnh cơ cấu. Một loại chủ thể khác, giữ vai trò
đặc biệt quan trọng, có khi là then chốt, là các cá nhân, tổ chức mua các loại
6
Luận văn tốt nghiệp
chứng chỉ có giá trị nh cổ phiếu, trái phiếu để hởng lợi tức (còn gọi là đầu t tài
chính).
+ Đầu t trực tiếp: ở đây ngời bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý hoặc điều
hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu t. Đầu t trực tiếp lại đợc
phân thành: đầu t chuyển dịch và đầu t phát triển.
++ Đầu t chuyển dịch là loại đầu t trong đó, ngời có tiền mua lại một số cổ
phiếu đủ lớn để nắm quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Trong trờng
hợp này, việc đầu t không làm gia tăng tài sản của doanh nghiệp, mà chỉ làm
thay đổi quyền sở hữu các cổ phần của doanh nghiệp.
++ Đầu t phát triển là loại bỏ vốn đầu t để tạo nên những năng lực sản xuất
phục vụ mới (cả về chất và lợng). Đây là loại đầu t để tái sản xuất mở rộng, là
biện pháp chủ yếu để tạo việc làm cho ngời lao động, là tiền đề để thực hiện đầu
t tài chính và đầu t chuyển dịch.
- Căn cứ vào thời gian thực hiện và thời gian phát huy tác dụng, hoạt động
đầu t có thể phân chia thành:
+ Đầu t thơng mại: là hoạt động đầu t là thời gian thực hiện đầu t và hoạt
động của các kết quả đầu t để thu hồi đủ vốn đầu t ngắn hạn, vốn vận động
nhanh, mức độ mạo hiểm thấp do trong một thời gian ngắn, tính bất động không
cao, lại dễ dự đoán và độ chính xác của dự đoán khá cao.
+ Đầu t sản xuất: Là loại đầu t dài hạn, vốn đầu t lớn, thu hồi chậm, thời
gian thực hiện đầu t lâu, độ mạo hiểm cao, vì tính chất kỹ thuật của hoạt động
đầu t phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tơng lai
không dự đoán trớc đợc hoặc chất lợng dự đoán khó chính xác (về nhu cầu, giá
cả đầu vào, cơ chế, chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự
ổn định về chính trị ). Loại đầu t này phải đợc chuẩn bị kỹ, phải cố gắng dự
đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu t trong t-
ơng lai xa, xem xét các biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xảy ra để đảm
7
Luận văn tốt nghiệp
bảo thu hồi đủ vốn và có lãi suất khi hoạt động đầu t kết thúc, khi các kết quả
đầu t đã hoạt động đến hết vòng đời của mình.
- Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu t: các hoạt động đầu t đợc
phân thành:
+ Đầu t cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định
+ Đầu t vận hành nhằm tạo ra các tài sản lu động cho các cơ sở sản xuất
kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lu động cho các cơ sở
hiện có, duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật không thuộc các
doanh nghiệp.
Trong hai loại đầu t đó thì đầu t cơ bản quyết định đầu t vận hành. Đầu t
vận hành tạo điều kiện cho các kết quả của đầu t cơ bản phát huy tác dụng.
Không có đầu t vận hành thì các kết quả của đầu t cơ bản không hoạt động đợc,
ngợc lại, không có đầu t cơ bản thì đầu t vận hành chẳng để làm gì. Đầu t cơ
bản có đặc điểm kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi vốn lớn, thời hạn thu hồi dài. Còn
đầu t vận hành chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu t, đặc điểm kỹ thuật
của quá trình thực hiện đầu t không đến nỗi phức tạp so với đầu t cơ bản và thời
gian thu hồi vốn tơng đối nhanh.
Để đảm bảo tốc độ tăng trởng của nền kinh tế ở mức cần thiết, Việt Nam
cần một lợng vốn đầu t khá lớn (thời kỳ kế hoạch 5 năm 1996-2000 vào khoảng
từ 40-42 tỷ USD), trong đó hơn một nửa là đầu t trong nớc. Nguồn vốn bên
ngoài là không thể thiếu và có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là trong thời kỳ đầu
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, khi nhu cầu đầu t rất lớn mà
nguồn tích luỹ nội địa cha đủ đáp ứng. Trớc năm 1987, trong tổng vốn huy
động cho đầu t, nguồn vốn huy động từ ngân sách Nhà nớc chiếm vị trí chủ yếu.
Từ 1988 đến nay, với chính sách mở cửa, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, nền kinh tế nớc ta đang từng bớc hoà nhập với khu vực và trên thế
giới đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta mở rộng dần diện huy động vốn
trong nớc, đồng thời thu hút thêm các nguồn vốn đầu t từ bên ngoài. Cho đến
8
Luận văn tốt nghiệp
nay, nguồn vốn cho đầu t ở nớc ta khá phong phú hơn trớc và chủ yếu đợc huy
động từ các nguồn chính:
* Vốn huy động trong nớc:
- Vốn ngân sách tập trung: đây là nguồn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với các hoạt động đầu t trong nớc. Nguồn này hiện nay chủ yếu đợc tập trung
cho đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, đầu t phát triển một số công
trình công nghiệp then chốt, bảo đảm giữ các cao điểm trong nền kinh tế quốc
dân, các công trình liên quan đến An ninh - Quốc phòng.
- Vốn của các doanh nghiệp Nhà nớc: nguồn vốn này luôn có vai trò quan
trọng rất lớn và có tác dụng trực tiếp nhất đối với tốc độ tăng trởng hàng năm
tổng sản phẩm trong nớc. Đây chính là nguồn vốn mà các chính sách kinh tế vĩ
mô xem là một đối tợng hàng đầu tác động vào nền kinh tế, có vai trò rất lớn
trực tiếp tác động tới tốc độ tăng trởng bình quân trong các năm sắp tới.
- Vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: nguồn này chủ yếu dùng
vào các định hớng đầu t phát triển chiều sâu, đổi mới công nghệ, đa dạng hoá
sản phẩm và mở rộng quy mô doanh nghiệp hiện đang hoạt động cũng nh mở
rộng thêm doanh nghiệp mới do thị trờng trong và ngoài nớc mở rộng thêm và
do xuất hiện nhu cầu mới hoặc do yêu cầu phân tán rủi ro, tăng thêm khả năng
cạnh tranh.
- Vốn tiết kiệm trong dân c: có thể nói đây là nguồn vốn khá lớn, có khả
năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động đầu t trong tơng lai nhng cha đợc tổ
chức khai thác huy động tốt. Nhiều kết quả tính toán cho thấy, nếu khoảng 40-
45% số vốn trong dân c đầu t vào sản xuất và dịch vụ thì cũng là một yếu tố
đáng kể làm lên tốc độ phát triển GDP hàng năm đáng kể của các ngành công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vu. Nếu chúng ta có chính sách huy động thoả
đáng số vốn tiết kiệm trong dân thì sẽ có khả năng tăng nhanh cả về số tuyệt đối
và tỷ trọng trong tổng số các nguồn đầu t trong nớc. Nguồn vốn tiết kiệm trong
dân c có thể coi là nền tảng của các hoạt động đầu t xét về lâu dài, là cơ sở của
việc hình thành ba tầng hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế nớc ta: tầng
9
Luận văn tốt nghiệp
hoạt động kinh doanh không phải đăng ký kinh doanh; tầng hộ kinh doanh cá
thể; tầng kinh doanh của các doanh nghiệp.
* Vốn huy động từ nớc ngoài:
- Vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA): đây là nguồn vốn do các nớc
và các tổ chức quốc tế viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay u đãi (lãi suất, thời
hạn vay ). Nguồn vốn này đợc tập trung vào ngân sách và có thể sử dụng trực
tiếp để Nhà nớc đầu t hoặc cho vay lại (nhng phải bảo đảm nguyên tắc hoàn
trả).
- Vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO). Nguồn vốn này chủ yếu dùng
vào mục đích nhân đạo, nhng cần có cơ chế thu hút thích hợp và sử dụng, có
hiệu quả hơn, đặc biệt trong việc cải thiện và phát triển các vấn đề xã hội.
- Vốn đầu t trực tiếp (FDI) của t nhân nớc ngoài: đây là nguồn vốn khá lớn
và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một mặt, nó tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ và tìm thị trờng tiêu
thụ hàng hoá ổn định trong điều kiện Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm kinh
doanh trên trờng quốc tế. Mặt khác vốn FDI gắn với trách nhiệm bảo toàn và
phát triển vốn của bên nớc ngoài đỡ đợc gánh nặng nợ nần của Chính phủ.
- Vốn của Kiều dân Việt Nam làm ăn, sinh sống ở nớc ngoài: Ngời Việt
Nam định c ở nớc ngoài nói chung không có nhiều vốn nh Kiều dân của một số
nớc khác nh Trung Quốc, nhng không phải là không có. Do đó một mặt phải
xây dựng đợc chính sách thích hợp để thu hút đầu t của họ; mặt khác cần phát
huy tiềm năng của Việt kiều làm cầu nối để thu hút vốn của các quốc gia nơi họ
sinh sống đầu t vào Việt Nam.
Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng, nếu không huy động tốt và đủ các nguồn
vốn đầu t trong nớc thì rất khó có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả những
nguồn đầu t lớn từ bên ngoài nhằm phục vụ định hớng phát triển đất nớc. Chính
vì vậy trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế theo đờng lối đổi mới của
Đảng và Nhà nớc ta hiện nay, chiến lợc lâu dài của nớc ta là tăng nhanh tiết
10
Luận văn tốt nghiệp
kiệm nội địa, huy động tối đa nguồn vốn trong nớc, nâng dần tỷ trọng vốn trong
nớc trong tổng nguồn vốn đầu t toàn xã hội.
2 - Khuyến khích đầu t trong nớc
2.1. Nhận thức
Khuyến khích đầu t trong nớc là việc sử dụng các cơ chế, chính sách, biện
pháp, nhằm kích thích quá trình đầu t các nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực,
địa bàn trên cơ sở chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong
từng thời kỳ của đất nớc.
Để khuyến khích các hoạt động đầu t trong nớc, Nhà nớc phải xây dựng,
hoàn thiện một hệ thống các công cụ pháp lý và các biện pháp kinh tế, xã hội
nhằm bảo hộ, bảo đảm đối xử bình đẳng với tất cả các chủ thể tham gia hoạt
động đầu t, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu t, quy
định thủ tục hành chính, đơn giản tiện lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu t vào các
lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội trên lãnh thổ theo những khung pháp lý cụ thể
và theo các lĩnh vực, kế hoạch xác định cụ thể.
Mục đích sự khuyến khích của Nhà nớc trong lĩnh vực đầu t là tạo cơ hội
cho các chủ thể tham gia đầu t có thể huy động và sử dụng có hiệu quả nhất các
nguồn vốn, tài nguyên, lao động tạo thêm việc làm cho xã hội, nhằm thực
hiện đờng lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đồng thời bảo hộ lợi
ích hợp pháp của nhà đầu t, của ngời góp vốn đầu t, tăng cờng hiệu quả quản lý
nhà nớc đối với các hoạt động đầu t, cải thiện ngày một tốt hơn môi trờng kinh
doanh, định hớng và tụ hội các ý đồ đầu t của các chủ thể tập trung vào các
ngành, vùng, lĩnh vực cần khuyến khích phát triển, thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng theo hớng tiến bộ. Tuy các ý đồ cụ thể có khác
nhau, song trên bình diện chung hầu hết các quốc gia đều hớng tới các mục
đích đó.
Để tạo khung pháp lý khuyến khích các hoạt động đầu t trong nớc trong
điều kiện thực thi nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
11
Luận văn tốt nghiệp
thành phần theo cơ chế thị trờng có sự quản lý và định hớng của Nhà nớc, ngày
22/6/1994 Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật khuyến khích đầu
t trong nớc (KKĐTTN). Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1995. Để h-
ớng dẫn thực hiện Luật này, ngày 12 tháng 5 năm 1995, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 29/CP quy định chi tiết thi hành Luật KKĐTTN. Đây là những
văn bản pháp luật đầu tiên ở cấp Luật và cấp Nghị định nhằm điều chỉnh các
quan hệ chủ yếu về KKĐTTN ở nớc ta. Tuy mới đợc triển khai thực hiện từ
1/1/1995, Luật KKĐTTN đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh
tế đất nớc đem lại những luận điểm, kết quả đáng mừng, góp phần thúc đẩy
đáng kể hoạt động đầu t trong nớc.
Muốn khuyến khích một hoạt động nào đó, trớc hết phải hình thành đợc ý
tởng khuyến khích. Khâu tiếp theo là phải thiết kế đợc cơ chế vận hành cụ thể
rồi tiến hành pháp lý hoá chung. Nói đến chính sách khuyến khích là nói trên
tổng thể, trên những nét khái quát nhất thuộc lĩnh vực ý tởng khuyến khích. ý t-
ởng đó có vào đợc cuộc sống hay không và mức độ chấp nhận, thái độ của đông
đảo quần chúng trong việc đón nhận ý tởng đó nh thế nào phần nhiều phụ thuộc
vào khâu thiết kế cơ chế vận hành và tính chính xác, tính khách quan của khâu
pháp lý hoá. Trong việc khuyến khích đầu t trong nớc cũng vậy, muốn đạt đợc
mục tiêu phát triển nào đó, trong những điều kiện lịch sử cụ thể thái độ khuyến
khích cần đợc xác định rõ ràng. Đây cũng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo yêu
cầu về tính nhất quán của chính sách. Khâu tiếp đến hết sức cơ bản là việc thiết
kế cơ chế vận hành của chính sách. Công việc này thờng do các nhà chuyên
môn kịp ra chính sách thực hiện dới sự chỉ đạo của các nhà chính trị. Khâu này
phải bảo đảm thoả mãn 3 yêu cầu cùng một lúc: thể hiện đợc thái độ chính trị
của nhà nớc trong việc khuyến khích, quy phạm hoá các quan hệ khuyến khích
cần điều chỉnh bằng luật pháp và cuối cùng là bảo đảm khả năng chấp nhận của
quần chúng số đông (khía cạnh tâm lý xã hội).
Thông thờng khi ý tởng chính sách khuyến khích phù hợp với lợi ích của
đại đa số quần chúng nhân dân thì có thể khâu thể chế hoá cha thực sự tốt thì
12
Luận văn tốt nghiệp
khả năng đi vào cuộc sống của chính sách vẫn có thể bảo đảm. Đó là trờng hợp
đã từng diễn ra trong đổi mới nông nghiệp Việt Nam thời kỳ "Khoán 100", và
"Khoán 10", chỉ cần Đảng có chỉ thị cho phép, cha đợi đến sự pháp lý hoá đầy
đủ của nhà nớc thì khoán nông nghiệp đã diễn ra trên diện rộng, nh một trào lu
xã hội - kinh tế không thể đảo ngợc. Tất nhiên, khi các quan hệ lợi ích ngày
càng phức tạp thêm, đa dạng hơn, muốn t tởng khuyến khích ngày càng tiếp tục
đi vào cuộc sống mà không bị khúc xạ, thì tất yếu phải làm tốt khâu thể chế
hoá. Và nói chung trong xã hội công nhân, Nhà nớc pháp quyền và kinh tế thị
trờng thì không thể làm thiếu, làm yếu khâu thể chế hoá. Sự thiếu nhạy cảm với
những vấn đề có tính nguyên tắc nh vậy trong quy trình quản lý nói chung, quản
lý bằng pháp luật nói riêng đều làm hạn chế tác dụng tích cực của chính sách
khuyến khích. Hơn nữa trong trờng hợp do chỗ những đối tợng mà Nhà nớc cần
khuyến khích trong từng thời kỳ không phải bao giờ cũng trùng hợp với nguyện
vọng của mọi ngời dân (sự lệch pha nhất định giữa lợi ích nhà nớc, lợi ích xã
hội và lợi ích của cá nhân công dân) nên nếu không có sự thể chế tốt, sát hợp thì
khó có thể sử lý hài hoà các xung đột về lợi ích có thể có khi thực hiện chính
sách khuyến khích, chính sách u đãi của Nhà nớc.
2.2. Một số nội dung hỗ trợ và u đãi chủ yếu của Luật Khuyến khích
đầu t trong nớc năm 1994
Xét về mặt thời hiệu pháp lý, quá trình thực hiện các quy định pháp lý về
khuyến khích đầu t trong nớc ở Việt Nam bao gồm hai giai đoạn chủ yếu: Một
là từ 22/6/1994, ngày Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua Luật
KKĐTTN cho đến ngày 01/01/1999 ngày có hiệu lực của Luật KKĐTTN (sửa
đổi) số 03/QH10; Hai là từ ngày 01/01/1999 đến nay. Trong thời kỳ thứ nhất
cũng có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn thực hiện Nghị định số
29/CP ngày 12/5/1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật KKĐTTN
cho đến ngày 30/01/1998 ngày mà Nghị định số 07/1998/NĐ-CP thay thế Nghị
định số 29/CP chính phủ; giai đoạn từ Nghị định 07 có hiệu lực đến ngày
01/01/1999 tức là ngày Luật KKĐTTN (sửa đổi) số 03/QH10 có hiệu lực - thực
13
Luận văn tốt nghiệp
hiện Nghị định số 51/1999/NĐ-CP- cho đến nay. Xét về mặt kỹ thuật của vấn
đề pháp lý có thể có một số điểm không giống nhau quy định tại các văn bản
quy phạm, song xét về t tởng chính sách thì những nội dung về khuyến khích,
hỗ trợ, u đãi không cách nhau quá xa. Nhiều nội dung quy định tại Luật
KKĐTTN năm 1994 đã đợc các văn bản quy phạm pháp luật sau đó hoàn thiện
và bổ sung dần. Dới đây là một số nội dung về hỗ trợ và u đãi mà Luật
KKĐTTN đề cập.
Mục đích của Luật KKĐTTN đợc xác định rõ ràng ở căn cứ ban hành
Luật. Đó là, để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyên lao
động và các tiềm năng khác của đất nớc nhằm góp phần phát triển kinh tế xã
hội, vì sự nghiệp dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Cả Luật
1994 và Luật 1998 đều quy định nh vậy. Đồng thời cả hai Luật đều khẳng định
sự bảo hộ, sự khuyến khích của Nhà nớc đối với mọi tổ chức, công dân đầu t
trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên Luật 1998 còn nói rõ và khẳng định một sự
"đối xử bình đẳng", "sự tạo điều kiện thuận lợi" của Nhà nớc đối với các chủ thể
tham gia đầu t.
2.2.1. Luật quy định ba loại hình đầu t đợc áp dụng theo Luật Khuyến
khích đầu t trong nớc bao gồm:
a - Dự án đầu t thành lập và phát triển cơ sở sản xuất kinh doanh mới thuộc
mọi thành phần kinh tế.
b - Đầu t mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh ,
nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất kinh doanh
hiện có.
c - Mua cổ phần của các doanh nghiệp, góp phần vốn vào các doanh
nghiệp, kể cả doanh nghiệp Nhà nớc đợc phép đa dạng hoá hình thức sở hữu.
2.2.2.Đối tợng khuyến khích đầu t trong nớc
Trên cơ sở đó, Nghị định 29/3 CP, Nghị định số 07/1998/NĐ-CP cụ thể
hoá các đối tợng khuyến khích đầu t của Luật KKĐTTN gồm:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét