hướng vừa mở rộng (broadening) vừa thâm sâu (deepening). Công nghiệp phụ
trợ không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất
thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Dù những
sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại
quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí tổn đầu vào. Đó là
chưa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu11. Công ty đa
quốc gia sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý dây chuyền
cung cấp (supply chain management) nếu phải nhập khẩu phần lớn linh kiện, bộ
phận, và các sản phẩm công nghiệp phụ trợ khác. Vì lý do này, công nghiệp phụ
trợ không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh và
phạm vi cũng giới hạn trong một số ít các ngành.
Theo các chuyên gia, ở các nước đang phát triển, tiến trình của CNPT thường
trải qua 5 giai đoạn: Sản phẩm CNPT ít, để đáp ứng nhu cầu chủ yếu phải nhập
khẩu; Số lượng đã tăng lên, nhưng chất lượng không cao, chưa có khả năng cạnh
tranh; Khối lượng sản phẩm CNPT ngày một tăng và đặc biệt đã xuất hiện
những sản phẩm độc đáo, thoả dụng phần nào nhu cầu của các công nghiệp
chính, nên lượng nhập khẩu bắt đầu giảm; Sản xuất CNPT phát triển cao hơn
với nhiều nhà sản xuất nên đã xuất hiện sự cạnh tranh ngay trong nội địa, từ đó
tạo ra động lực nâng cao chất lượng, hạ giá thành; Năng lực của CNPT được
phát triển, bắt đầu xuất khẩu nhập khẩu sản phẩm CNPT. Thực tế khó tách bạch
từng giai đoạn, vì giữa các giai đoạn đều làm tiền đề và kế thừa lẫn nhau. Và, sự
ngắn dài của mỗi giai đoạn tuỳ thuộc vào sự phát triển của chính kinh tế nước đó
cộng với sự hỗ trợ của các nền kinh tế phát triển.
Thực trạng khiêm nhường
Việt Nam hiện nay có chừng 24 ngành kinh tế - kỹ thuật cần đến CNPT, trong
đó có nhiều ngành sản xuất hàng xuất khẩu. Đối chiếu với 5 phân kỳ trên đây,
5
CNPT của ta mới ở giai đoạn 2 và 3, được biểu hiện một phần qua tỷ lệ phụ tùng
nội địa sản xuất cung ứng cho công nghiệp chính, gọi tắt là “tỷ lệ nội địa hoá”.
Có lẽ thành công nhất là ngành bao bì, cung cấp hầu hết bao bì bằng giấy, gỗ,
nhựa… cho đóng gói sản phẩm. Ngành sản xuất phụ tùng xe máy, đáp ứng gần
80% nhu cầu của lắp ráp xe máy gồm: các chi tiết bằng nhựa hoặc kim loại,
khung xe, xăm lốp, bình điện… Ngành CNPT cho ôtô còn kém phát triển, tỷ lệ
nội địa hoá đạt khoảng 5-10%, chỉ cung cấp được vài sản phẩm đơn giản, giá trị
thấp, như bộ dây điện trong xe, ghế ngồi, một số chi tiết bằng nhựa hoặc kim
loại. Để hỗ trợ cho ngành điện - điện tử, tỷ lệ nội địa hoá được chừng 20-40% và
đang tăng dần trong mấy năm gần đây do có thêm các DN có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (DN FDI). Ngành dệt may, da giày dù có kim ngạch xuất khẩu
trong top dẫn đầu nhưng tỷ lệ nội địa hoá vẫn khiêm nhường, bởi phải nhập
khẩu tới 80% vải, vải giả da, kim, chỉ cao cấp, nút áo, khuy bấm, dây khoá kéo
kim loại, vật liệu dựng độn. Trong các thứ kể trên, có thứ ta sản xuất được như
vải, dây khoá kéo, song ít được sử dụng cũng vì chất lượng chưa ổn. Công
nghiệp nhựa được xem là dễ làm với trên 200 DN, nhưng kỹ thuật mới dừng ở
hàng tiêu dùng thông thường, rất ít sản phẩm là các chi tiết đủ tiêu chuẩn về sức
bền chắc, độ chính xác để lắp ráp máy móc, ôtô, điện - điện tử. Sự đầu tư dàn
trải với công nghệ chậm đổi mới làm cho ngành cơ khí tuy đội quân khá đông
nhưng chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Ngành xử lý bề mặt cũng không hơn gì,
bởi chỉ có ít dây chuyền tĩnh điện, xì, mạ hiện đại, nên chưa đảm bảo “phủ bì”
những sản phẩm cao cấp…
Nguyên nhân trước hết và cơ bản là nền công nghiệp của nước ta đi lên từ điểm
xuất phát thấp. Từ cấp quản lý đến cơ sở, từ ý tưởng đến khâu triển khai hầu như
chưa có khái niệm đầy đủ về CNPT, nên chưa quan tâm đúng mức để đầu tư
6
phát triển. Tuy chỉ là “sản phẩm phụ trợ” nhưng nền CNPT lại đòi hỏi vốn đầu
tư lớn, sử dụng công nghệ tiên tiến, nhân lực kỹ thuật cao trong khi đó hầu hết
các DN Việt Nam đều là DN vừa và nhỏ, chưa đủ năng lực đáp ứng yêu cầu đó.
Dung lượng về sản phẩm CNPT của thị trường Việt Nam chưa đủ lớn để hấp
dẫn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này, nên trong khi đầu tư vào
sản xuất sản phẩm chính tại Việt Nam để xuất khẩu, họ thường “bao sân” việc
cung ứng toàn bộ nguyên phụ liệu qua nhập khẩu, không muốn dùng chi tiết,
phụ tùng, phụ liệu do DN Việt Nam sản xuất. Đồng thời tâm lý tiêu dùng thời
thượng đều muốn sắm các sản phẩm mà phụ tùng của nó đều phải là hàng nhập.
Khi đã hội nhập với cộng đồng kinh tế quốc tế, việc phát triển CNPT vừa mở ra
thời vận lớn nhưng cũng sẽ đối mặt với thách thức không nhỏ. Việt Nam có thể
thông qua thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của
thế giới chẳng những tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đất nước với sự trưởng thành của các DN, đội ngũ kỹ sư, công nhân lành
nghề, từ đó có thể nhanh chóng mở ra các ngành CNPT cho công nghệ nói
chung và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng. Tuy vậy nếu chúng ta
không vươn mạnh, thì các sản phẩm CNPT của thế giới theo lộ trình cắt giảm
thuế quan sẽ ùn ùn kéo vào tiếp tục nhấn sâu nước ta trong vòng gia công hàng
hoá cho thế giới, chỉ hưởng tiền công rẻ mạt, còn chuỗi giá trị gia tăng tạo được
lại tiếp tục rơi vào các nhà đầu tư nước ngoài. Và trong tình thế này ngay các cơ
sở sản xuất trong nước cũng sẽ hướng tới dùng sản phẩm của CNPT nước ngoài,
đồng nghĩa với việc thị trường nội địa bị lấn chiếm.
Theo Viện trưởng Viện chiến lược công nghiệp Phan Đăng Tuất - một trong
những tác giả bản dự thảo, cho tới nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào
cho ngành công nghiệp phụ trợ ë Việt Nam. Số lượng các doanh nghiệp nội địa
7
tăng lên khá nhanh nhưng mới chỉ dừng lại ở khâu sản xuất các chi tiết, linh kiện
có kích cỡ cồng kềnh và công nghệ đơn giản.
Ông Tuất chỉ ra 3 hình thức phổ biến của công nghiệp phụ trợ hiện nay.
Phụ trợ "ruột" đang được một số công ty triển khai, chẳng hạn VMEP đã xây
dựng được một hệ thống các nhà cung cấp gồm 17 công ty, tập trung sản xuất
các linh kiện, phụ tùng mà các doanh nghiệp nội địa chưa sản xuất được hoặc
với số lượng chưa đủ.
Hình thức "hợp đồng" phổ biến ở công nghiệp xe máy. Đây là cam kết
giữa các nhà cung ứng với các công ty lắp ráp theo từng yêu cầu và trong từng
thời điểm nhất định. Trong hệ thống các nhà cung ứng cho các công ty lắp ráp
tại VN, số doanh nghiệp nội địa ít và tỷ lệ giá trị thấp.
Ngoài ra, các nhà sản xuất có thể bán linh kiện trên thị trường, không theo
một cam kết nào đối với các nhà lắp ráp. Hình thức này chưa được phát triển ở
Việt Nam vì các nhà lắp ráp ngại mua sắm sản phẩm đầu vào trôi nổi trên thị
trường.
Tuy nhiên công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện nay chỉ đáp ứng một
phần rất nhỏ nguyên phụ liệu, phần lớn vẫn phải nhập từ nước ngoài.Đây là một
thiệt thòi rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung
Trong nghành da giày được hình thành từ phần lợn những nguyen phụ
liệu từ nước ngoài đặc biệt từ TQ. 90% trong tæng doanh thu xuất khẩu da giày
3.8 tỷ USD năm 2007 bắt nguồn từ gia công cho đối tác nước ngoài. Tình trạng
gia công hàng chẳng những đã làm biến mất thương hiệu da giày Việt Nam trên
thương trường quốc tế mà còn ảnh hưởng mạnh đến ngành sản xuất nguyên phụ
liệu da giày nội địa. Vì vậy cần có những chính sách hợp lý để phát triển các
trung tâm nguyên phụ liệu trong nước nhằm xây dựng thương hiệu trên chính thị
trường nội địa mặt khác giải quyết việc làm cho lao động.
8
3. Vai trß c«ng nghØÖp phô trî
Lâu nay, khi nói đến hạn chế trong thu hút đầu tư vào nước ta người ta thường
đổ lỗi cho cơ sở hạ tầng bất cập, thủ tục hành chính rườm rà…Tuy nhiên, sau
khi nhiều địa phương đã nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư nhưng sức hút đầu tư
xem ra vẫn rất yếu. Đến nay, các nhà quản lý đã nhận ra mọt trong những điểm
mấu chốt là do chính nội tại các doanh nghiệp trên địa bàn, nhất là các doanh
nghiệp tham gia vào các hoạt động phụ trợ.
Công nghiệp phụ trợ (CNPT) là ngành công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho
việc sản xuất các thành phần chính. Ngành CNPT rất đa dạng bao gồm cả gia
công cơ khí, chế tạo khuôn đúc, rèn, đúc, nhiệt luyện, xử lý bề mặt. Sản xuất
những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn,
nhuộm…bao gồm cả những cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu
sơ chế. Sản phẩm CNPT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi
các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
CNPT tạo nhiều công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa, rất phù hợp
với điều kiện Việt Nam. CNPT đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sức cạnh
tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá
theo hướng mở rộng và chuyên sâu. CNPT phát triển sẽ kéo theo các công ty
lắp ráp và sản xuất thành phẩm cuối cùng khác thoát khỏi cảnh phụ thuộc vào
nhập khẩu. Giá nhập khẩu những sản phẩm đó có thể rẻ nhưng phí tổn chuyên
chở bảo hiểm sẽ đẩy chi phí đầu vào tăng cao. Ngoài ra, còn chưa kể đến rủi ro
về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu.
CNPT phát triển có vai trò đặc biệt trong việc thu hút vốn đầu tư nước
ngoài (FDI), nhất là FDI trong ngành sản xuất các loại máy móc. Một thực tế
cho thấy, tỉ lệ chi phí về CNPT cao hơn nhiều so với chi phí lao động trong giá
9
thành sản phẩm, nên một nước dù có ưu thế về lao động nhưng CNPT không
phát triển cũng làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn.
10
Phần II thực trạng phát triển công nghệ phụ trợ cho giầy dép ở
việt nam.
Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành da giày Việt Nam cũng không phải
đơn giản mà rất cần có một cách nhìn và cách làm thấu đáo, dài hạn. Hiện tại,
trong cả nước việc đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu và thuộc da đang tiến triển
tốt hơn, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư mạnh cho sản xuất nguyên, phụ liệu và
thuộc da. Các cơ sở sản xuất đế giày, da váng, tráng PU, keo, phụ liệu có quy
mô không lớn được hình thành để phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp giày.
Một số cơ sở tại khu thuộc da Phú Thọ Hòa ra đời. Công ty Hào Dương, Công ty
PouYuen, Công ty thuộc da Samwoo, Công ty Green Tech đã đi vào sản xuất ổn
định cùng với nhiều dự án đồng loạt triển khai như: nhà máy thuộc da Hào
Dương tại TP.HCM, Nhà máy Thuộc da Primer Vũng Tàu… cùng với Công ty
Thuộc da Samwoo, Green Tech và một số cơ sở nhỏ ở khu vực thuộc da Phú
Thọ Hòa, đang góp phần cung cấp nguyên liệu da thuộc chất lượng cao để sản
xuất hàng xuất khẩu cao cấp. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất phụ liệu như đế
giày, da váng có tráng PU, keo, phụ liệu… cũng giúp các DN giày tăng tỷ lệ nội
địa hóa. Tuy nhiên, do giá thành sản xuất trong nước còn cao nên nhiều DN vẫn
chọn con đường nhập khẩu nguyên phụ liệu.
Theo giới kinh doanh da giày, 3 loại nguyên liệu chủ yếu để sản xuất da
giày là chất liệu da và giả da; đế; các nguyên liệu phụ trợ như keo dán, chỉ khâu,
cúc, nhãn hiệu, gót thì đến 70-80% là nhập khẩu từ các nước châu Á như Hàn
Quốc, Đài Loan, Trung Quốc Riêng đế giày, khâu nguyên phụ liệu được các
doanh nghiệp Việt Nam chủ động tốt nhất, cũng chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu
sản xuất của ngành nói chung. Chất liệu giả da, đặc biệt được sử dụng nhiều cho
giày thể thao, mặc dù chiếm tỷ trọng xuất khẩu gần bằng 50% giá trị da giày
xuất khẩu nói chung, cũng sử dụng đến 80% nguyên liệu nhập ngoại.
11
Chỉ riêng về da, Việt Nam có sẵn nguồn nguyên liệu từ việc chăn nuôi bò,
heo. Tuy nhiên tập quán chăn nuôi thiếu tập trung và chưa áp dụng triệt để
những kỹ thuật chăm sóc gia súc của người chăn nuôi nhỏ khiến da nguyên liệu
thu được thường không đẹp, chất lượng thấp, buộc nhà sản xuất phải tốn thêm
nhiều chi phí để xử lý da thuộc. "Nếu cộng tất cả các khoản chi phí đầu tư máy
móc, thiết bị kỹ thuật cũng như công sức lao động thì giá thành da thuộc trong
nước cao hơn giá da ngoại", ông Doãn nói. Do đó muốn nâng chất lượng da
thuộc thì đầu tiên cần phải quy hoạch vùng nuôi gia súc lấy da và có chiến lược
phát triển, đầu tư vào công nghệ thuộc và xử lý da. Tuy nhiên, nhiều doanh
nghiệp ngành da giày cho rằng, muốn làm được việc này phải có sự phối hợp
của nhiều ngành, đặc biệt là công - nông nghiệp.
Cũng như nhiều ngành nghề khác, ngành da giày đang phải chịu áp lực
giá nguyên liệu đầu vào tăng 30-40% so với năm 2006, nhưng vẫn phải gồng
mình chịu đựng chứ không thể tăng giá đầu ra được. "Thậm chí có đơn hàng
chúng tôi phải giảm giá chào mới cạnh tranh nổi với đối thủ Trung Quốc", ông
Nguyễn Văn Độ, chủ cơ sở giày dép da Hoàng Diệu cho biết. Các doanh nghiệp
ngành da cho rằng, nếu giải quyết được vấn đề nguyên vật liệu trong nước thì
khả năng cạnh tranh của giày da Việt sẽ cao hơn rất nhiều. "Nếu hoàn thành quy
trình sản xuất khép kín trong nước, từ khâu nguyên phụ liệu đến thiết kế, sản
xuất, kinh doanh thì đảm bảo giày Việt sẽ tự tin xuất khẩu bằng thương hiệu của
mình", ông Đinh Ngọc Tuấn quả quyết. Đây cũng là kinh nghiệm mà giới kinh
doanh da giày Việt Nam học được từ Trung Quốc.
Nhìn xa hơn 5, 10 năm nữa, nếu vẫn chỉ gia công và nhập nguyên phụ liệu
như hiện nay thì rất khó để ngành da giày khẳng định thế đứng là một ngành
xuất khẩu chủ lực. "Về lâu dài nếu không có giải pháp ở tầm vĩ mô để quy hoạch
lại ngành da giày thì sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp tồn tại", ông Lê Quang
12
Doãn nói. Cũng theo ông này, nếu 10 năm trước Việt Nam có một nhà máy lọc
dầu thì bây giờ ngành da giày được "nhờ" rất nhiều vào nguồn nguyên liệu hóa
chất, dung môi xử lý, hóa dầu cung cấp từ nhà máy này.
Theo đề xuất của các doanh nghiệp giày da, trước mắt Chính phủ cần xem
xét lại quy định miễn thuế nhập khẩu cho các nguyên phụ liệu tạm nhập tái xuất,
vốn đã làm khó cho nguyên phụ liệu trong nước về đầu tư và cạnh tranh giá
thành, vì một phần lớn nguyên phụ liệu tạm nhập đã được tuồn ra ngoài thị
trường. Đó cũng là rào cản khiến nhiều nhà đầu tư nước ngoài có ý định đầu tư
sản xuất nguyên phụ liệu Việt Nam đã phải chuyển hướng đầu tư sang Trung
Quốc.
Về máy móc thiết bị: Phần lớn máy móc thiết bị phục vụ cho ngành sản
xuất giày dép, thuộc da, sản xuất nguyên liệu nhân tạo đều được nhập khẩu từ
Ðài Loan, Hàn Quốc, Ý, Pháp, và Trung Quốc
Hiện nay một số nhà máy cơ khí trong nước và đặc biệt là tại thành phố
Hồ Chí Minh đã nỗ lực sản xuất được những thiết bị giản đơn cho ngành da
giày. Tuy nhiên những nhà máy này chỉ có trình độ công nghệ ở mức trung bình
hoặc thấp.
Thiết bị sản xuất trong nước có giá bán chỉ bằng 50-70% so với giá nhập
khẩu nhưng chất lượng của chúng thiếu ổn định và tuổi thọ không cao. Tuy vậy,
có thể chấp nhận được khi so sánh các mặt tác dụng qua lại với nhau.
Về công nghệ kỹ thuật: Ðây là khâu yếu nhất da giày Việt Nam do tuổi
đời của ngành chưa cao, thiếu kinh nghiệm. Trong khi đó nếu so với những
nước trong khu vực thì họ đã có quá trình phát triển khá lâu. Việc sản xuất các
loại giày đặc chủng, giày thể thao chuyên nghiệp, giày y tế yêu cầu công nghệ
cao đều nằm ngoài tầm với của doanh nghiệp Việt Nam.
13
Về lao động, sản xuất và công tác quản lý kinh doanh còn nhiều điều cần
học hỏi.Hiện nay, trên cả nước chưa có một trường dạy nghề chuyên nghiệp để
cung ứng cho ngành giày dù hiện nay đây là ngành có sức thu hút trên 500.000
lao động trong cả nước. Việc dạy nghề chủ yếu do các công ty tự đào tạo lấy, do
vậy hầu hết là thông qua việc truyền đạt kinh nghiệm chứ chưa có bài bản. Tiếp
thị và kinh doanh cũng là khâu yếu cần khắc phục
Nguyên nhân chính là do các doanh nghiệp này đều có quy mô vừa và
nhỏ, thiếu vốn, thiếu năng lực để có th? phát huy tối đa tiềm năng cũng như khả
năng của doanh nghiệp,bên cạnh đó uy tín của doanh nghiệp Việt Nam trong
lĩnh vực giày dép trên thế giới là chưa cao, không thâm nhập vào được các kênh
kinh doanh, phân phối của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp Việt Nam rất thiếu
thông tin về thị trường, cả nước chưa có một đơn vị nào đảm trách việc thông tin
chuyên cho ngành giày. Vì vậy việc đâù tư cho phụ trợ con khá thâp chưa được
chú trọng nhiều.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét