Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Tài liệu Đề tài “Cảm hứng nhân văn trong ba vở hài kịch Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai, Người lái buôn thành Vơnidơ của Sêcxpia” pdf


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Đề tài “Cảm hứng nhân văn trong ba vở hài kịch Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai, Người lái buôn thành Vơnidơ của Sêcxpia” pdf": http://123doc.vn/document/1050436-tai-lieu-de-tai-cam-hung-nhan-van-trong-ba-vo-hai-kich-giac-mong-dem-he-dem-thu-muoi-hai-nguoi-lai-buon-thanh-vonido-cua-secxpia-pdf.htm


người cảm nhận cuộc sống này rất vui, rất đáng sống. Từ những điều tâm đắc cùng với sự
giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ hướng dẫn người viết đã chọn đề tài: “Cảm hứng nhân văn
trong ba vở hài kịch Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai, Người lái buôn thành Vơnidơ
của Sêcxpia” qua đề tài này người viết hi vọng sẽ tích lũy được nhiều kiến thức quý báu khi
có dịp tìm hiểu cuộc đời và tác phẩm của Sêcxpia một cách công phu và hệ thống. Bên cạnh
đó, khi tiến hành nghiên cứu đề tài trên người viết còn học hỏi được những giá trị nhân văn
được tác giả gửi gắm trong ba tác phẩm và có được kinh nghiệm trong qua trình nghiên một
đề tài khoa học.
Do năng lực và thời gian có hạn, sự tìm tòi và nghiên cứu của người viết trong khi thực hiện
đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Mong thầy cô và các bạn giúp đỡ
điều chỉnh cho những sai sót mắc phải của người viết, để luận văn được hoàn chỉnh.
2. Lịch sử vấn đề
Sêchxpia được thế giới tôn vinh là nhà soạn kịch thiên tài, một trong những con người
khổng lồ của thời đại Phục hưng. Bởi vì trong khoảng 20 năm cầm bút ông đã để lại cho đời
những kiệt tác bất hữu có cả bi kịch, hài kịch và kịch lịch sử. Thế nhưng theo quá trình tìm
hiểu và nghiên cứu của người viết thì đa số các nhà nghiên cứu đều tập trung vào thể loại bi
kịch. Vì thế các bài nghiên cứu về thể loại hài kịch còn tương đối ít. Chính vì thế người viết
đã chọn đề tài: “cảm hứng nhân văn trong ba vở hài kịch Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười
hai, Người lái buôn thành Vơnidơ” để góp phần khẳng định giá trị tư tưởng trong tác phẩm
hài kịch của Sêchxpia; đồng thời góp phần làm phong phú thêm các đề tài nghiên cứu về hài
kịch của ông. Trong điều kiện nghiên cứu của mình người viết đã thu thập được một số tài
liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau:
Công trình đầu tiên phải kể đến quyển “Lịch sử văn học Phương Tây”,tập 1 của nhóm tác
giả Trần Duy Châu - Nguyễn Văn Khỏa - Lương Duy Trung – Nguyễn Trung Hiếu – Phùng
Văn Tửu, Nxb Giáo dục, 1979. Trong quyển này các tác giả cho chúng ta nhiều thông tin
quý báu về Sêchxpia và về những vở kịch của ông. Nhóm tác giả trên còn cho thấy được cái
nhìn bao quát về điều kiện lịch sử Anh, tiểu sử tác giả cùng với các giai đoạn sáng tác của
ông và đặc điểm của từng thể loại kịch mà ông sáng tác như:bi kịch, hài kịch, kịch lịch sử.
Nhóm các tác giả nêu lên những nhận định về hài kịch của Sêchxpia như sau: “Tiếng cười ở
đây chính là thoát lên từ cái không khí lạc quan, yêu đời của thời đại Phục hưng. Đề tài của
những vở hài kịch này thường xoay quanh câu chuyện tình yêu giữa những đôi nam nữ.
Thông qua đề tài đó, Sêchxpia lên án những gì phản lại tự nhiên, cổ hữu, áp chế con
người, nghĩa là những luân lý đạo đức, những thành kiến cũ của chế độ phong kiến. Đồng
thời, cũng qua những vở hài kịch này, Sêchxpia lên tiếng tố cáo xã hội tư bản, cái xã hội
trong đó đồng tiền đã chế ngự tất cả mọi giá trị vật chất và tinh thần, đè nặng lên số phận
của con người như một định mệnh.” [3; tr.117]. Bên cạnh đó nhóm tác giả còn chứng minh
cho những nhận định trên qua ba vở hài kịch: Đêm thứ mười hai và Giấc mộng đêm hè
nhóm tác giả nhận định Sêchxpia viết hai tác phẩm trên để thể hiện “Sự chiến thắng của
tình yêu và lòng chung thủy”.[3; tr.118]Còn trong vở Người lái buôn thànhVơnidơ các tác
giả nhận định: “Là vở hài kịch có ý nghĩa nhất trong giai đoạn sáng tác này. Ở đây vang lên
gay gắt lời tố cáo đồng tiền, thói tàn nhẫn và nền pháp lý bên vực cho quyền tư hữu của xã
hội tư bản. Ở đây là sự chiến thắng vẻ vang của tình yêu, tình bạn, của chính nghĩa và của
lòng nhân đạo.” [3; tr.118-119]. Tất cả những lời nhận định trên của nhóm tác giả đã cho
thấy tác phẩm của Sêchxpia đầy tính nhân văn và những điều nói trên người viết sẽ tập
trung làm sáng rõ ở phần nội dung chính của đề tài.
Kế đến là quyển “Văn học Phương Tây” của nhóm tác giả Đặng Anh Đào - Hoàng Nhân
- Lương Duy Trung - Nguyễn Đức Nam - Nguyễn Thị Hoàng - Nguyễn Văn Chính - Phùng
Văn Tửu, “Văn học Phương Tây”, Nxb Giáo dục, 1997 cũng là nguồn tài liệu quý báu giúp
cho chúng ta có một cái nhìn khái quát về Sêchxpia và tác phẩm của ông. Các tác giả của
quyển này đã cho chúng ta cái nhìn tổng quát về thời đại của ông đang sống, về cuộc đời và
các giai đoạn sáng tác của ông. Một điều quan trọng nữa là trong quyển sách này các tác giả
còn thêm các nhận định, đánh giá, khẳng định giá trị sáng tác của Sêchxpia cũng như những
cống hiến to lớn của ông đối với nền sân khâu thế giới. Đặc biệt là ở thể loại hài kịch các tác
giả có nhận xét về hài kịch của Sêchxpia nói chung và ba vở hài kịch trên nói riêng như sau:
“Sêchxpia viết hài kịch nhằm trước hết là mua vui cho công chúng nước Anh thời bấy giờ.
Xuyên suốt các vở hài kịch của ông là chủ đề tình yêu đôi lứa. Hài kịch của ông khẳng định
rằng tình yêu là chất men cuộc sống, là hạnh phúc tuyệt vời trên trần thế này. Tình yêu giúp
con người thêm thông minh, sáng suốt, dũng cảm. Nó là nguồn sức mạnh có khả năng chiến
thắng tất cả những gì và tất cả những ai chống lại nó, chống lại con người” [5; tr.203]. Lời
nhận xét trên cho chúng ta thấy Sêchxpia viết hài kịch không chỉ đơn thuần là để mua vui
cho khán giả mà nó còn ca ngợi tình cảm riêng tư của con người đó là tình yêu. Đồng thời
tác giả còn khẳng định tình yêu sẽ là nguồn sức mạnh to lớn giúp con người chiến thắng tất
cả những thế lực phản tiến bộ. Đây là một trong những tư tưởng mang đậm giá trị nhân văn
của tác giả sẽ được người viết làm rõ ở phần nội dung chính của đề tài. Bên cạnh đó, nhóm
tác giả trên còn chỉ ra điểm nổi bật về nghệ thuật trong các vở hài kịch của Sêchxpia đó là
“Tính hiện thực kết hợp với tính lãng mạn bay bổng. Giới nghiên cứu coi Sêchxpia là người
sáng tạo ra hài kịch “lãng mạn” và thường lấy các vở Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười
hai làm dẫn chứng nhưng chất lãng mạn, chất thơ ấy không chỉ có ở hai vở kịch này. Nó
có ở hầu hết ở các vở hài kịch của Sêchxpia, chỉ khác ở độ đậm nhạt” [5; tr.204]. Điều này
người viết sẽ tập trung làm sáng rõ ở phần phân tích những đặc sắc nghệ thuật của ba tác
phẩm: Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai, Người lái buôn thành Vơnidơ.
Cùng với hai quyển sách trên thì quyển “Tuyển tập tác phẩm William Shakespeare”,
Nxb Sân khấu trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây cũng cho người viết có hiểu biết sáng
rõ hơn về thời đại tác giả sống, con người, quá trình sáng tác các vở kịch, tư tưởng, nghệ
thuật và phong cách của Sêcxpia. Trong quyển sách này các tác giả có lời nhận định về hài
kịch của ông như sau: “Nhưng thử hỏi ở đâu mà cuộc sống tưng bừng, mà con người thoải
mái, mà cái cười hồn nhiên, đắc thắng như trong các vở hài kịch của Sêcxpia? ở đâu có con
người tự hào khoan khoái, tin vào tương lai, tin vào mình như trong trong Những bà vợ vui
vẻ ở Uynxo, Giấc mộng đêm hè. Ở đâu cái không khí trong sáng tươi mát như trong Đêm
thứ mười hai. Điều mới mẻ mà Sêcxpia đem đến cho chúng ta là cuộc đời này rất vui và
đáng sống, dù cho tạm thời cái vui phải nhường bước trước thực tế xấu xa, nhưng cái vui,
cái đẹp không bao giờ chết được. Chính quan niệm này đã sản sinh ra một phương pháp
nghệ thuật mới của ông là phối hợp cái vui với cái buồn trong những vở kịch buồn thảm
nhất. Đây không phải là “gượng cười”, “đổi sầu làm vui”, hay “tìm cái vui để lẩn tránh
cái thực tế xấu xa trong cuộc sống”. Cái vui này xuất phát từ chính nghĩa, từ lẽ sống, không
phải từ một cách “ngụy biện”để lừa dối mình.” [7; tr.24]. Với lời nhận xét trên các tác giả
cho chúng ta thấy trong các vở hài kịch của Sêcxpia chứa đựng nội dung lớn của chủ nghĩa
nhân văn đó là ca ngợi và khẳng định cuộc sống nơi trần thế. Điều đó chứng tỏ Sêcxpia có
sự tiếp thu tư tưởng cao đẹp của chủ nghĩa nhân văn và những tư tưởng đó đã tạo nên nguồn
cảm hứng mãnh liệt để ông viết thành công các vở hài kịch. Bên cạnh đó, nhóm tác giả còn
nhận xét thêm về nghệ thuật của các vở hài kich “Khung cảnh quen thuộc của hài kịch là
“nước Anh xanh tươi”với những đồng cỏ, những cánh rừng, với những con người sống để
mà yêu bất chấp uy quyền cha mẹ, như trong Giấc mộng đêm hè, Tùy theo ý muốn. Tình yêu
của họ tuy bị trắc trở nhưng cuối cùng họ đều được toại nguyện. Chính vì vậy, hài kịch của
ông rất phong phú tính trữ tình và rất lôi cuốn, nên thơ.” [7; tr.18]. Trong quyển sách này
các tác giả còn cho chúng ta biết thêm về những chủ đề chính trong các vở hài kịch của ông:
“Chủ đề của hài kịch là ca ngợi sự thắng thế của tư tưởng nhân đạo đối với những thành
kiến Trung cổ. Đó là lời ca ngợi sự xuất hiện của con người mới, tự do, sung sướng. Bên
cạnh việc ca ngợi sự đắc thắng của tư tưởng nhân đạo, việc chế nhạo cảnh tan rã của chế
độ phong kiến phân quyền cũng là một chủ đề của hài kịch.” [7; tr.18]
Tóm lại, trên đây là những ý kiến, nhận định mà người viết thu thập được trong quá trình
nghiên cứu tài liệu. Tuy đây chỉ là những nhận định mang tính tổng quát, chưa đi sâu vào
phân tích, trình bày, hoặc chứng minh cụ thể vấn đề nhưng nó sẽ là những định hướng quan
trọng trong quá trình triển khai đề tài của người viết.
3. Mục đích yêu cầu
Đề tài: “Cảm hứng nhân văn qua ba vở hài kịch Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai,
Người lái buôn thành Vơnidơ của Sêchxpia”đã đặt ra cho người viết những yêu cầu sau:
Một là: tìm hiểu về thời đại phục hưng và tư tưởng trung tâm của thời đại là chủ nghĩa
nhân văn. Để biết được cơ sở tư tưởng tạo nên cảm hứng cho Sêcxpia viết ba vở hài kịch
Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai, Người lái buôn thành Vơnidơ.
Hai là: tìm hiểu về ba vở hài kịch trên để nắm được nội dung cốt lõi của ba vở hài kịch.
Ba là: tìm hiểu những biểu hiện cụ thể của “Cảm hứng nhân văn” qua ba vở hài kịch Giấc
mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai, Người lái buôn thành Vơnidơ là cảm hứng ca ngợi và phê
phán. Cảm hứng ca ngợi được biểu hiện qua ba yếu tố: ca ngợi vẻ đẹp của con người, ca
ngợi những khát vọng cao đẹp của con người, ca ngợi cuộc sống nơi trần thế. Cảm hứng phê
phán được biểu hiện qua việc phê phán xã hội phong kiến đang trên đà suy tàn và phê phán
những mặt trái của xã hội thời tích lũy nguyên thủy tư bản.
Bốn là: tìm hiểu những nghệ thuật đặc sắc được tác giả sử dụng trong ba vở hài kịch để từ
đó thấy được giá trị cả về nội dung và hình thức của tác phẩm.
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Sêcxpia đã để lại cho nền văn học thế giới nhiều kiệt tác
văn chương tuyệt vời nhưng ở bài viết này người viết chỉ tập trung nghiên cứu ba vở hài
kịch tiêu biểu của ông là: Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai, Người lái buôn thành
Vơnidơ. Bên cạnh đó, người viết còn tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến đề tài và các tài
liệu nói về thời đại Phục Hưng ở Châu Âu và ở Anh.
Phạm vi đề tài là: người viết sẽ tập trung vào tìm hiểu các biểu hiện của “Cảm hứng nhân
văn” và những nghệ thuật đặc sắc trong ba vở hài kịch trên. Sau đó, người viết sẽ tiến hành
phân tích, đánh giá, tổng hợp các biểu hiện đó và sử dụng cơ sở dữ liệu trong ba vở hài kịch
để chứng minh cho những điều trên.
5. phương pháp nghiên cứu
Trong quá tình thực hiện đề tài “Cảm hứng nhân văn trong ba vở hài kịch Giấc mộng đêm
hè, Đêm thứ mười hai, Người lái buôn thành Vơnidơ của Sêchxpia” người viết sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau:
Trước hết, người viết tập hợp tài liệu: văn bản của ba vở hài kịch và những tài liệu có liên
quan đến đề tài.
Kế đến là tập hợp những ý kiến của các nhà nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề có liên
quan tới đề tài làm cơ sở và định hướng cho người viết trong việc nghiên cứu. Sau đó bổ
sung những phát hiện mới trong quá trình nghiên cứu của người viết để luận văn được tốt
hơn.
Sau khi tổng hợp tài liệu và tổng hợp các ý kiến cũng như đã tham khảo qua đề tài người
viết tiến hành các bước như sau:
6. Lập dàn ý đại cương
7. Lập dàn ý chi tiết
8. Viết bản thảo
9. Đọc sửa chữa, hoàn chỉnh bài viết
Một thao tác xuyên suốt trong quá trình thực hiện đề tài này là phần phân tích những biểu
hiện của: “Cảm hứng nhân văn” trong ba vở hài kịch Giấc mộng đêm hè, Đêm thứ mười hai,
Người lái buôn thành Vơnidơ và những nghệ thuật đặc sắc của ba vở hài kịch. Như vậy, để
hoàn thành đề tài này người viết đã sử dụng các thao tác như: tổng hợp, phân tích, chứng
minh, diễn dịch, quy nạp đó là con đường giúp người viết tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 THỜI ĐẠI
1.1.1 Bối cảnh lịch sử:
Trong hai thế kỉ XV, XVI, ở Châu Âu đã dấy lên một cuộc vận động tư tưởng và văn hóa
mới rất mực hào hứng và quyết liệt. Mở ra một thời đại mới đó là thời đại Phục Hưng. Đầu
tiên, ngọn gió mới thổi lên từ đất Italia. Tiếp đó nó lan rộng ra các nước ở Tây Âu và Trung
Âu. Trong đó, nước Anh bước vào thời kì Phục Hưng muộn hơn so với Italia và một số
nước Tây Âu, trong hai thế kỉ XV và XVI lại bị hai cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề về
kinh tế và chịu sự chia rẻ sâu sắc. Cuộc khủng hoảng chính trị của xã hội phong kiến đạt
đến đỉnh cao trong cuộc nội chiến của các hầu tước phong kiến. Người ta gọi nội chiến đó là
cuộc chiến tranh “Hai hoa hồng” (1445-1485). Hai tập đoàn phong kiến York và Lencaxtơ
tranh giành quyền thống trị, cuối cùng cả hai cùng kiệt sức. Họ Tiudo lên nắm chính quyền.
Từ cuối thế kỉ XV trở đi, Anh mới có thể chăm lo cho đến việc khôi phục và phát triển kinh
tế, mở mang văn hóa.
Có thể nói, dưới triều đại Tiuđo đầu tiên, nước Anh đã phát triển mạnh mẽ về chính trị và
kinh tế xã hội. Những bước tiến này rất lớn mạnh đến cần thiết chuẩn bị đưa nước Anh đến
một hình thái kinh tế mới (Tư bản chủ nghĩa). Cùng với xu thế lịch sử chung ở Tây Âu bấy
giờ là tiến lên CNTB, nước Anh cũng tiến lên theo xu hướng đó.Từ thế kỉ XVI trở đi nó
nhanh chống đuổi kịp rồi vượt lên những nước đi trước nó. Quan hệ sản xuất TBCN từng
bước được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở miền Nam nước Anh. Công thương nghiệp ở
đây vốn dĩ đã có truyền thống. Mặt hàng chủ yếu để xuất khẩu của Anh lúc này là len dạ, vì
vậy phải phát triển mạnh chăn nuôi cừu. Bọn địa chủ mới ở Anh được chính quyền nhà vua
hỗ trợ bằng các đạo lực cho phép rào đất cướp ruộng của hàng vạn nông dân ra khỏi làng
mạc, nhà của, ruộng đất của họ, biến những nơi đó thành những bãi cỏ nuôi cừu. Các đạo
luật khoanh điền đẫm máu đã đẩy hàng vạn nông dân phải đi lanh thang kiếm ăn.Và để biến
những người nông dân bị phá sản đó thành nhân công rẻ mạt cho các xí nghiệp công trường,
chính quyền ban bố đạo luật “Cấm lang thang” với hình thức phạt rất tàn ác. Bị bắt lần đầu
thì bị đóng dấu bằng sắc nung đỏ lên bả vai rồi đuổi về nguyên quán. Nếu tái phạm thì bị
chặt đầu hoặc treo cổ. Kết quả là dưới triều đại của Hen-ri VIII, có đến 72000 nông dân bị
xử tử sau khi đã bị đuổi ra khỏi nhà của ruộng đất của mình Đây là giai đoạn Tô-mat Mô-
rơ đã tố cáo “Cừu nuốt sống cả người ”.
Chính vì thế, ở thời kì này có rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra. Đặc biệt quan
trọng là cuộc khởi nghĩa 1607 lôi cuốn hầu như cả miền Trung nước Anh. Các cuộc khởi
nghĩa này đều bị dìm trong máu lửa. Có thể nói rằng nước Anh thời Sêcxpia tua tủa những
thớt chặt đầu và những giá treo cổ.
Thợ thủ công cũng khốn khổ không kém. Họ bị bòn rút đến kiệt sức trong các hầm mỏ,
công trình, xí nghiệp. Ngày làm việc không có giới hạn, thường từ 12 đến 14 giờ với tiền
công rẻ mạt nữ giới tiền lương ít hơn nam giới. Chính vì thế mà các cuộc khởi nghĩa của
nông dân thường được hỗ trợ và liên kết của thợ thủ công.
Tư sản mới cùng với lớp quý tộc mới được chính quyền nhà vua giúp đỡ đã đền đáp công
ơn bằng cách ủng hộ chính quyền này chống bọn lãnh chúa phong kiến nhằm thống nhất
quốc gia, thực hiện việc thống nhất thị trường trong nước và bành trướng thế lực ra bên
ngoài. Kết quả là nước Anh đã trở thành một quốc gia thống nhất về chính trị, kinh tế dưới
triều đại Tuiđo. Đến thời nữ hoàng Êlizabet, đã trở thành một cường quốc cạnh tranh với
Tây Ban Nha là nước mạnh nhất lúc bấy giờ. Sau chiến thắng hạm đội “Acmađa vô địch”
của Tây Ban Nha (1558), Anh thành bá chủ mặt biển. Việc giao thông buôn bán với các
nước, việc tìm kiếm thị trường mới và thuộc địa của Anh bấy giờ ngày càng được đẩy
mạnh.
Các sử gia tư sản Anh thường ca ngợi thời kì nữ hoàng Êlizabet I là “thời kì nước Anh vui
vẻ”. Khách quan mà nói đó là thời nước Anh trở thành cường quốc số một ở Châu Âu đang
ra sức bành trướng thế lực của nó. Hạm đội Anh dẫn đường các thương thuyền giông buồm
đến các thị trường ở Châu Mĩ rồi Châu Á, Châu Phi để xâm chiếm thuộc địa và kiếm thị
trường buôn bán mới. Vàng bạc và của cải của các nước như Tây Ban Nha, Bố Đào Nha,
cướp được ở Châu Mĩ, trên đường về, một phần đáng kể đã bị hạm đội Anh cướp lại. Thị
trường trong nước Anh nhờ hoạt động thương mại kích thích lúc này cũng phát triển mạnh
tạo bộ mặt phồn vinh cho đất nước. Đô thị ngày càng tập trung sầm uất. Luân Đôn kinh đô
của nước Anh chẳng những là một trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của cả nước mà còn
là một trung tâm văn minh của Châu Âu nữa. Triết học, khoa học kĩ thuật, văn học, và nghệ
thuật nước này Anh lúc này phát triển mạnh vượt lên chiếm vị trị tiên tiến ở Châu Âu.
Tuy nhiên, đằng sau bộ mặt phồn vinh “vui vẻ” đó một xã hội đang trải qua những biến
động dữ dội của thời kì quá độ từ chế độ phong kiến lên CNTB, là một xã hội chất chứa
những mâu thuẫn giai cấp gay gắt luôn luôn sẵn sàng bùng nổ thành những cuộc đấu tranh
quyết liệt. Và đặc biệt là sự phồn vinh và “vui vẻ” đó được xây dựng trên xương máu của
quần chúng nông dân, thợ thủ công Anh cũng như sự áp bức và bóc lột trắng trợn nhân dân
thuộc địa vừa chinh phục được. Chính vì thế mà nước Anh dù phát triển rực rỡ về mọi mặt
nhưng bên trong lại tiềm tàn nhiều sự đỗ vỡ.
Về phương diện tôn giáo, đây cũng là thời kì mà nước Anh xây dựng nền quốc giáo của
mình, thoát khỏi ách thống trị của giáo hội La Mã. Tuy nhiên, cũng như phong trào cải cách
tôn giáo ở bất kì nước nào, quá trình xây dựng Anh quốc giáo cũng là quá trình đấu tranh đổ
máu. Ngay dưới triều đại Êlizabet, các tín đồ theo Cơ đốc giáo vẫn nhiều lần nổi dậy và các
cuộc khởi nghĩa đó đều bị dìm trong bể máu.
Tất cả những chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội nói trên lá cơ sở tốt đẹp cho nước Anh
tiếp thu trào lưu nhân văn chủ nghĩa
1.1.2 Chủ nghĩa nhân văn và cảm hứng nhân văn.
* Chủ nghĩa nhân văn
Thời đại Phục hưng là một thời đại vĩ đại và to lớn. Nổi bật ở thời đại này là cuộc cách
mạng văn hóa tư tưởng do giai cấp tư sản lãnh đạo đã đưa đến thắng lợi rực rỡ đánh dấu
bước nhảy vọt của tư tưởng con người trong quá trình tự giải phóng. Và tư tưởng trung tâm
của thời đại Phục hưng là chủ nghĩa nhân văn. Đây là trào lưu tư tưởng tiến bộ nhất, tạo nên
giá trị sáng ngời của nền văn nghệ Phục hưng.
Chủ nghĩa nhân văn tìm thấy ở thời cổ đại đặc biệt là ở cổ đại Hi Lạp tinh thần trân trọng
con người, coi con người là quí, cuộc sống nơi trần thế là đáng trân trọng. Chủ nghĩa nhân
văn đã tiếp thu tinh thần đó và đã phát triển nó cho phù hợp với con người thời đại mình.
Tất cả những cái gì chống lại con người kìm hãm tự do của con người đều bị lên án. Mặt
khác, nó còn ca ngợi những gì thuộc về quyền sống tự nhiên của con người. Chính vì thế,
chủ nghĩa nhân văn được định nghĩa như sau:
Theo Vôn ghin, chủ nghĩa nhân văn: “là toàn bộ những quan điểm đạo đức, chính trị bắt
nguồn không phải từ cái gì siêu nhiên kì ảo, từ những nguyên lý ngoài nhân loại mà chính
từ con người tồn tại thực tế trên trái đất, với những nhu cầu và khả năng trần thế và hiện
thực của nó. Những nhu cầu, những khả năng ấy đòi hỏi phải được phát triển đầy đủ và
thỏa mãn”. [8; tr.41]
Tư định nghĩa trên cho thấy sự tiến bộ của tư tưởng này, chủ nghĩa nhân văn đã giúp cho
con người thời đại nhận ra Trung cổ phong kiến và nhà thờ truyền bá một thứ nhân sinh
quan rất mực đen tối và thê lương. Nhằm thống trị con người về mặt tinh thần họ truyền bá
tư tưởng diệt dục, xem cõi đời là bể khổ, con người khi sinh ra đã mang tội lỗi. Chính vì thế
con người phải sống khổ hạnh chịu đọa đày phần xác để cứu lấy phần hồn. Và Họ cho rằng
cõi đời là “một thung lũng nước mắt”, “Thiên đường” mới là cuộc sống đáng hướng tới. Đó
là những tư tưởng phản tự nhiên nhằm chống lại con người. Chính vì vậy, con người cần
phải nhận ra và tiêu diệt nhân sinh quan phản tiến bộ đó.
Chính từ những nhiệm vụ trên mà chủ nghĩa nhân văn xoay quanh hai nội dung chính đó là
tấm lòng trân trọng con người như Prôtagôrax thâu tóm trong định nghĩa nổi tiếng: “con
người là kiểu mẫu và kích thước để đo lường vạn vật”. Con người đáng được tin yêu, như
nhân vật Hamlet đã nói: “kì diệu thay là con người, Nó cao quý làm sao về mặt lý trí, vô tận
làm sao về mặt năng khiếu, về hình dung và dáng điệu nó mới giàu ý nghĩa làm sao. Về
hành động nó thật như thiên thần, về nhận thức nó chẳng kém gì thượng đế, thật là vẻ đẹp
của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” [8; tr.42]. Bên cạnh đó chủ nghĩa nhân văn còn ca
ngợi trần gian là thực tế đáng sống: con người phải sống lạc quan yêu đời. Văn học Phục
hưng là văn học lạc quan và tin vào con người.
Cũng như các nước Italia, Pháp, Đức, Tây Ban Nha nước Anh cũng tiếp thu trào lưu tư
tưởng tiến bộ trên nhưng chủ nghĩa nhân văn ở Anh phát triển chậm hơn so với các nước
trên. Nhưng chính vì vậy mà nước Anh lại có điều kiện tiếp thu những tinh hoa của nền văn
học các nước đi trước. Chính điều đó đã mang lai cho nền văn hóa Phục hưng Anh nói
chung và văn học nghệ thuật nói riêng có những bước phát triển rực rỡ vượt bật so với các
nước đi trước.
Cùng với xu thế chung của thời đại văn hóa Phục Hưng Anh cũng mang những tính chất
như mọi phong trào văn hóa Phục Hưng đã phát triển trên lục địa Châu Âu: tinh thần chống
chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa giáo điều kinh viện Trung cổ nhằm giải phóng cho trí tuệ con
người, tinh thần khẳng định cuộc đời trần thế, sự đòi hỏi quyền tự do cho cá nhân con
người, niềm phấn khởi trước những chân trời rộng mở nhờ những cuộc phát kiến về thiên
văn và địa lí đưa lại, niềm say mê trước vẻ đẹp của tác phẩm nghệ thuật văn nghệ cổ đại Hi
Lạp vừa được phát hiện Nhưng bên cạnh những tính chất chung đó, văn nghệ Phục hưng
Anh còn biểu hiện những đặc trưng riêng biệt khác, do đặc điểm của sự phát triển lịch sử
dân tộc và truyền thống văn học nghệ thuật nước Anh chi phối. Một đặc điểm nổi bật hơn cả
đó là tính mâu thuẫn, tính đối kháng gay gắt của cuộc đấu tranh giai cấp ở Anh. Chính vì thế
văn học Phục Hưng Anh là không những chống phong kiến mà còn chống cả tư sản. Bên
cạnh đó nước Anh thế kỉ XVI đã trở thành một quốc gia tư bản chủ nghĩa điển hình nên ở
đây qui luật cạnh tranh, sự phân hóa xã hội, sự cách biệt giàu nghèo, sức mạnh của đồng
tiền làm biến đổi nhân tâm, nhân phẩm và nhân tính con người đã diễn ra hết sức khốc
liệt. Nhưng bên cạnh đó,chủ nghĩa tư bản là phương thức sản xuất tiến bộ nên nó đã kích
thích mạnh mẽ sản xuất vật chất và tinh thần, sự phát triển của khoa học kĩ thuật, tạo ra
bước ngoặt trên mọi lĩnh vực kinh tế, tư tưởng và văn hóa.
Chính tình hình đó đã ảnh hưởng đáng kể đến nền văn học nghệ thuật Anh và để lại dấu ấn
trong nền văn nghệ Anh. Tiêu biểu là ở thể loại kịch và kịch là thể loại văn học có truyền
thống lâu đời ở Anh. Từ thời Trung cổ, nền kịch dân gian Anh đã thu được nhưng thành tựu
đáng kể. Dòng kịch tôn giáo của Anh cũng khá phát triển. Sang thế kỉ XV, các tác phẩm văn
nghệ của La Mã cổ đại, của Italia, Pháp thời Phục hưng được dịch ngày một nhiều sang
tiếng Anh . Nền kịch Anh nhờ tiếp thu những truyền thống tốt đẹp của các tác phẩm trên đã
tạo cho kịch Anh những bước phát triển mới. Kịch cổ đại nêu cho kịch Anh thấy kịch tính
gay gắt, những dục vọng ghê gớm, cuộc đấu tranh của con người chống lại định mệnh khắc
nghiệt. Còn kịch Italia hiện đại mà chủ yếu là hài kịch đưa vào kịch Anh không khí tưng
bừng, vui vẻ tươi mát của buổi bình minh thời đại Phục hưng, những đề tài và chủ đề mới
mẽ phản ánh cuộc sống trần thế. Và từ năm 1580 cho đến 1642, nền kịch Anh phát triển hết
sức mạnh mẽ phong phú. Trước khi Sêcxpia bước vào kịch trường, nền kịch Anh có hai xu
hướng chính:
Jôn Lyly và Rôbơc Gin chuyên chú ý mô tả những cái êm dịu, nhẹ nhàng, vui vẻ. Họ
thường đưa lên sân khấu nhưng cuộc tình duyên ban đầu éo le trắc trở nhưng kết thúc vui
vẻ. Bên cạnh đó, họ còn khai thác các truyện thần thoại hoặc truyền thuyết. Họ tạo ra lối văn
đối thoại ý vị, giàu chất trữ tình.
Khuynh hướng của Thô-mơx Kit (1558-1594) và Crixtôp Maclôvơ (1564-1593) thì ngược
lại. Kit cũng như Maclôvơ thường dựng lên những cảnh tượng rùng rợn, hải hùng đầy máu
và nước mắt. Họ mang đến cho Kịch Anh hai chủ đề mới: chủ đề thù hận và khát vọng. Với
chủ đề thù hận người xem sẽ thấy trên sân khấu những cảnh tượng đầy máu và nước mắt bởi
các cuộc thanh toán hận thù một cách quyết liệt của các nhân vật trong vở kịch. Còn ở chủ
đề khát vọng, người xem sẽ tiếp xúc với các nhân vật có dục vọng ghê gớm, phi thường sẵn
sàng làm mọi thứ để thỏa mãn dục vọng của mình. Kit và Maclôvơ là hai nhà soạn kịch lớn
của nước Anh trước Sêcxpia.
Đến thời Sêcxpia ta thấy trong các vở kịch của ông đã có sự tiếp thu, vận dụng và phát huy
những thế mạnh của mỗi xu hướng; đồng thời ông còn kết hợp cả hai lại tạo ra một phong
cách nghệ thuật kịch đặc sắc làm rạng rỡ kịch Anh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét