Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Hoàn thiện kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học AISC thực hiện

Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong các loại hình kiểm toán hiện đang tồn tại ở Việt Nam, kiểm toán
độc lập ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình. Kiểm toán
độc lập được hiểu là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên
nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các
tài liệu kế toán cũng như các báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ
quan, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu của các đơn vị này.
Một trong những hoạt động chủ yếu của kiểm toán độc lập là kiểm toán báo
cáo tài chính (BCTC), đó là sự xác minh và bày tỏ ý kiến về BCTC của khách
hàng. Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay hàng loạt các công ty muốn “lên
sàn”, một trong những điều kiện không thể thiếu đó là phải có báo cáo tài
chính được kiểm toán. Thông qua công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động tài
chính của doanh nghiệp, kiểm toán độc lập đã góp phần vào việc làm lành
mạnh hóa nền tài chính quốc gia.
Để có thể đưa ra những ý kiến trung thực và hợp lý về các BCTC, kiểm
toán viên cần kiểm tra xem xét từng bộ phận cấu thành nên BCTC trong đó có
khoản mục hàng tồn kho (HTK). Số dư các khoản mục HTK luôn được đánh
giá là trọng yếu, liên quan đến nhiều chỉ tiêu quan trọng trên BCTC và đặc biệt
rất dễ chứa đựng những gian lận và sai sót, do đó kiểm toán HTK là một trong
những công việc quan trọng cần phải tiến hành trong mỗi cuộc kiểm toán
BCTC. Qua thời gian tìm hiểu thực tế, nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của
công tác này em đã lựa chọn Đề tài: “Hoàn thiện kiểm toán hàng tồn kho
trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học
AISC thực hiện”.
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là tiếp cận công tác kiểm toán HTK trong
kiểm toán BCTC do Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học AISC thực hiện.
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
1
Khóa luận tốt nghiệp
Mục đích nghiên cứu của Đề tài là vận dụng lý thuyết về kiểm toán đặc biệt là
kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán BCTC, kết hợp với những kiến thức
thực tế từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cùng những kiến nghị để hoàn thiện
công tác này.
Để đạt được mục đích nghiên cứu của mình, trong Khóa luận này em đã
sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, logic kết hợp với các phương
pháp tổng hợp, phân tích, mô tả…
Trên cơ sở phạm vi, mục đích nghiên cứu nêu trên, nội dung của Khóa
luận bao gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận về kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm
toán báo cáo tài chính.
Chương II: Thực trạng kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo
tài chính do AISC thực hiện.
Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán
hàng tồn kho trong kiểm toán Báo cáo tài chính do AISC thực hiện.
Trong thời gian thực tập tại Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học AISC
do điều kiện thời gian, cũng như giới hạn về mặt kiến thức nên Khóa luận
không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết. Em mong được sự quan
tâm bổ sung ý kiến của thầy cô, Ban Lãnh đạo Công ty Kiểm toán và Dịch vụ
Tin học AISC để Khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
2
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN HÀNG TỒN KHO
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1. Hàng tồn kho với các vấn đề về kiểm toán
1.1.1. Đặc điểm và chức năng của hàng tồn kho
1.1.1.1. Đặc điểm hàng tồn kho
Hàng tồn kho là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới dạng
vật chất với nhiều hình thức khác nhau. Hàng tồn kho có thể được mua từ bên
ngoài hoặc tự sản xuất để dùng vào mục đích sản xuất kinh doanh. Hình thức
của hàng tồn kho ở từng doanh nghiệp cũng có sự khác biệt, nó tuỳ thuộc vào
bản chất doanh nghiệp.
Cụ thể, đối với các doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho bao gồm
những hàng hoá mua về chờ bán. Trong doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho
bao gồm nguyên, nhiên, vật liệu, công cụ dụng cụ chờ đưa vào sản xuất; bán
thành phẩm dở dang; sản phẩm hoàn thành lưu kho chờ bán.
Ngoài ra còn có một số vật tư hàng hoá thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp nhưng vì những lý do khác nhau nên không nằm trong kho như: Hàng
gửi bán, hàng đang đi đường …
Khái niệm về HTK cho thấy, HTK trong doanh nghiệp đa dạng và phong
phú, có vai trò và công dụng không giống nhau, chiếm tỷ trọng tương đối lớn
trong báo cáo tài chính. Nguyên vật liệu là yếu tố không thể thiếu được của
quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định,
công cụ dụng cụ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giữ
nguyên hình thái hiện vật ban đầu trong quá trình sử dụng. Thành phẩm là sản
phẩm đã được chế tạo xong ở giai đoạn chế biến cuối cùng của quy trình công
nghệ trong doanh nghiệp, được kiểm nghiệm đủ tiêu chuẩn kỹ thuật quy định.
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
3
Khóa luận tốt nghiệp
Sản phẩm hoàn thành có thể được bán ngay trong kỳ kinh doanh hoặc lưu kho
chờ bán. Như vậy HTK liên quan từ khi phát sinh mua nguyên vật liệu, công
cụ dụng cụ đưa vào sản xuất, tạo ra sản phẩm hoàn thành hoặc sản phẩm dở
dang vào cuối kỳ. Vì thế quá trình ấy liên quan đến khá nhiều khoản mục trên
BCTC (cả bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh). Điều này liên
quan tới cả lợi nhuận của doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
là những chỉ tiêu tài chính đánh giá kết quả hoạt động của một doanh nghiệp.
Mặt khác, hình thái vật chất của HTK trong các loại hình doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong các lĩnh vực thương mại, khách sạn, cơ khí
… là khác nhau. Do đó việc phân loại, quản lý và theo dõi hàng tồn kho được
thực hiện khác nhau tùy thuộc đặc điểm từng doanh nghiệp.
HTK luôn là trung tâm của sự chú ý trong cả lĩnh vực kế toán và kiểm
toán. Các lý do khiến cho HTK trở nên đặc biệt quan trọng chính là đặc điểm
riêng biệt của nó:
Một là, HTK thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản lưu
động của một doanh nghiệp, rất dễ bị xảy ra các sai sót hoặc gian lận lớn.
Hai là, Trong kế toán, có rất nhiều phương pháp lựa chọn để định giá
hàng tồn kho và đối với mỗi loại HTK, doanh nghiệp có thể lựa chọn các
phương pháp khác nhau. Mỗi phương pháp khác nhau sẽ đem lại những hiệu
quả khác nhau. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải bảo đảm tính thống nhất trong
việc sử dụng phương pháp định giá HTK giữa các kỳ.
Ba là, Việc xác định giá trị HTK ảnh hưởng trực tiếp tới giá vốn hàng
bán và do vậy có ảnh hưởng trọng yếu tới lợi nhuận thuần trong năm.
Bốn là, Công việc xác định chất lượng, tình trạng và giá trị HTK luôn là
công việc khó khăn và phức tạp hơn hầu hết các tài sản khác. Có rất nhiều
khoản mục HTK rất khó phân loại và định giá chẳng hạn như các linh kiện
điện tử phức tạp, các công trình xây dựng dở dang hay các tác phẩm nghệ
thuật, hoặc kim khí, đá quý…
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
4
Khóa luận tốt nghiệp
Năm là, HTK được bảo quản, cất trữ ở nhiều nơi khác nhau, lại do nhiều
người quản lý. Mặt khác do tính đa dạng của HTK nên điều kiện bảo quản
cũng rất khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu bảo quản của từng loại. Vì thế công
việc kiểm soát vật chất, kiểm kê, quản lý và sử dụng HTK sẽ gặp nhiều khó
khăn, đôi khi có sự nhầm lẫn, sai sót và dễ bị gian lận.
Cuối cùng là các khoản mục HTK thường đa dạng và có thể chịu ảnh
hưởng lớn bởi hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình thông qua các biểu hiện
như bị hư hỏng trong thời gian nhất định, dễ bị lỗi thời… do đó kiểm toán
viên khi kiểm toán phải có sự hiểu biết về đặc điểm từng loại HTK, xu hướng
biến động của nó trên bình diện ngành để có thể xác định chính xác hao mòn
hữu hình hoặc hao mòn vô hình.
Bên cạnh những lý do trên thì tần suất của các nghiệp vụ về HTK cũng
có ảnh hưởng nhất định. Thông thường các nghiệp vụ về HTK xảy ra với tần
suất lớn do đó dễ gây ra việc phản ánh thiếu các nghiệp vụ, phản ánh trùng
lặp nghiệp vụ cũng như là điều kiện tốt cho những sai phạm mang tính chất
chủ quan xảy ra: Biển thủ hàng hoá, làm thất thoát tài sản của doanh nghiệp
1.1.1.2. Chức năng của hàng tồn kho
Hàng tồn kho là sự kết hợp của hai hệ thống riêng biệt nhưng có liên
quan chặt chẽ với nhau, một đề cập đến quá trình vận động vật chất của hàng
hoá, và một đến các chi phí liên quan. Khi HTK vận động trong công ty cần
phải tồn tại các quá trình kiểm soát đầy đủ cả sự vận động vật chất của chúng
lẫn các chi phí liên quan. Các quá trình kiểm soát được đề cập ở đây được cụ
thể hóa thông qua chức năng chủ yếu của HTK đó là: Chức năng mua hàng,
chức năng nhận hàng, chức năng lưu kho, chức năng xuất kho, chức năng sản
xuất và chức năng vận chuyển hàng đi tiêu thụ; bên cạnh đó còn có chức năng
ghi sổ đối với chi phí sản xuất và ghi sổ về hàng lưu kho.
Thứ nhất: Chức năng mua hàng
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
5
Khóa luận tốt nghiệp
Để có một hệ thống kiểm soát nội bộ thích đáng đối với các nghiệp vụ
mua hàng đòi hỏi các đơn vị phải tổ chức ra một phòng riêng biệt chuyên thực
hiện nghiệp vụ mua hàng nhưng không được giao quyền quyết định mua hàng
cho phòng đó. Các chức năng mua hàng, nhận hàng và ghi sổ HTK phải được
tách biệt trách nhiệm cho các phòng ban khác nhau.
Một nghiệp vụ mua bắt đầu bằng việc bộ phận kho hoặc bộ phận có nhu
cầu hàng hoá hoặc dịch vụ viết phiếu yêu cầu mua. Phiếu yêu cầu mua này phải
được kiểm tra và thông qua bởi cấp có thẩm quyền và phải đảm bảo được tính
hợp lý, có thật của nhu cầu mua. Sau khi phiếu yêu cầu mua được chuyển tới
phòng thu mua, phòng này lập ra đơn đặt mua hàng trong đó nêu rõ số lượng,
chủng loại, quy cách sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ yêu cầu. Để thực hiện
kiểm soát đối với nghiệp vụ mua hàng, các doanh nghiệp không chỉ cần tổ chức
một phòng riêng biệt chuyên thực hiện nghiệp vụ mà còn cần thực hiện:
Thứ nhất, Việc phê chuẩn phiếu yêu cầu mua hàng cần căn cứ vào dự
toán đã xây dựng, kế hoạch sản xuất, kế hoạch dữ trữ đối với loại HTK đó.
Việc phân tách giữa nhiệm vụ viết phiếu yêu cầu và phê chuẩn đóng vai trò
quan trọng, đây là phần chính của chức năng này vì nó đảm bảo hàng hóa
được mua theo các mục đích đã phê chuẩn của công ty và tránh việc mua quá
nhiều hoặc mua các mặt hàng không cần thiết.
Thứ hai, Đơn đặt mua hàng cần đánh số thứ tự trước;
Thứ ba, Đơn đặt hàng sẽ được chuyển đến các bộ phận có liên quan: Bộ
phận kế toán để hạch toán, bộ phận nhận hàng để làm căn cứ đối chiếu.
Thứ hai: Chức năng nhận hàng
Nhận hàng là một hoạt động thể hiện tính liên tục trong chu kỳ sản xuất
kinh doanh. Hoạt động này được xác định bắt đầu từ khi nhà cung cấp tiến
hành phân phối những sản phẩm, vật tư hàng hóa cho doanh nghiệp. Chức
năng nhận hàng do phòng nhận hàng đảm nhiệm với nhiệm vụ xác định số
lượng hàng nhận; kiểm định chất lượng hàng xem có phù hợp với yêu cầu
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
6
Khóa luận tốt nghiệp
trong đơn đặt hàng không và loại bỏ các hàng không đúng quy cách. Kết thúc
công việc, phòng nhận hàng lập biên bản nhận hàng và chuyển hàng nhận tới
bộ phận kho. Bộ phận này được tổ chức độc lập với bộ phận mua hàng, lưu
hàng và bộ phận vận chuyển.
Thứ ba: Chức năng lưu kho
Hoạt động lưu kho có liên quan tới một loạt các hoạt động khác như
nhận hàng, giám sát, sản xuất, bán hàng … Khi bộ phận nhận hàng chuyển
hàng tới bộ phận kho, hàng nhận lại phải qua sự kiểm tra của bộ phận kho.
Hàng chỉ được nhập kho khi thoả mãn yêu cầu về mặt số lượng và chất lượng.
Mỗi khi nhập kho, thủ kho phải lập phiếu nhập kho và sau đó thông báo cho
phòng kế toán về số lượng hàng đã thực nhập. Bộ phận lưu kho cần độc lập
với các bộ phận khác như thu mua, nhận hàng, thanh tra, thanh toán. Đồng
thời, doanh nghiệp cần tiến hành đối chiếu thường xuyên giữa ghi chép của
thủ kho với kế toán vật tư để đảm bảo sự khớp đúng, kịp thời phát hiện những
chênh lệch nếu có.
Thứ tư: Chức năng xuất kho vật tư, hàng hoá
Hàng hóa, vật tư trong kho chịu sự quản lý của bộ phận kho. Chúng chỉ
được xuất khỏi kho khi có phiếu yêu cầu sử dụng vật tư, hàng hóa đã được
phê duyệt bởi cấp có thẩm quyền. Khi xuất kho, thủ kho sẽ lập phiếu xuất
kho. Phiếu xuất kho và phiếu yêu cầu được lập thành ba liên: Đơn vị có yêu
cầu sẽ giữ một liên; một liên sẽ giao cho bộ phận kho làm căn cứ hạch toán
kho và liên còn lại chuyển cho phòng kế toán để làm căn cứ ghi sổ. Chứng từ
xuất kho ngoài phiếu xuất kho thông thường có thể sử dụng phiếu xuất vật tư
theo hạn mức.
Thứ năm: Chức năng sản xuất
Việc sản xuất cần phải được kiểm soát chặt chẽ bằng kế hoạch và lịch
trình sản xuất để có thể đảm bảo rằng công ty sẽ sản xuất những hàng hoá đáp
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
7
Khóa luận tốt nghiệp
ứng đủ nhu cầu của khách hàng, tránh tình trạng ứ đọng hàng hóa hoặc khó
tiêu thụ đối với một số hàng hóa cụ thể, ngoài ra nó cũng như giúp công ty tạo
ra sự chủ động trong khâu nguyên vật liệu và nhân công.
Trong giai đoạn này, trách nhiệm đối với hàng hoá thuộc về những
người giám sát sản xuất như đốc công, quản lý phân xưởng. Kể từ khi nguyên
vật liệu được chuyển tới cho đến lúc tạo ra các sản phẩm hoàn thành nhập kho
thì người giám sát phải kiểm soát và nắm chắc tình hình, quá trình sản xuất.
Sản phẩm hoàn thành bao giờ cũng được kiểm định chất lượng trước khi nhập
kho thành phẩm hoặc chuyển đi tiêu thụ. Hoạt động kiểm soát này phổ biến
nhằm phát hiện những sản phẩm hỏng, lỗi và đồng thời giúp doanh nghiệp
không rơi vào tình trạng ghi giá trị hàng tồn kho cao hơn giá trị thực của nó.
Thứ sáu: Chức năng lưu kho thành phẩm
Sản phẩm hoàn thành từ bộ phận sản xuất sau khi được kiểm định về
chất lượng nếu không tiêu thụ ngay thì được nhập kho chờ bán. Việc kiểm
soát đối với thành phẩm lưu kho được xem như một phần của chu trình bán
hàng – thu tiền. Việc lưu kho cần xem xét phương tiện thiết bị có đảm bảo
yêu cầu bảo quản sản phẩm không, điều kiện an ninh, phòng hỏa hoạn. Cách
thức bố trí trong kho cũng phải hợp lý, dễ kiểm soát. Việc ghi chép ở kho do
thủ kho thực hiện và phải chịu trách nhiệm.
Thứ bẩy: Chức năng xuất thành phẩm đi tiêu thụ
Bất cứ việc xuất thành phẩm đi tiêu thụ cũng chỉ được thực hiện khi bộ
phận kho nhận được sự phê chuẩn hoặc căn cứ xuất kho. Thông thường khi
đơn đặt mua hàng của khách hàng đã được phòng kiểm soát tín dụng phê
chuẩn thì thủ kho tiến hành xuất kho và lập phiếu xuất kho. Chứng từ này
được lưu ở thủ kho, bộ phận tiêu thụ và phòng kế toán. Bộ phận vận chuyển
sẽ lập phiếu vận chuyển hàng, chứng từ này được lập thành ba liên, một giao
cho phòng tiếp vận, một được chuyển cho phong tiêu thụ kèm theo đơn đặt
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
8
Khóa luận tốt nghiệp
mua hàng của khách hàng để làm căn cứ ghi hoá đơn cho khách hàng, liên
còn lại được đính kèm bên ngoài bao kiện của hàng hoá trong quá trình vận
chuyển.Trong trường hợp hàng hóa được vận chuyển thuê bởi một công ty
tiếp vận thì phiếu vận chuyển sẽ được lập thêm một liên thứ tư giao cho bên
cung cấp dịch vụ vận chuyển để làm căn cứ tính cước phí.
1.1.2. Tổ chức kế toán hàng tồn kho
1.1.2.1. Tổ chức công tác chứng từ
Về phân loại chứng từ
Các chứng từ kế toán về hàng tồn kho có rất nhiều loại bao gồm:
Chứng từ nhập mua hàng hoá: Phiếu yêu cầu mua hàng, hoá đơn giá trị
gia tăng (GTGT) của nhà cung cấp, phiếu kiểm nhận hàng, phiếu nhập kho,
biên bản kiểm nghiệm vật tư hàng hóa…
Chứng từ xuất kho cho sản xuất bao gồm: phiếu yêu cầu lĩnh vật tư,
phiếu xuất kho vật tư, thẻ kho, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, kế
hoạch sản xuất …
Chứng từ xuất bán thành phẩm, hàng hoá: khi xuất bán hàng hóa, thành
phẩm, vật tư kế toán hạch toán dựa trên các chứng từ hợp đồng kinh tế, cam
kết mua hàng, phiếu xuất kho, hoá đơn GTGT, thẻ kho.
Về luân chuyển chứng từ
Thứ nhất: Luân chuyển phiếu nhập kho
Có thể khái quát quá trình luân chuyển phiếu nhập kho như sau:
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
9
Khóa luận tốt nghiệp
Sơ đồ 01: Quy trình luân chuyển phiếu nhập kho
Thứ hai: Luân chuyển phiếu xuất kho
Sơ đồ 2: Quy trình luân chuyển phiếu xuất kho
Chú thích:
Trình tự thực hiện
Thực hiện công việc
Trịnh Hương Ly Kiểm toán 46B
Người
nhập
kho
Kế toán
hàng
tồn kho
Thủ
kho
Ban
kiểm
nghiệm
Bảo
quản và
lưu trữ
Nghiệp
vụ nhập
kho
Các bộ
phận
cung ứng
Phụ trách
phòng
cung ứng
Nghiệp
vụ nhập
kho
Nghiệp
vụ nhập
kho
Ký phiếu
nhập kho
Phiếu
nhập
kho
Biên bản
kiểm
nhận
Đề nghị
nhập
kho
Người đề
nghị xuất
kho
Kế toán
hàng
tồn kho
Thủ
kho
Kế toán
trưởng,
giám đốc
Bảo
quản và
lưu trữ
Ngiệp
vụ xuất
kho
Các bộ
phận
cung ứng
Ghi sổ
kế toán
Xuất kho
và ghi
thẻ kho
Phiếu
xuất
kho
Duyệt
xuất kho
Đề nghị
xuất
kho
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét