Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần May Nông nghiệp.docx

Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
- C: Là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra
sản phẩm, lao vụ ,dịch vụ, như: tài sản cố định , chi phí nguyên vật liệu, công cụ
dụng, năng lượng … Đây là hao phí lao động vật hóa.
-V: Là hao phí tiền công, tiền lương phải trả cho người bán tham gia quá
trình sản xuất tạo ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Nó được gọi là hao phí lao động
sống cần thiết.
- M : Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình tạo ra sản
phẩm mà đơn vị phải bỏ ra hai bộ phận chi phí sản xuất là C và V.
1.2.Phân loại chi phí sản xuất:
CPSX trong doanh nghiệp gồm nhiều loại chi phí có tính chất kinh tế, nội
dung, công việc và mục đích sử dụng không như nhau. Vì vậy, công tác kế toán
cần phải tập hợp từng loại CPSX cụ thể để đáp ứng nhu cầu quản lý từng loại
CPSX góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng CPSX, phấn đấu hạ giá thành sản
phẩm.
Trong doanh nghiệp sản xuất có nhiều cách phân loại CPSX. Để phục vụ
cho công tác quản lý nói chung và công tác quản lý nói riêng, có thể tiến hành
phân loại CPSX theo các tiêu thức dưới đây:
a) Phân loại CPSX theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí:
Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
không phân biệt chúng phát sinh ở đâu, dùng vào mục đích gì để chia thành các
yếu tố chi phí, bao gồm các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu ;
- Chi phí nhân công ;
- Chi phí khấu hao TSCĐ;
- Chi phí dịch vụ mua ngoài;
- Chi phí khác bằng tiền.
b) phân loại chi phí theo mục đích và công dụng của chi phí:
Căn cứ vào mục đích công dụng của CPSX để sắp xếp những CPSX có
cùng công dụng, mục đích vào một nhóm (khoản mục ). Cách phân loại này còn
gọi là CPSX theo khoản mục.
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1
Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
Theo cách phân loại này, tất cả các CPSX phát sinh trong kì đều được
chia ra thành ba khoản mục:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí sản xuất chung.
c) Phân loại CPSX theo phương pháp tập hợp CPSX vào các đối tượng
chịu chi phí:
Theo tiêu thức này, CPSX được chia thành hai loại :
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến một đối tượng
chịu chi phí (một loại sản phẩm, một giai đoạn công nghệ, một phân xưởng sản
xuất… )
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng
chịu chi phí, do vậy cần tiến hành phân bổ chi phí đó cho các đối tượng bằng
phương pháp gián tiếp thông qua các tiêu chuẩn phân bổ hợp lý.
d) Phân loại CPSX theo mối quan hệ với khối lượng hoạt động:
cách phân loại này xem xét mối quan hệ giữa chi phí với kết quả sản xuất:
khối lượng thực hiện hoạt động được, đó là những sản phẩm, công việc lao vụ
dịch vụ đã hoàn thành, đã cung cấp thực hiện.
Theo cách phân loại này, toàn bộ CPSX được chia thành:
- Chi phí khả biến ( biến phí ): là những chi phí có sự thay đổi về lượng
tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lượng sản phẩm sản xuất trong
kì.
- Chi phí cố định (định phí ): là những chi phí không đổi về tổng số dù có
sự thay đổi về mức độ hoạt động sản xuất hoặc khối lượng sản phẩm, công việc,
lao vụ sản xuất trong kì.
- Chi phí hỗn hợp: là khoản CPSX mà bản thân nó bao gồm cả biến phí và
định phí (ví dụ chi phí điện thoại + fax)
e) Phân loại CPSX theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất, chế
tạo sản phẩm:
Căn cứ vào mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất, toàn bộ CPSX
được chia thành:
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1
Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
- Chi phí cơ bản: là những chi phí có mối quan hệ trực tiếp với quy trình
công nghệ, sản xuất chế tạo sản phẩm như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp, khấu hao TSCĐ dùng trực tiếp vào sản xuất, chế tạo sản
phẩm.
- Chi phí chung : là những chi phí phục vụ và quản lý sản xuất mang tính
chất chung toàn phân xưởng, bộ phận sản xuất.
2. Giá thành sản phẩm và phân loại sản phẩm:
2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm:
Hiện nay các doanh nghiệp thực hiện hạch toán kinh doanh độc lập soa
cho đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất đảm bảo nguyên tắc hạch toán lấy thu bù
chi để có lợi nhuận. Để làm được như vậy thì phải cần có nhiều biện pháp khác
nhau, song hạ giá thành sản phẩm là một biện pháp lâu dài. Tuy nhiên, giá thành
sản phẩm vẫn phải phản ánh đầy đủ, chính xác và kịp thời.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Giá thành là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hóa. Nó
vừa mang tính chất khách quan, lại vừa mang tính chất chủ quản trong một giới
hạn nhất định. Bên cạnh đó, giá thành còn là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
toàn bộ chất lượng sản xuất kinh doanh, quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành có thể phản ánh sử dụng hợp lý
và tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, tình hình trang thiết bị , máy móc
sử dụng; sử dụng hợp lý lao động và tăng năng xuất lao động. Tất cả thể hiện
trình độ quản lý của doanh nghiệp. Chính vì thế càng hạ thấp được giá thành là
mục tiêu chung của bất kỳ doanh nghiệp nào.
2.2.Phân loại giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm là căn cứ tính toán hiệu quả kinh tế các hoạt động
sản xuất trong doanh nghiệp, cho nên để giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt
giá thành sản phẩm, kế toán cần phân biệt các loại giá thành khác nhau:
a)Phân loại theo thời gian và cơ sở số liệu tính toán:
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành:
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1
Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
- Giá thành kế hoạch: là giá thành được tính trên cơ sở CPSX kế hoạch
và sản lượng kế hoạch do bộ phận kế toán tính toán trước khi bắt đầu quá trình
sản xuất. Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích ,đánh giá tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức
cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên định mức
được xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm
nhất định trong kì kế hoạch (thường là ngày đầu tháng ) nên giá thành kế hoạch
luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của định mức chi phí đạt trong quá trình
thực hiện kế hoạch giá thành.
- Giá thành thực tế: Là giá thành tính trên cơ sở CPSX thực tế đã phát sinh
và tập hợp được trong kì và sản lượng thực tế đã hoàn thành, giá thành thực tế
chỉ biết được sau khi kết thúc quá trình sản xuất. Giá thành này là căn cứ để so
sánh với giá thành kế hoạch, từ đó phân tích các biện pháp thực hiện để hạ giá
thành và làm căn cứ để xác định kết quả.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác
định nguyên nhân hụt hay vượt định mức chi phí kỳ hạch toán. Từ đó điều đỉnh
kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
b) Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí:
Theo phạm vi chi phí, giá thành chia làm hai loại:
- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản
ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm
trong phạm vi phân xưởng sản xuất.
- Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ hay đầy đủ) : Là chỉ tiêu
phản ánh toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Giá thành Giá thành Chi phí quản Chi phí
toàn bộ của = sản xuất của + lý doanh + bán
sản phẩm sản phẩm nghiệp hàng
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả
kinh doanh ( lãi hay lỗ ) cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp
kinh doanh. Tuy nhiên do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1
Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên
cách phân loại này chỉ mang tính học thuật, nghiên cứu.
3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai mặt của quá trình sản
xuất, giữa chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất để tạo ra
sản phẩm. Chi phí sản xuất thể hiện mặt hao phí , còn giá thành biểu hiện mặt
kết quả của quá trình sản xuất.
Về bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giống nhau vì đều thể
hiện lượng lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh
nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất. Nhưng giữa chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm có sự khác nhau về mặt lượng. Cụ thể:
- Chi phí sản xuất chỉ là những chi phí phát sinh trong một kỳ nhất định
(tháng, quý, năm), không tính đến chi phí đó có liên quan đến số sản phẩm đã
hoàn thành. Giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí sản xuất liên quan đến
khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành ( thành phẩm) .
- Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ, còn giá thành sản phẩm liên quan đến
chi phí sản xuất kỳ trước chuyển sang kỳ này, chi phí phát sinh kỳ này và số chi
phí kỳ này chuyển sang kỳ sau.
- Chi phí sản xuất không gắn liền với số lượng, chủng loại sản phẩm hoàn
thành, trong khi đó giá thành sản phẩm lại quan tâm đến khối lượng, chủng loại
sản phẩm hoàn thành.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện qua
công thức sau:
Giá thành
sản phẩm
=
CPSX sản phẩm
dở dang đầu kỳ
+
CPSX phát
sinh trong kỳ
-
CPSX sản phẩm
dở dang cuối kỳ
Mặt khác chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu phản
ánh chất lượng của hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên để có thể
tính được giá thành sản phẩm thực tế thì phải tiến hành hạch toán chi phí sản
xuất một cách đúng đắn, đầy đủ và chính xác. Từ đó có thể phân tích, đánh giá
tình hình thực hiện các định mức chi phí và dự toán chi phí, tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành sản phẩm giúp cho doanh nghiệp đưa ra những quyết định,
chính sách đúng đắn.
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1
Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
4. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
4.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất:
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất mà phạm vi giới hạn mà các chi phí
sản xuất cần tập hợp theo nó. Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thực
chất là xác định địa điểm phát sinh các chi phí sản xuất cần tập hợp theo nó.Đối
tượng chịu chi phí ở doanh nghiệp khác nhau thì việc xác định được căn cứ vào
các yếu tố như:
- Căn cứ vào tính sản xuất và tính chuyên môn hóa.
- Căn cứ vào tính chất sản xuất, loại hình sản xuất,địa điểm sản xuất của
doanh nghiệp.
- Căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch, đối tượng tính giá thành, yêu cầu về trình độ
quản lý của doanh nghiệp.
Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là vấn đề then chốt, đảm
bảo tổ chức đúng đắn công tác kế toán chi phí sản xuất từ khâu hạch toán ban
đầu đến khâu ghi sổ kế toán, phục vụ tốt cho việc tăng cường công tác hạch toán
kinh tế, giảm bớt khối lượng công tác kế toán và phục vụ cho công tác tính giá
thành sản phẩm được kịp thời đúng đắn.
4.2. Đối tượng tính giá thành:
Đối tượng tính giá thành là lượng thành phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ
hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Căn cứ vào đặc điểm, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh loại sản
phẩm , lao vụ,dịch vụ của doanh nghiệp để xác định đối tượng giá thành cho
phù hợp. Ngoài ra cần căn cứ vào quy trình công nghệ của doanh nghiệp. Nếu
quy trình giản đơn thì đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở cuối
quy trình công nghệ. Ngược lại, nếu quy trình công nghệ phức tạp theo kiểu liên
tục thì đối tượng tính giá thành có thể là bán thành phẩm ở giai đoạn cuối. Xác
định đúng đối tượng tính giá thành phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp giúp
kế toán mở sổ sách kế toán, các bảng tính giá thành và tính giá thành cho từng
đối tượng quản lý và kiểm tra tình hình kế hoạch giá thành sản phẩm có hiệu
quả, đáp ứng nhu cầu quản lý của doanh nghiệp.
4.3. Sự giống và khác nhau giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối
tượng tính giá thành:
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1
Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành giống nhau ở bản
chất chung: Chúng đều là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí, theo đó cùng
phục vụ cho công tác quản lý, phân tích, kiểm tra chi phí và tính giá thành. Song
bên cạnh đó chúng còn có những điểm khác nhau:
- Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là nơi phát sinh chi phí và
chịu chi phí.
- Xác định đối tượng tính giá thành là việc xác định thành phẩm,bán thành
phẩm, công việc ,lao vụ có thể cần thiết và tính giá thành đơn vị.
5. Nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm:
Để tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đáp
ứng tốt yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở doanh
nghiệp, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành cần thực hiện tốt các nhiệm vụ
sau:
- Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm phù hợp với chế độ của nhà nước và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
- Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán phù hợp với phương pháp kế toán
hàng tồn kho mà doanh nghiệp đã áp dụng.
- Tổ chức tập hợp, phân bổ, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo
đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định, theo các yếu tố chi
phí và các khoản mục giá thành.
- Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố, định kỳ tổ chức chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp.
- Tổ chức kiểm kê và đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang khoa học, hợp
lý, xác định giá thành và hạch toán giá thành sản5 phẩm hoàn thành sản xuất
trong kỳ một cách đầy đủ và chính xác.
III / NỘI DUNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT:
Để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành,
các chi phí được tập hợp vào tài khản tính giá thành theo ba khoản mục:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí sản xuất chung.
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1
Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu… được xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản
phẩm. đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối
tượng tập hợp chi phí riêng biệt ( phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm,
loại sản phẩm, lao vụ… ) thì tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó. Trường hợp vật
liệu xuất dùng có liên quan trực tiếp đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không
thể tổ chức hạch toán riêng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián
tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng liên quan. Tiêu thức phân bổ đều được
sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng, số
lượng sản phẩm… Công thức phân bổ như sau:
Chi phí vật liệu Tổng tiêu thức Tỷ lệ
Phân bổ cho = phân bổ của x ( hay hệ số )
từng đối tượng từng đối tượng phân bổ
Trong đó:
Tỷ lệ (hệ số ) = _ Tổng chi phí vật liệu cần phân bố________
Phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng
Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài
khoản 621 “ Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp”. Tài khoản này cuối kì không có
số dư và được mở chi tiết theo từng đối tượng kế toán chi phí (phân xưởng, bộ
phận sản xuất, sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng…).
1.1. Trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê
khai thường xuyên:
Kế toán nguyên vật liệu trực tiếp được tiến hành như sau:
* Tập hợp giá trị nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho việc chế tạo sản
phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ:
- Trong kì kế toán căn cứ vào phiếu xuất kho nguyên vật liệu chính, nguyên
vật liệu phụ sử dụng trực tiếp vào sản xuất sản phẩm.
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1
Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
Sơ đồ kế toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ( KKTX )
TK 151, 152, 331, 111, 112, 411, …
TK 621
TK 154
TK 152
TK 632
Vật liệu dùng trực tiếp
Chế tạo sản phẩm, tiến hành lao vụ, dịch vụ
Kết chuyển chi phí
nguyên , vật liệu trực tiếp
Vật liệu dùng không hết
nhập kho hay chuyển kỳ sau
Chi phí NVL trực tiếp
vượt mức bình thường

1.2.Trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp
kiểm kê định kỳ:
Để phản ánh các chi phí vật liệu đã xuất dùng cho sản xuất sản phẩm, kế
toán sử dụng tài khoản 621 “ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” . Các chi phí
được phản ánh trên TK 621 không ghi theo từng chứng từ xuất dùng nguyên vật
liệu mà được ghi một lần vào cuối kì hạch toán, sau khi tiến hành kiểm kê và
xác định được giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đang đi đường.
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1
Chuyờn đề cuối khúa Học viện tài
chính
Sơ đồ kế toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ( KKĐK )
TK 151,152
TK 621
TK 611
Tăng trong kỳ
Giá trị vật liệu
TK 331,111, 112,
311,411
dùng chế tạo sản phẩm
hay thực hiện dịch vụ
Giá trị nguyên,vật liệu
chua dùng cuối kỳ
Giá trị vật liệu
TK 631
Kết chuyển
chi phí nguyên,
vật liệu trực tiếp
Kết chuyển giá trị vật liệu chưa dùng đầu kỳ
2.Kế toán chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản thù lao lao động phải trả cho người lao
động trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như
tiền lương chính, tiền lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương ( phụ
cấp khu vực, đắt đỏ, độc hại, phụ cấp làm đêm, thêm giờ … ). Ngoài ra chi phí
SV : éặng Mạnh Cường Lớp K33- C1

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét