LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động": http://123doc.vn/document/1055252-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-su-dung-von-luu-dong.htm
vốn tiền tệ có điểm xuất phát và kết thúc là giá trị- là tiền, sau một chu
kì vận động, nó phải được lớn lên và quay về nơi xuất phát với giá trị
lớn hơn.
Sự vận động của vốn bằng tiền (T) thể hiện qua ba phương thức:
• T - H… SX … H’-T’: Đây là phương thức vận động của các doanh
nghiệp sản xuất. H là hàng hoá, dịch vụ được lưu thông và thực hiện
giá trị.
• T - H - T’: là phương thức vận động vốn của các DN thương mại.
• T-T’: là phương thức vận động vốn của các tổ chức tài chính trung gian
Thông qua các phương thức vận động trên, vốn thường phải thay đổi hình
thái và nhờ đó đã tạo ra khả năng sinh lời. Khả năng sinh lời của vốn vừa là
mục đích kinh doanh, vừa là tiền vốn vận động ở chu kì tiếp theo.
Vốn phải được tập trung đến một lượng nhất định. Trong đầu tư sản xuất
kinh doanh đòi hỏi phải có môt lượng vốn nhất định mới có thể đầu tư sản
xuất kinh doanh và mang lại hiệu quả đồng thời tăng sức cạnh tranh lẫn nhau.
Vốn có giá trị về mặt thời gian. Điều này cũng có nghĩa phải xem xét về
yếu tố thời gian của đồng vốn.
Vốn phải gắn với chủ sở hữu. Mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu
nhất định và đồng vốn có xác định rõ chủ sở hữu mới được sử dụng tiết kiệm
và có hiệu quả cao.
Như vậy, từ những phân tích trên đây về pham trù vốn trong nền kinh tế
thị trường, ta có thể có đươc định nghĩa chung: Vốn đầu tư là các tài sản xã
hội được đưa vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai. Đối với
doanh nghiệp, căn cứ vào mục đích kinh doanh thì vốn đầu tư đồng nghĩa với
5
vốn kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài
sản được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Tuỳ từng loại hình
doanh nghiệp mà quy mô vốn kinh doanh, cơ cấu thành phần của chúng cũng
khác nhau. Tuy nhiên nếu căn cứ vào nội dung kinh tế thì vốn kinh doanh của
một doanh nghiệp sản xuất thông thường bao gồm 3 thành phần là: Vốn cố
định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính.
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bô phận của vốn đầu tư ứng trước
về tài sản cố định.Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài
sản lưu động và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất của
doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.
Một bộ phận của vốn kinh doanh của doanh nghiệp được đầu tư ngắn hạn
và dài hạn ra bên ngoài nhằm mục đích sinh lời gọi là vốn đầu tư tài chính của
doanh nghiệp.
1.1.2 Vốn lưu động và đặc điểm luân chuyển vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các tư liệu lao động, DN cần có
các đối tượng lao động. Khác với các tư liệu lao động, đối tượng lao động
(như nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm …) chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được
chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm.
Những đối tượng lao động nói trên, nếu xét về hình thái hiện vật được
gọi là các tài sản lưu động(TSLĐ).Trong doanh nghiệp, người ta thường chia
TSLĐ thành hai loại: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất bao gồm các tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như nguyên,
nhiên, vật liệu; phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang…đang
6
trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc sản xuất, chế biến.
TSLĐ lưu thông của doanh nghiệp gồm các sản phẩm hàng hoá chờ tiêu
thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí
chờ kết chuyển, chi phí trả trước…
Trong quá trình SXKD, các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận
động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành liên tục.
Để hình thành nên các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông, doanh
nghiêp phải bỏ ra một lượng vốn đầu nhất định để đầu tư vào các tài sản ấy.Vì
vậy có thể nói: VLĐ của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư,
mua sắm các TSLĐ của doanh nghịêp.
Như vậy VLĐ là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ, nên đặc điểm vận động
của VLĐ luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của TSLĐ của doanh
nghiệp.VLĐ có các đặc điểm sau:
• VLĐ của doanh nghiêp không ngừng vận động chuyển hoá từ hình thái
vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vât tư hàng hoá dự trữ và vốn
sản xuât rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ ban đầu thông qua
các giai đoạn của chu kì kinh doanh: Dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu
thông.
• VLĐ vận động liên tục, thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi
là chu kỳ tuần hoàn, chu chuyển của VLĐ.
• Giá trị của VLĐ được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản
phẩm, hàng hoá và được bù đắp khi kết thúc một quá trình SXKD
• VLĐ chỉ tham gia một lần vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn
thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ SXKD
7
1.1.3 Phân loại và kết cấu vốn lưu động
1.1.3.1 Phân loại VLĐ
Để quản lý, sử dụng VLĐ có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại VLĐ
của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Có nhiều cách phân loại
VLĐ, mỗi cách có những tác dụng riêng nhằm giúp cho các nhà quản trị tài
chính DN đánh giá được tình hình tổ chức, quản lý, sử dụng VLĐ của DN từ
đó đề ra những biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của DN
mình.Thông thường có những cách phân loại sau đây:
*Phân loại theo vai trò của VLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này VLĐ có thể chia thành 3 loại sau:
• VLĐ trong quá trình dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các loại nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế,
công cụ, dụng cụ.
• VLĐ trong khâu sản xuất: Bao gồm giá trị sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
• VLĐ trong khâu lưu thông: Bao gồm các loại giá trị thành phẩm, vốn
bằng tiền (kể cả vàng, bạc, đá quý…); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn
(đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…); các khoản thế
chấp, ky cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán ( các
khoản phải thu, các khoản tạm ứng ).
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của VLĐ trong từng
khâu của quá trình SXKD từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu VLĐ hợp lý
sao cho có có hiệu quả sử dụng cao nhất.
*Phân loại theo hình thái biểu hiện
8
Theo cách phân loại này VLĐ có thể chia làm 2 loại:
• Vốn vật tư, hàng hoá: Là các khoản VLĐ có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm thành phẩm…
• Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn bàng tiền như tiền mặt tồn
quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu
tư chứng khoán ngắn hạn.
Cách phân loại này giúp cho các DN xem xét, đánh giá mức tồn kho dự
trữ và khả năng thanh toán của DN.
*Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn
Theo cách này người ta chia VLĐ thành 2 loại:
• Vốn chủ sở hữu: Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của DN, DN có đầy
đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối, định đoạt. Tuỳ theo loại
hình DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu
có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; Vốn
do chủ DN tư nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần; vốn
góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung
từ lợi nhuận doanh nghịêp…
• Các khoản nợ: Là các khoản VLĐ được hình thành từ vốn vay các ngân
hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua
phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. DN
chỉ có thể sử dụng trong một thời gian nhất định.
Cách phân loại này cho thấy VLĐ của DN được hình thành bằng vốn của
bản thân DN hay từ các khoản nợ.Từ đó có các quyết định trong huy động
quản lý sử dụng VLĐ hợp lý hơn, đảm bảo an ninh sử dụng vốn của DN.
9
*Phân loại theo nguồn hình thành
Nếu xét theo nguồn hình thành VLĐ có thể chia thành các nguồn sau:
• Nguồn vốn điều lệ: Là số VLĐ được hình thành từ nguồn vốn điều lệ
ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình
sản xuất kinh doanh của DN
• Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do DN tự bổ sung trong quá trình
SXKD từ lợi nhuận của DN được tái đầu tư.
• Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số VLĐ được hình thành từ vốn góp
liên doanh của các bên tham gia DN liên doanh.Vốn góp liên doanh có
thể là tiền mặt hoặc hiện vật là vật tư, hàng hoá… theo thoả thuận của
các bên liên doanh.
• Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc các tổ
chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong DN, vay các DN
khác.
• Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu,
trái phiếu.
Việc phân chia VLĐ theo nguồn hình thành giúp cho DN thấy được cơ
cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu VLĐ trong kinh doanh của mình.Từ góc độ
quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó DN
cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để hạ thấp chi phí sử dụng vốn của
mình.
1.1.3.2 Kết cấu VLĐ và các nhân tố ảnh hưởng
* Kết cấu VLĐ
Từ các cách phân loại trên DN có thể xác định được kết cấu VLĐ của
10
mình theo những tiêu thức khác nhau.Kết cấu VLĐ phản ánh thành phần và
mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng số VLĐ của DN.
Ở các DN khác nhau thì kết cấu VLĐ cũng không giống nhau.Việc phân
tích kết cấu VLĐ của DN theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp các
DN hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng vế số VLĐ mà mình đang quản lý, sử
dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLĐ một cách
có hiệu quả phù hợp với điều kiện cụ thể của DN. Mặt khác, thông qua việc
thay đổi kết cấu VLĐ của mỗi DN trong từng thời kỳ khác nhau có thể thấy
được những sự biến đổi tích cực hoặc hạn chế về mặt chất lượng trong công
tác quản lý VLĐ của từng DN.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu VLĐ
Các nhân tố ảnh hương đến kết cấu VLĐ của DN có nhiều loại.Có thể
chia làm 3 nhóm chính sau:
• Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: Khoảng cách giữa DN với nơi
cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối
lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đạc điểm thời vụ của
chủng loại vật tư cung cấp.
• Các nhân tố về mặt sản xuất như: Đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản
xuất của DN; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ
sản xuất; trình độ tổ chức của quá trình sản xuất.
• Các nhân tố về mặt thanh toán như: Phương thức thanh toán được lựa
chọn; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật thanh toán giữa các
DN.
11
1.2 Vai trò vốn lưu động
1.1.4 Vai trò của quản lý VLĐ và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả
sử dụng VLĐ đối với các doanh nghiệp
Mọi doanh nghiệp khi tiến hành SXKD đều phải có một lượng vốn nhất
định, không có vốn sẽ không có bất kì một hoạt động SXKD nào.Vấn đề là ở
chỗ DN “lấy” vốn từ những nguồn nào, chi phí ra làm sao và quản lý sử dụng
vốn như thế nào để có thể đảm bảo cho hoạt động SXKD có hiệu quả mới là
nhân tố quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của DN.Với ý nghiă đó,
việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD nói chung và VLĐ nói
riêng là một nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý tài chính DN.
Để có thể quản lý tốt và nâng cao được hiệu qủa sử dụng VLĐ,trước hết
ta phải hiểu được quản lý VLĐ như thế nào được coi là có hiệu quả.Quan
niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng VLĐ có thể được hiểu trên hai khía
cạnh sau:
• Một là: với số VLĐ hiện có, DN có thể sản xuất thêm một lượng sản
phẩm với với chất lượng tốt hơn, với giá thành hạ để tăng doanh thu,
tăng thêm lợi nhuận cho DN.
• Hai là: đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản
xuất để tăng doanh thu tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng của lợi
nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn.
Hai khía cạnh trên đây cũng chính là mục tiêu cần đạt tới trong công tác
quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nói chung và VLĐ nói riêng của mọi DN
Trước đây trong cơ chế bao cấp, các DN quốc doanh được nhà nước bao
cấp vốn hoặc cho vay với lãi xuất ưu đãi, bao cấp về giá, SXKD theo chỉ tiêu
pháp lệnh, lỗ đã có nhà nước bù, lãi nhà nước thu…Hệ quả là công tác quản
12
lý sử dụng vốn trong các DN dã không được quan tâm đúng mức, vai trò của
vốn bi xem nhẹ dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Chuyển sang cơ chế thị trường, cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận buộc
DN phải mở rộng hoạt động SXKD của mình và do đó nhu cầu về vốn kinh
doanh nói chung và VLĐ nói riêng ngày càng trở nên cấp bách hơn bao giờ
hết. Trong khi đó các DN không còn được bao cấp về vốn nữa, phải tự tìm
nguồn tài trợ vốn, tự trang trải chi phí và đảm bảo kinh doanh có lãi.Thực tế
này đã đặt ra nhu cầu cấp thiết cho DN phải tìm mọi biện pháp để nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và VLĐ nói riêng vì nếu sử dụng
đồng vốn không có hiệu quả, không làm cho nó sinh lời thì sẽ dẫn đến tình
trạng doanh nghiệp bị ăn mòn vốn, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và sẽ
phá sản.
Việc tổ chức, quản lý sử dụng tốt VLĐ sẽ mang lại hiệu quả cho doanh
nghiệp, điều này thể hiện ở các mặt sau:
• Thứ nhất: Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích
hợp sẽ giảm được một khoản chi phí sử dụng vốn không cần thiết, do
đó tác động rất lớn đến việc tăng lợi nhuận của DN .
• Thứ hai: DN sử dụng VLĐ huy động được một cách hợp lý, tiết kiệm
sẽ tác động tích cực đến việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm, tiết kiệm các chi phí về bảo quản đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản
phẩm và thanh toán công nợ một cách kịp thời. Điều này có ý nghĩa rất
quan trọng, nó không chỉ giúp DN phát huy được tính chủ động trong
sản xuất, kinh doanh mà còn giúp DN chớp được thời cơ, tạo được lợi
thế trong kinh doanh.
• Thứ ba: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và hiệu quả sử
dụng VLĐ nói riêng còn là “thước đo” để đánh giá tính hữu hiệu của
13
những biện pháp kỹ thuật cũng như những cố gắng trong tổ chức quản
lý nhằm thúc đẩy DN phát triển. Hiệu quả sử dụng vốn ngày càng cao
có nghĩa là VLĐ được thu hồi nhanh, rút ngắn thời gian chu chuyển từ
đó giảm bớt được số lượng VLĐ cần thiết mà vẫn hoàn thành khối
lượng sản phẩm hàng hoá hoặc cùng với số lượng VLĐ hiện có, DN
sản xuất được nhiều sản phẩm hơn từ đó góp phần làm tăng doanh thu,
và cuối cùng tăng lợi nhuận. Đây cũng là mục tiêu mà tất cả các DN
đều hướng tới.
Tóm lại, tổ chức quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ một bộ phận trọng
yếu trong công tác quản lý tài chính và là một trong những vấn đề quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
1.1.5.1 Tốc độ luân chuyển VLĐ
Việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm VLĐ trước hết thể hiện ở tốc độ luân
chuyển VLĐ là nhanh hay là chậm.VLĐ luân chuyển ngày càng nhanh thì
hiệu suất sử dụng VLĐ ngày càng cao và ngược lại.Tốc độ luân chuyển của
VLĐ có thể được đo bằng hai chỉ tiêu: Số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển
vốn.
• Số lần luân chuyển VLĐ phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện
trong một thời kỳ nhất định (thường tính là một năm).Công thức tính
toán như sau:
ldV
M
L =
Trong đó:
L : Số lần luân chuyển (số vòng quay) của VLĐ trong năm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét