Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
38
Bảng số 09: Tổng hợp dự toán kinh phí CTMTQG GD&ĐT 2006- 2010
68
Bảng số 10: Phân bổ kinh phí dự án 1
70
Bảng số 11: Phân bổ kinh phí dự án 2
71
Bảng số 12: Kế hoạch thực hiện các hoạt động của dự án 3
73
Bảng số 13: Kế hoạch thực hiện các hoạt động của dự án 4
75
Bảng số 14: Kinh phí phân bổ mua sắm trang thiết bị
76
Bảng số 15: Kế hoạch thực hiện các hoạt động của dự án 6 theo từng năm
77
Bảng số 16: Kế hoạch vốn của dự án 7 chia theo nội dung thực hiện
78
Bảng số 17: Kế hoạch vốn của dự án 7 chia theo năm thực hiện
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
79
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 01: phí thực hiện CTMTQG GD&ĐT giai đoạn 2001 - 2005
13
Biểu đồ 02: Cơ cấu chi NSTW cho từng dự án giai đoạn 2001 – 2005
15
Biểu đồ 03: Chi NSTW cho các dự án theo từng năm thực hiện
15
Biểu đồ 04: Tỷ lệ dự toán đề nghị và dự toán thực phân bổ NSTW
cho CTMTQG GD&ĐT giai đoạn 2001 – 2005
18
Biểu đồ 05: Tương quan giữa NSTW và nguồn BS của ĐP theo từng dự án
21
Biểu đồ 06: Dự toán kinh phí từng năm của giai đoạn II
69
Biểu số 07: Cơ cấu dự toán kinh phí CTMTQG GD&ĐT giai đoạn II
69
Danh mục sơ đồ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ 01: Cơ chế tài chính đối với CTMTQG
43
Sơ đồ 02: Quy trình chi trả, thanh toán theo dự toán
52
Sơ đồ 02: Quy trình chi trả, thanh toán theo lệnh chi tiền
53
LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng
quát của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta là:
″Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống
vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá″. ″Con
đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời
gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước
nhảy vọt ". Để đạt được các mục tiêu nêu trên, giáo dục và khoa học công
nghệ có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là rất bức thiết.
Với quan điểm đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, từ trước đến
nay kể cả trong những giai đoạn đất nước còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà
nước đã quan tâm chú trọng đầu tư cho phát triển giáo dục & đào tạo, mức
đầu tư cho giáo dục hàng năm đều tăng lên.
Đầu tư cho phát triển GD&ĐT vừa thực hiện yêu cầu đầu tư toàn diện
trên tất cả các lĩnh vực nói chung, nhưng vừa có sự đầu tư nhằm mục tiêu giải
quyết những vẫn đề có tính chất bức xúc, trọng tâm, trọng điểm trong từng
giai đoạn nhất định; việc đầu tư theo những mục tiêu có tính chất trọng tâm
trọng điểm trong từng giai đoạn đó chính là việc thực hiện các chương trình
mục tiêu quốc gia GD&ĐT.
Trong những năm qua CTMTQG GD&ĐT đã thực hiện ở từng giai
đoạn và từ năm 2001 đến nay đã thực hiện giai đoạn 2001- 2005, hiện nay
đang tiếp tục thực hiện giai đoạn II đến năm 2010. Việc thực hiện đầu tư này
rất quan trọng nhằm tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục,
thoát khỏi tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực, tiếp cận trình độ
tiên tiến của thế giới; đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình
giáo dục; phát triển đội ngũ nhà giáo; nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực.
1
Với ý nghĩa quan trọng như vậy nên yêu cầu của công tác quản lý và sử dụng
nguồn ngân sách CTMTQG GD&ĐT sao cho có hiệu quả đạt được mục tiêu
đề ra, luôn là vấn đề đặt ra đối với các cấp các ngành và các cơ quan quản lý,
người làm công tác giáo dục cũng như người làm công tác quản lý tài chính,
nhằm mục tiêu làm thế nào để việc đầu tư của Nhà nước và các nguồn tài
chính khác trong xã hội nói chung cho sự nghiệp GD&ĐT được sử dụng đạt
được hiệu quả mong muốn như mục tiêu đề ra.
Với suy nghĩ đó, trên cơ sở kiến thức trong thời gian học tập tại trường
và thời gian đi thực tập, em đã tìm hiểu và chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả
chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục
& Đào tạo”
Nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về Giáo dục & Đào tạo và chi Ngân
sách Nhà nước cho Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
Chương II: Thực trạng chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình
mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước
cho Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
Qua bài viết này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của
cô giáo PGS.TS.Nguyễn Thị Bất, Chú Nguyễn Việt Hồng- Vụ trưởng Vụ Tài
chính Hành chính sự nghiệp - Bộ Tài chính và sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo
của các anh, chị ở Phòng Sự nghiệp văn xã, Phòng Hành chính- Vụ Tài chính
Hành chính sự nghiệp - Bộ Tài chính đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn
thành nội dung nghiên cứu này.
Hà nội, ngày 6 tháng 6 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Trọng Chung
2
NỘI DUNG
Chương I. Những vấn đề chung về chi Ngân sách Nhà nước cho
Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
1.1. Sự cần thiết phải phát triển GD&ĐT
Con người với vai trò vị trí vừa là động lực quan trọng nhất của sự phát
triển xã hội, vừa là mục tiêu, là sản phẩm của xã hội và cũng đồng thời là yếu
tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất; mà sản phẩm trực tiếp đó chính là
kết quả của nền giáo dục đào tạo.
Mỗi thời đại và từng quốc gia có chính sách quản lý, phát triển giáo dục
riêng của mình, nhưng nét xuyên suốt lịch sử giáo dục thế giới thì Nhà nước
luôn giữ vai trò chủ thể hàng đầu và trực tiếp của nền giáo dục quốc gia. Sở dĩ
Nhà nước phải đảm bảo vai trò chủ thể phát triển giáo dục như vậy là do giáo
dục có chức năng quan trọng:
Một là chức năng giải phóng con người. Thông qua giáo dục, mỗi
người đều có cơ hội thăng tiến xã hội, thực hiện bình đẳng xã hội.
Hai là chức năng xây dựng con người mới, được hiểu theo nghĩa rộng
gồm công dân mới, những người cộng hòa mới, thế hệ mới, nhân dân mới.
Ba là chức năng góp phần tạo lập liên kết chính trị, thông qua việc giáo
dục ý thức chính trị mới cho các thế hệ công dân và đào tạo đội ngũ viên chức
nhà nước thống nhất.
Bốn là chức năng góp phần củng cố mối liên kết quốc gia nhờ vào việc
giáo dục một hệ thống chuẩn giá trị cho mọi thành viên xã hội.
Năm là chức năng tham gia kiểm soát xã hội. Giáo dục là một loại
quyền lực mềm, rất hữu hiệu đối với quá trình quản lý xã hội trong đó có
kiểm soát xã hội hiểu theo nghĩa rộng nhất của hoạt động này.
Các chức năng rất công cộng nêu trên càng khẳng định vị trí của giáo
dục như một dịch vụ công mà mọi Nhà nước hiện đại, không phân biệt thể
3
chế chính trị, nhất thiết phải coi việc quản lý, phát triển giáo dục là trách
nhiệm tự nhiên và quyền hạn tự thân của mình.
Lịch sử đất nước ta trải qua hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của ngoại
bang xâm lược khi đặt ách đô hộ lên đất nước ta đều tìm mọi cách hủy hoại
nền văn hóa của ta, dìm nhân dân ta trong vòng dốt nát, tăm tối hòng dễ bề cai
trị, diệt tận gốc tinh thần yêu nước, khiến dân ta sống trong lầm than, không
được học hành, làm nô lệ suốt đời cho chúng.
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, đối mặt với
muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra ba nhiệm vụ có ý nghĩa
chiến lược đó là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Người
nói:” Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “Giáo dục nhằm đào tạo những
người kế tục sự nghiệp to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các
cấp Đảng và Chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm hơn nữa đến sự
nghiệp này. Phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy mạnh phát triển giáo
dục của ta lên một bước phát triển mới…”, “ Vì lợi ích mười năm trồng cây,
vì lợi ích trăm năm trồng người”, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có
con người xã hội chủ nghĩa”. Tư tưởng ấy của Người đã được Đảng và Nhà
nước ta phát triển thành đường lối, chủ trương, chiến lược, chính sách cụ thể
qua từng thời kỳ.
GD&ĐT tạo ra những con người phát triển toàn diện, có năng lực nghề
nghiệp, có tinh thần ham hiểu biết, có tư duy sáng tạo, làm chủ khoa học kỹ
thuật hiện đại, có ý thức và năng lực hợp tác, có tinh thần trách nhiệm với
cộng đồng xã hội, có nếp sống lành mạnh và sức khỏe tốt… đúng với mục
tiêu của nước ta trên chặng đường xây dựng xã hội mới - Xã hội chủ nghĩa:
“Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về
tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
4
Cùng với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, đòi hỏi phải có
những con người có trình độ hiểu biết, thực sự dám nghĩ, dám làm, đó là kết
quả của một nền giáo dục toàn diện. Nhận thức được vai trò quan trọng của
GD&ĐT là nền tảng đưa nước ta thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH,
là chìa khóa mở cửa tiến vào tương lai, Nghị quyết Trung ương IV khóa VII
của BCH Trung ương Đảng đã đề ra: “Cùng với khoa học công nghệ,
GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng
và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực GD&ĐT trong 5
năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH tạo điều
kiện cho nhân dân đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những tiêu
cực và yếu kém trong GD&ĐT”; Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng
định: “GD&ĐT cùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc
sách hàng đầu. Phải coi đầu tư giáo dục là một trong những hướng chính của
đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp phát triển kinh tế- xã hội”.
Đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT là đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội
1.2. Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
1.2.1. Sự cần thiết của chương trình
Sau gần 15 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành
tựu quan trọng, nhưng còn những yếu kém, bất cập. Ngày 28 tháng 12 năm
2001 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 201/2001/QĐ-TTg phê duyệt
“Chiến lược phát triển Giáo dục 2001- 2010”. Chiến lược xác định rõ mục tiêu,
giải pháp và các bước đi theo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa, xây dựng một nền giáo dục có tính thực tiễn và hiệu quả, tạo
bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng, đưa nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp
các nước phát triển trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
5
dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010.
Xuất phát từ nhận thức và thức tiễn nêu trên mà việc đề ra CTMTQG
GD&ĐT là hết sức cần thiết. Nó sẽ giải quyết những vấn đề khó khăn, bất cập
về CSVC trong trường học, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục phù
hợp với yêu cầu mới, nâng cao chất lượng trong việc học cả lý thuyết cũng
như thực hành, hỗ trợ giáo dục ở các vùng khó khăn nhằm giảm sự chênh lệch
về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền; đầu tư tập trung xây dựng một số
trường Đại học, Cao đẳng, TCCN trở thành trọng điểm đó là những mục
tiêu chủ yếu của CTMTQG GD&ĐT trong giai đoạn từ 2001 đến 2010.
Chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ
và giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, cơ
chế, chính sách, tổ chức để thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác
định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước trong
một thời gian nhất định.
Một chương trình mục tiêu quốc gia gồm nhiều dự án khác nhau để
thực hiện các mục tiêu của chương trình. Đối tượng quản lý và kế hoạch hóa
được xác định theo chương trình, việc đầu tư được thực hiện theo dự án.
Dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các hoạt
động để tiến hành một công việc nhất định nhằm đạt được một hay nhiều mục
tiêu cụ thể đã được định rõ trong chương trình với nguồn lực và thời hạn thực
hiện được xác định.
1.2.2. Nội dung của chương trình
Thực hiện Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 và Quyết
định số 26/2003/QĐ-TTg ngày 17/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ
6
GD&ĐT thực hiện CTMTQG GD&ĐT giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005,
thông qua 7 Dự án sau đây:
Dự án 1: “Củng cố và phát huy kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học và xóa
mù chữ, thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở”
Dự án 2: “Đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa”
Dự án 3: “Đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường, đẩy
mạnh dạy ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân”
Dự án 4: “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, tăng cường CSVC các
trường sư phạm”
Dự án 5: “Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng còn
nhiều khó khăn”
Dự án 6: “Tăng cường CSVC các trường học, các Trung tâm kỹ thuật
tổng hợp - Hướng nghiệp; xây dựng một số trường Đại học, THCN trọng
điểm”
Dự án 7: “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”
Về Cơ chế quản lý dự án :
- Bộ GD&ĐT quản lý, điều hành, tổng hợp chung tình hình thực hiện
CTMTQG GD&ĐT; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và các
địa phương tổ chức thực hiện các dự án số : 1, 2, 3, 4, 5, 6;
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành có liên quan và các địa phương tổ chức thực hiện dự án số 7.
1.3. Nguồn tài chính thực hiện CTMTQG GD&ĐT
Từ sau Đại hội VI (12/1986) Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu sự
chuyển đổi toàn diện từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế
hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý
của nhà nước (hiện nay gọi là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN). Sự
nghiệp GD&ĐT cũng được phát triển từ một hệ thống giáo dục hầu như được
7
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét