Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Số tiền cần để chi phí cho một công cuộc đầu t khá lớn và phải nằm khê
đọng, không vận động suốt quá trình đầu t.
+ Các thành quả của quá trình thực hiện đầu t cũng do những đặc điểm
trên đây và có thể đợc sử dụng trong nhiều năm, đủ để lại các lợi ích thu đợc t-
ơng ứng và lớn hơn những chi phí đã bỏ ra trong suốt quá trình thực hiện đầu t,
chỉ có nh vậy công cuộc đầu t mới đợc coi là hiệu quả .
+ Nhiều thành quả của quá trình thực hiện đầu t có giá trị sử dụng hàng
trăm ngàn năm nh các công trình kiến trúc cổ trên thế giới.
+ Các thành quả của quá trình thực hiện đầu t là các công trình xây dựng,
kiến trúc nh các nhà máy, hầm mỏ, công trình thuỷ điện, các công trình thuỷ
lợi, đờng xá cầu cống, bến cảng. Để đảm bảo mọi công cuộc đầu t đợc thuận
lợi, đạt mục tiêu mong muốn, đem lại hiệu qảu kinh tế xã hội cao thì trớc khi bỏ
vốn phải làm công tác chuẩn bị. Có nghĩa là phải xem xét tính toán toàn diện
các khía cạnh kinh tế kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trờng xã hội, pháp lý có
liên quan đến quá trình thực hiện và phải dự đoán các yếu tố bất định sẽ xảy ra
trong quá trình kể từ khi thực hiện đầu t đến khi kết thúc sự phát huy tác dụng
( theo dự kiến trong dân) có ảnh hởng đến sự thành bịa của công cuộc đầu t.
Mọi sự xem xét, tính toán và chuẩn bị đợc thể hiện trong dự án đầu t.Có thể nói,
dự án đầu t (đợc soạn thảo tốt) là kim chỉ nam là cơ sở vững chắc, là tiền đề cho
việc thực hiện các công cuộc đầu t đạt hiệu quả kinh tế xã hội mong muốn.
Trong quá trình phát triển sôi động và trọng tâm của nó luôn luôn thay đổi,
cách tiếp cận dự án đứng vững nh một phơng pháp đã tôi luyện để quản lý việc
sử dụng các nguồn lực nhằm đạt đợc những mục tiêu phát triển quan trọng.
Cách tiếp cận này đã giúp các nớc đang phát triển hình thành những tổ chức
vững chắc để làm cho kinh tế tăng trởng trong trật tự, thực hiện những đổi mới
chính sách cần thiết làm cho các dự án đạt kết quả tốt và để tiến hành những
hạng mục đầu t có nghiên cứu thiết kế đúng đắn, khả thi về tài chính và có căn
cứ kinh tế.
Cách tiếp cận theo dự án rất khớp với quan điểm thực dụng trong công
cuộc phát triển ngày càng tăng lên ở nhiều nớc hiện nay. Cộng đồng quốc tế đã
hiểu biết nhiều và các quá trình phát triển và đã hiểu rõ là không thể có một đơn
thuốc hay một khuôn mẫu duy nhất nào vợt qua đợc các vấn đề của sự chậm
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phát triển. Ngày nay sự nghiệp phát triển kinh tế đợc nhận thức là một quá trình
học tập kinh nghiệm lâu dài, chậm rãi và nhiều khi đau xót. Tính phức tạp và
mối quan hệ lẫn nhau trong tổng thể nền kinh tế hiện đại đã bắt buộc các nhà
vạch chính sách phải rèn luyện và phải có đầu óc thực tế.
Nhận xét này càng đợc củng cố do những bớc thăng trầm gần đây của các
nớc suy thoái cắt giảm viện trợ và khủng hoảng nợ nần thay vào việc xây dựng
những mô hình kế hoạch hoá tập trung rất công phu ngời ta đã tập trung sức lực
vào 2 phơng tiện sơ cấp trong tầm kiểm soát của họ để chỉ đạo quá trình tăng tr-
ởng.
+ Một chơng trình đầu t đúng đắn trong khu vực nhà nớc, phân bố các
nguồn lực hiếm hoi cho những yêu cầu u tiên nhất của nhà nớc.
+ Và môi trờng chính sách hấp dẫn những ứng xử của các cá nhân, cá tổ
chức và trong khu vực nhà nớc lẫn t nhân- Điều nhấn mạnh ở đây là cần phải
thực tiễn, chứ không giáo điều, vừa làm vừa học, sử dụng những cái có tác dụng
và bỏ những cái không tác dụng. Điều này ngày càng tỏ ra đúng đắn trong các
nền kinh tế theo cơ chế hạch toán tập trung cũng nh theo cơ chế thị trờng. Trong
bối cảnh này, cách tiếp cận theo dự án tỏ ra là một công cụ linh hoạt, có ích
không kể là nớc đó thuộc hệ thống nào, có loại hình chính phủ nào và đang ở
trong giai đoạn phát triển nào (tăng phát triển ).
Nh vậy, chính phủ đã thực hiện công cuộc phát triển đất nớc thông qua các
dự án phát triển. Nếu nh không có các dự án phát triển mà chỉ có các dự án th-
ơng mại thì chúng ta thử hình dung xem điều gì sẽ xảy ra: một nền kinh tế với
cơ sở hạ tầng thấp kém, không trờng học, bệnh viện, một đất nớc mà tài nguyên
bị cạn kiệt, môi trờng, bị phá huỷ, một xã hội mà ngời giàu ngày càng giàu, ng-
ời nghèo ngày càng nghèo đi
Với những dự án phát triển của mình, chính phủ đa đất nớc hoạt động linh
hoạt theo đúng quỹ đạo, điều khiển đợc những hoạt động trong nền kinh tế đến
đúng mục tiêu đã đề ra. Nếu không, những lợi ích của toàn xã hội sẽ bị chà đạp
bởi các lợi ích cá nhân.
Đối với những nớc kém phát triển và đang phát triển thì dự án phát triển lại
càng có ý nghĩa. Các dự án phát triển không chỉ giúp chính phủ các nớc này
thực hiện đợc các chơng trình đầu t đúng đắn phân bổ các nguồn lực khan hiếm
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vào những lĩnh vực u tiên mà còn là công cụ hữu hiệu để chính phủ kêu gọi sự
giúp đỡ tài trợ của các chính phủ, các tổ chức trên toàn thế giới góp phần phát
triển đất nớc.
Những nớc kém phát triển và đang phát triển có rất nhều công trình phải
thực hiện nhng do ngân sách hạn hẹp, khả năng tài chính thấp do đó cần phải
tranh thủ đợc các nguồn tài trợ của các tổ chức trên thế giới cho các dự án của
mình khi mà mục tiêu của các dự án đó phù hợp với mục tiêu của các tổ chức
này.
Tựu chung lại, quan niệm dự án phát triển đã cung cấp một cách tiếp cận
có hệ thống và phơng pháp để phân tích và quản lý một loạt các hoạt động đầu
t.
2. Ngân hàng đầu t và phát triển với vai trò tài trợ cho dự án phát triển
Trên thế giới, ngân hàng đầu t và phát triển đợc hình thành từ nhu cầu cấp
bách về nguồn vốn trung và dài hạn. Tại các nớc kém phát triển và đang phát
triển, nhu cầu về vốn trung và dài hạn rất lớn, song hệ thống ngân hàng thơng
mại (các thể chế tài chính chủ yếu ở các nớc kém phát triển) lại không có khả
năng tìm kiếm, thoả mãn các yêu cầu ngày. Đầu t của ngân sách nhà nớc thì lại
thờng rất nhỏ do các khoản thâm hụt gây ra; thị trờng chứng khoán kém phát
triển hoặc không có. Do vậy cần tìm kiếm một thể chế tài chính nhằm thoả mãn
các nhu cầu về vốn trung và dài hạn cho phát triển kinh tế.
Ngân hàng phát triển ra đời đáp ứng các mục tiêu xã hội trong tài trợ vốn
trung và dài hạn sự khan hiếm về nguồn vốn trung và dài hạn làm cho giá cả
của nguồn tiền naỳ rất đắt. Vì vậy không thể tài trợ cho các dự án dài hạn có tỷ
lệ sinh lời thấp song lại đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế. Tình
trạng này buộc nhà nớc phải nắm quyền phân phối tín dụng theo lãi suất nhất
định cho những lĩnh vực những ngành nghề cần đợc u tiên.
Bên cạnh đó đã có những dự án mà nhà nớc muốn thay đổi nh một bộ phận
của chiến lợc phát triển song laị đợc tài trợ bằng nguồn vốn vay vì có nh vậy
mới có hiệu quả hơn là cấp phát bằng ngân sách nhà nớc. Ngân hàng phát triển
đã tài trợ cho những dự án nh vậy với sự tham gia của nhà nớc. Ngân hàng phát
triển đã tài trợ cho những dự án nh vậy với sự tham gia của nhà nớc.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngân hàng phát triển ra đời là sự đòi hỏi khách quan về nguồn vốn trung
và dài hạn. Ngân hàng phát triển là một tổ chức kinh doanh nhằm mục tiêu lợi
nhuận và phát triển.
Ngân hàng phát triển hoạt động có lợi nhuận có nghĩa là những khoản cho
vay của ngân hàng thực sự có hiệu quả, nếu ngân hàng có đợc lợi nhuận thì
chứng tỏ rằng nó có khả năng tài trợ cho các dự án và có thể dùng nhiều tiền
hơn cho các dự án vì thế NHTP coi chỉ tiêu hiệu quả tài chính nh một nhân tố
bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Còn mục tiêu phát triển thể hiện
sự tài trợ của ngân hàng đối với các dự án phát triển. Nếu ngân hàng có một dự
án lành mạnh nó sẽ tạo ra sự phù hợp giữa mục tiêu quốc gia và mục tiêu của
Ngân hàng.
Còn Ngân hàng đầu t có nguồn gốc từ các Ngân hàng thơng mại ra đời với
vai trì tìm kiếm các nguồn tài chính trung và dài hạn, thúc đẩy thị trờng chứng
khoán và các công ty cổ phần phát triển, quản lý các doanh mục đầu t cho
khách hàng, t vấn tài chính cho các dịch vụ khác.
Nói chung, NHĐT và phát triển ra đời để đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn
lớn, thời gian sử dụng vốn dài, hay nói cách khác là tài trợ cho các dự án mà
trong đó các dự án phát triển là một đối tọng quan trọng, chủ yếu của các ngân
hàng này.
NHĐT và phát triển Việt Nam ra đời không giống nh các NHĐT và phát
triển trên thế giới, đó là một điều dễ hiểu bởi vì lúc đó chúng ta cha có một hệ
thống ngân hàng nào cả mà nó đợc thành lập với vai trò đại diện cho chính phủ
với nhiệm vụ cấp phát vốn xây dựng đất nớc khi giành độc lập tiến lên
CNXH .Do đó NHĐT và PTVN cha có đầy đủ tính chất nh một NHĐT và phát
triển. Có nghĩa là NHĐT và PTVN cấp phát vốn cho vay bằng nguồn cung cấp
ngân sách nhà nớc cho các công trình xây dựng , cải tạo đất nớc theo chỉ định
của chính phủ, mục tiêu lợi nhuận hầu nh không có, ngân hàng là bộ phận đóng
vai trò thi hành các quyết định của chính phủ trong lĩnh vực cung cấp quản lý
vốn cho nền kinh tế . Đến năm 1990 Hội đồng nhà nớc ban hành hai pháp lệnh
về ngân hàng tách hệ thống Ngân hàng thành hai bộ phận: Ngân hàng trung ơng
là ngân hàng nhà nớc Việt Nam có chức năng quản lý trong lĩnh vực về tiền tệ
và hệ thống các NHTM, NHĐT và phát triển, công ty tài chính, hợp tác xã tín
dụng có chức năng kinh doanh tín dụng dới sự quản lý của NHNN Việt Nam
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
khi đó NHĐT & PTVN đã chủ ý tới lợi nhuận thực sự của ngân hàng. Song cho
đến năm 1997, khi mà nhiệm vụ cấp phát vốn đầu t xây dựng cơ bản chuyển
sang cho tổng cục đầu t, NHĐT & PTVN mới thực sự bớc vào thơng trờng. Và
từ đây NHĐT và PTVN hoạt động nh một tổ chức kinh doanh tiền tệ với mục
tiêu lợi nhuận và mục tiêu phát triển.
II. Một vài chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả cho vay dự án phát
triển tại NHĐT & PT
1. Thực hiện tôt quy trình thẩm định dự án phát triển.
1.1.Vì sao phải thẩm định dự án phát triển trong ngân hàng
Cho vay là một nghiệp vụ ngân hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Cho nên ở bất kỳ một thời kỳ
nào, bối cảnh nào, bối cảnh nào yêu cầu cơ bản của tín dụng ngân hàng vẫn là
"hiện thực khả thi và hiệu quả". Với NHĐT & PT, hoạt động cho vay các dự án
phát triển là phần lớn (chức năng vốn có của nó) vì thời gian cho vay dài, món
vay lớn nên sự rủi ro món vay cao hơn rất nhiều so với NHTM khác. Chính vì
vậy, trớc khi quyết định cho vay một dự án ngân hàng phải xem xét một cách
kỹ lỡng hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ của dự án để hạn chế rủi ro và đảm
bảo lợi nhuận cho ngân hàng.
a. Hạn chế rủi ro:
Với t cách là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, ngân hàng có chức năng chủ
yếu là "nhận tiền gửi để cho vay" có nghĩa dùng tiền của ngời này cho ngời
khác vay do đó hiệu quả sử dụng vốn vay là tiêu chuẩn quan tâm hàng đầu của
ngân hàng. Ngân hàng và doanh nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại lẫn
nhau để cùng phát triển, song có những khách hàng của ngân hàng không đáp
ứng đợc nghĩa vụ trả nợ theo những điều khoản đã thoả thuận làm giảm khả
năng bảo toàn vốn tín dụng của ngân hàng. Nếu ngân hàng xem xét thận trọng
quá trình cho vay và khách hàng làm ăn có hiệu quả, sử dụng vốn vay đúng mục
đích thì sẽ hoàn trả tiền vay đúng thời hạn, Ngân hàng sẽ có tiền thanh toán cho
ngời gửi tiền tránh sự vỡ nợ của ngân hàng. Nhng trong cuộc sống mấy ai học
đợc chữ "ngờ", nợ quá hạn trong các ngân hàng ngày một tăng trong đó nợ quá
hạn trên một năm, nợ khó đòi, nợ không có khả năng thu hồi chiếm tỷ lệ lớn.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Rủi ro tiềm ẩn trong số d nợ không có vấn đề cũng rất cao. Nhng số d nợ t-
ởng chừng nh bình thờng mà lại ẩn chứa nhiều vấn đề không bình thờng, không
đúng quy chế, luật pháp nh:
+ Số d nợ đó đã đợc gia hạn nhiều lần thậm chí nhiều hơn kỳ hạn cho vay
lần đầu.
+ Số d nợ đó đã đợc đòi nợ nhiều lần.
+ Khách hàng dùng vốn vay ngân hàng này trả ngân hàng khác.
+ Nhiều ngân hàng cùng cho một khách hàng với cùng một tài sản thế
chấp mà không biết.
Đó là những vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay , nó báo hiệu cho sự bất
ổn định của hệ thống ngân hàng, nó làm những ai am hiểu về hoạt động ngân
hàng phải kinh hoàng. Vì vậy, điều làm ngời ta lo lắng không chỉ là sự chậm
trễ, sai hẹn trong việc trả nợ mà là khả năng thu hồi của vốn vay cho nên công
tác thẩm định hay phân tích tín dụng càng phải thận trọng.
Tìm những nguyên nhân gây nên những rủi ro chính ở trên ngời ta thấy
rằng: Bên cạnh những nguyên nhân khách quan nh môi trờng kinh tế cha ổn
định, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, hàng hoá sản xuất ra không cạnh
tranh nổi trên thị trờng, hàng nhập ngoại làm cho các doanh nghiệp mau chóng
thua lỗ, phá sản, quản lý nhà nớc còn nhiều sơ hở tạo điều kiện phát triển những
hành vi lừa đảo cộng với quản lý kinh doanh còn non kém thì những nguyên
nhân chính vẫn là:
- Do quy trình thẩm định dự án còn sơ sài, đơn giản, cha tìm đợc giải pháp
tối u dẫn đến thiếu những thông tin chính xác về hoạt động kinh doanh, năng
lực tài chính của khách hàng.
- Thiếu năng lực phân tích và xử lý các thông tin tín dụng, giám sát các
khoản cho vay, đánh giá cao tài sản thế chấp
- Do tổ chức tín dụng hạ thấp tiêu chuẩn cho vay, mặc dù biết khoản vay
này có nhiều rủi ro, nhiều khoản bất lợi có sự vi phạm nguyên tắc tín dụng đã
đến lúc chúng ta không thể chủ quan mà phải nhận thứuc rõ tính phức tạp của
hoạt động tín dụng ngân hàng. Để có đợc quyết định đúng đắn bằng một chữ ký
trong khoảnh khắc, cán bộ tín dụng và các cấp có thẩm quyền cho vay phải tiến
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hành một loạt các quyền cho vay phải tiến hành một loạt các bớc rất phức tạp
đó là "thẩm định tín dụng" với các dự án phát triển thì càng khó khăn hơn, vì tất
cả đều là những dự đoán và thẩm tra cho những thời điểm trong tơng lai thẩm
định dự án để hạn chế rủi ro, bảo toàn vốn vay tạo ra một môi trờng kinh doanh
tiền tệ ổn định và lành mạnh là nền tảng giúp cho ngân hàng đạt đợc những mục
tiêu lợi nhuận.
b. Đảm bảo lợi nhuận ngân hàng.
Dự án đầu t chỉ là những dự tính, dự trữ những yếu tố sẽ xảy ra trong tơng
lai , bởi vậy không phỉa ai cũng nhìn nhận đợc hết tất cả mọi yếu tố, đặc biệt là
những bất trắc rủi ro của dự án. Dự án đợc nhìn nhận theo những góc độ khác
nhau, có thể đối với trờng phái này là hiệu quả nhng trờng phái khác lại không.
Và với ngân hàng cũng vậy, khi bỏ đồng tiền ra thì hải xem xét là nó có thu về
đợc hay không, bởi nó trực tiếp ảnh hỏng tới lợi nhuận của ngân hàng, nếu món
vay không hiệu quả thì thu vốn đã khó chứ đừng nói đến chuyện thu lãi. Nếu
không có lợi nhuận thì ngân hàng khó mà tồn tại đợc, bởi trong thơng trờng bất
kỳ một hoạt động kinh doanh nào thì lợi nhuận vẫn là mục tiêu cơ bản và cuối
cùng.
Vì là ngời trực tiếp bỏ vốn nên quá trình thẩm định dự án hết sức là khó
khăn, đòi hỏi nhà ngân hàng phải có cái nhìn tổng thể, phải có óc phán đoán
khá chính xác và logic chất lợng thẩm định dự án sẽ quyết định sự tồn tại và
phát triển của ngân hàng.
ở nớc ta, trong nền kinh tế tập trung, hoạt động của các ngân hàng chỉ đơn
thuần phục vụ các doanh nghiệp nhà nớc, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch pháp
lệnh, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh, đồng thời nhà nớc cha xem
ngân hàng là bộ phận kinh doanh độc lập, dẫn đến lợi nhuận cảu ngân hàng
không gắn liền với trách nhiệm của cán bộ ngân hàng chuyển sang nền kinh tế
thị trờng, toàn bộ hệ thống ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nớc, lợi
nhuận phụ thuộc vào tiềm năng uy tín và sức cạnh tranh của ngân hàng. Vì vậy
cộng tác thẩm định dự án đã đợc coi trọng và ngày càng hoàn thiện. Đảm bảo
lợi nhuận cho nhà ngân hàng, hạn chế rủi ro không có nghĩa là đi ngợc với lợi
ích khách hàng. Chính kết quả kinh doanh tốt đẹp của khách hàng giúp cho
ngân hàng đạt đợc những mục tiêu hiệu quả sử dụng vốn hạn chế rủi ro và ngợc
lại.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Quá trình thẩm định tín dụng của ngân hàng nằm trong giai đoạn kiểm tra
trớc quy trình tín dụng. Thông qua các thời biểu thực hiện dự án lịch trình nhận
tiền vay và trả nợ đợc dự trù trong dự án ngân hàng mới, có cơ sở vững chắc để
quyết định hoặc từ chối cho vay. Trong giai đoạn kiểm tra trớc này, ngân hàng
phải đối mặt với một thứ rủi ro mà các nhà doanh nghiệp gọi là "lựa chọn đối
nghịch", có thể hiểu nôm na, là sự lựa chọn nhầm khách hàng xác xuất xảy ra
rủi ro càng lớn nếu ngân hàng lần đầu tiên có giao dịch với khách hàng. Giai
đoạn kiểm tra trớc là hết sức quan trọng, song cán bộ tín dụng không chỉ dừng
lại ở đó mà phải thực hiện tiếp giai đoạn kiểm tra trong và sau khi cho vay. Quá
trình này diễn ra sau khi Ngân hàng và doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng tín
dụng. Khi đó, ngân hàng phải đối mặt với rủi ro gọi là "rủi ro đạo đức", nếu nh
sau đó cách sử dụng vốn vay của doanh nghiệp theo hớng không đúng cam kết.
Công tác thẩm định tín dụng này trớc hết vì lợi ích bản thân của ngân hàng
để nâng cao hiệu quả tín dụng và chống rủi ro. Tuy nhiên, trong lĩnh vực đầu t
xây dựng cơ bản thì ngoài việc xem xét các lợi ích về kinh tế còn phải chú trọng
tới các lợi ích về xã hội đạt đợc từ các dự án đầu t. Chính vì thế khi thẩm định
dự án còn phải quan tâm đến các lợi ích kinh tế - xã hội và khi tiến hành thẩm
định cần xác định rõ nhu cầu vay của dự án, vay nh thế nào, khả năng cách thức
trả nợ ra sao, các lợi ích đạt đợc và những rủi ro có thể có của việc đầu t
1.2. Nội dung thẩm định:
a. Nguyên tắc thẩm định:
- Tính phù hợp và khả thi về mặt chính sách .
- Tính khả thi và phù hợp về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội.
- Tính khả thi và phù hợp về môi trờng, ô nhiễm và chống ô nhiễm.
- Tính phù hợp và khả thi về công nghệ kỹ thuật.
- Tính phù hợp và khả thi về trình độ quản lý.
- Tính phù hợp và khả thi về các yếu tố tài chính.
- Tính phù hợp và khả thi về các yếu tố tài chính.
- Tính phù hợp và khả thi về thị trờng.
- Một số khía cạnh đặc biệt khác.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
b. Quy trình thẩm định:
* Thẩm định doanh nghiệp vay vốn.
1b. Phân tích tài liệu trong hồ sơ, tính pháp lý và nội dung khái quát hồ sơ.
- Khi phân tích phải xem xét những văn bản nào đã có, những văn bản nào
còn thiếu( cần phải có). Cán bộ tín dụng phải xem xét tính hợp pháp và hợp lý
của giấy tờ.
- Lập danh mục các văn bản giao nhận hồ sơ.
- Lập danh mục các văn bản còn thiếu, văn bản pháp lý không đủ điều kiện
để doanh nghiệp bổ sung và hoàn thiện.
1b. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
* Phân tích các chỉ tiêu tài chính kinh doanh
+ Nhận xét đánh giá tình hình vốn và tài sản các năm trớc năm vay vốn và
năm vay vốn:
- Tình hình diễn biến qua các năm (tối thiểu 3 năm gần nhất)
- Khả năng tăng trởng hay giảm sút
-Tình trạng và khối lợng của tài sản hiện có (còn tốt hay lạc hậu)
- Khả năng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại về công
nghệ, chất lợng sản phẩm, quy mô công suất.
- Vốn kinh doanh và vốn lu động: thiếu, đủ, thừa,
- Tình hình sử dụng vốn lu động và vốn cố định: vay ngân hàng, chiếm
dụng, đóng góp, cổ phần.
- Tình hình sử dụng vốn khấu hao cơ bản để đầu t.
Cá lý do dẫn đến diễn biến tốt xấu, phơng hớng thời gian tới.
- Nhận xét đánh giá tình hình lợi nhuận và nghĩa vụ phải thực hiện các
năm.
+ Tình hình diễn biến qua các năm (tối thiểu 3 năm gần nhất).
+ Khả năng tăng trởng hay giảm sút
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Nộp thiếu, thừa
+ Đợc miễn giảm để lại.
+ Lỗ, lãi thực hay không thực
+ Tình hình sử dụng quỹ phát triển sản xuất
Các lý do và nguyên nhân dẫn đến tốt xấu phơng hớng cho thời gian
tới.
- Nhận xét, đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ qua các
năm.
+ Tình hình diễn biến qua các năm
+ Khả năng tăng trởng, giảm sút
+ Tình hình về thị trờng .
+ Tình hình về giá cả tiêu thụ
+ Tình hình về giá thành và chi phí sản xuất chi phí dịch vụ ảnh hởng đến
sản xuất và tiêu thụ.
Các lý do và nguyên nhân dẫn đến tốt xấu và phơng hớng cho thời gian
tới.
- Nhận xét đánh giá tình hình công nợ các năm.
+ Tình hình diễn biến qua các năm
+ Khả năng tăng trởng và giảm sút
+ Khả năng thanh toán nợ nguồn thanh toán
+ Nội dung các khoản phải thu và phải trả
+ Tình hình nợ quá hạn và khó đòi
+ Tình hình lợi nhuận với nợ quá hạn , khó đòi, mất vốn
Các lý do và nguyên nhân dẫn đến tốt xấu phơng hớng thời gian tới.
- Phân tích chi phí sản xuất và giá thành.
Nhận xét đánh giá tình hình diễn biến qua các năm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét