Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán của các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.doc


Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
một cách dễ dàng. Tính thanh khoản là một yếu tố làm tăng sự hấp dẫn của TTCK
với công chúng đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động, càng hiệu quả thì càng có
khả năng nâng cao tính thanh khoản của các CK và càng thu hút được nhiều nhà
đầu tư tham gia thị trường.
- Thứ tư, TTCK là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trên TTCK, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và
chính xác. Qua đó nó tạo ra môi trường cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,
giúp các doanh nghiệp tự mình phải đổi mới trang thiết bị, công nghệ và nâng cao
chất lượng hoạt động mới có thể giành thắng lợi trong nền kinh tế thị trường, nơi
mà yếu tố cạnh tranh đang ngày càng trở nên khốc liệt.
- Thứ năm, TTCK giúp cho Chính phủ thực hiện việc quản lý vĩ mô nền kinh
tế. Do TTCK rất nhạy cảm nên có thể thấy rằng những động thái trên TTCK phản
ánh một cách chính xác các biến động của nền kinh tế, qua đó Chính phủ có thể
đưa ra các quyết định một cách nhanh chóng và hợp lý. Mặt khác, Chính phủ cũng
có thể thông qua thị trường chứng khoán mua bán các loại trái phiếu để bù đắp
thiếu hụt ngân sách, điều tiết lượng tiền cung ứng trên thị trường và quản lý lạm
phát.
1.2 Các chủ thể tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán
1.2.1 Tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành là những tổ chức thực hiện việc huy động vốn thông qua thị
trường chứng khoán bằng cách phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái
phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư để niêm yết trên thị trường, tạo ra những hàng hóa
chủ đạo trên thị trường chứng khoán.
Nhờ có thị trường chứng khoán, các hàng hóa này mới có được tính thanh
khoản, các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi có thể chuyển thành vốn dài hạn để đầu tư
cho phát triển kinh tế.
1.2.2 Nhà đầu tư
Là những cá nhân hoặc tổ chức có vốn tạm thời nhàn rỗi tham gia mua bán
trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Các nhà đầu tư tổ chức thường là các
quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính, các quỹ lương hưu Đây
5

Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
là những nhà đầu tư có tiềm lực tài chính dồi dào, có kinh nghiệm và có những ảnh
hưởng không nhỏ đến hoạt động của thị trường chứng khoán.
1.2.3 Các công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán (CTCK) là những công ty hoạt động trong lĩnh vực
chứng khoán bằng cách cung cấp các dịch vụ cho công chúng đầu tư hoặc trực tiếp
đứng ra kinh doanh CK để tạo ra lợi nhuận. Các CTCK có vai trò vô cùng quan
trọng trên TTCK. Nó là cầu nối giữa nhà đầu tư và TTCK. Để có thể tham gia mua
bán trên TTCK, nhà đầu tư phải tìm đến các CTCK như là trung gian môi giới để
nhờ họ mua bán hộ và nhà đầu tư phải trả cho các công ty này một khoản lệ phí hoa
hồng nhất định. Họ có vai trò quan trọng trong quá trình khơi nguồn vốn từ người
tiết kiệm tới những người có cơ hội sử dụng vốn tiết kiệm đó để sinh lời. CTCK
còn là nơi phát triển các nghiệp vụ kinh doanh CK làm cho TTCK trở nên đa dạng
và phong phú, từ đó hấp dẫn và thu hút được nhiều khách hành quan tâm và tham
gia vào TTCK.
Bên cạnh các tổ chức kể trên, để TTCK có thể hoạt động được an toàn và hiệu
quả còn phải kể đến các cơ quan quản lý thị trường đó là Uỷ ban chứng khoán và
Sở giao dịch chứng khoán.
Uỷ ban chứng khoán nhà nước là cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và
thị trường chứng khoán, chịu trách nhiệm trước Nhà nước hoặc Chính phủ đề ra các
quy định pháp quy mang tính chất bắt buộc cho mọi đối tượng tham gia vào hoạt
động trên thị trường chứng khoán cũng như giám sát việc thực hiện những quy
định đó.
Sở giao dịch chứng khoán, (Trung tâm giao dịch chứng khoán) là cơ quan trực
thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, trực tiếp triển khai những điều kiện và cơ sở
vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc niêm yết và giao dịch các chứng khoán.
Sơ đồ 1.1 - Cơ cấu thị trường chứng khoán
6
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Sở giao dịch
chứng khoán
Các công ty CK,
công ty lưu ký

Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
2. Công ty chứng khoán
2.1 Khái niệm công ty chứng khoán (Securities Company)
Khi một doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành CK, họ cần
phải nhờ đến những nhà chuyên nghiệp mua bán CK cho họ. Đó là công ty CK - với
nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và bộ máy tổ chức thích hợp, họ
thực hiện được vai trò trung gian môi giới mua bán, phát hành chứng khoán, tư vấn
đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư và người phát hành.
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty chứng
khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông, buôn bán tấp nập trên thị trường
chứng khoán, qua đó, một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ những
nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng hợp lại. Như vậy, “Công ty chứng khoán là một
tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng hoạt động theo
chế độ
hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của UBCKNN cấp"
[5]
.
5 5
GS. NGƯT Đinh Xuân Trình và PGS.TS. Nguyễn Thị Quy, “Giáo trình thị trường chứng khoán” của Trường ĐH
Ngoại Thương, NXB Giáo Dục, T.120
7
Trung tâm thanh
toán bù trừ và
lưu ký CK
Ngân hàng thanh toán
được chỉ định
Trung tâm
đào tạo
ngành CK
Các tổ chức
đầu tư
Các cá nhân
đầu tư
Các Ngân hàng
thương mại có tài
khoản tiền gửi của
các tổ chức và
cá nhân đầu tư

Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
Công ty chứng khoán có thể được thành lập dưới nhiều hình thức khác nhau
như công ty nhà nước, công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, có thể
độc lập hoặc trực thuộc ngân hàng thương mại hay các tổ chức tài chính khác.
Các công ty chứng khoán muốn tham gia hoạt động trên TTCK phải xin phép
UBCKNN, phải đáp ứng được những qui định do UBCK đề ra như mức vốn tối
thiểu, hay yêu cầu về kinh nghiệm trong hoạt động tài chính Tùy theo quy định
của mỗi nước mà điều kiện thành lập công ty CK khác nhau. Chẳng hạn ở Hàn
Quốc, sắc lệnh của tổng thống quy định mức vốn tối thiểu cho một công ty chứng
khoán là 50 tỷ Won, ở Việt Nam thì tùy vào các loại hình kinh doanh cụ thể mà
mức vốn tối thiểu quy định khác nhau, nếu thực hiện đầy đủ năm loại hình kinh
doanh theo quy định thì mức vốn tối thiểu là 43 tỷ đồng
[ 6]
.
2.2 Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
Các công ty CK được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán phải
tuân theo các nguyên tắc cụ thể sau:
[ 7 ]
- Giao dịch trung thực và công bằng, vì lợi ích của khách hàng.
- Kinh doanh có kỹ năng, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm.
- Phải có hợp đồng với khách hàng khi thực hiện các dịch vụ cho họ.
- Không tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng
đầu tư hiểu sai về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động
gây thiệt hại cho khách hàng.
- Phải đảm bảo có đủ đội ngũ nhân viên kinh doanh CK có kỹ năng, có trình
độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của TTCK.
- Tách biệt tài sản của khách hàng với tài khoản của mình nhằm bảo vệ tài sản
của khách hàng.
- Không được bán chứng khoán mình không sở hữu, hoặc khi không có lệnh
của khách hàng, trừ trường hợp được UBCKNN cho phép.
- Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh CK với khách hàng.
6
6
TS. Nguyễn Sơn và TS. Nguyễn Quốc Việt, “Thị trường chứng khoán Việt Nam - Mô hình và bước đi”, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000
7
PTS. Đinh Xuân Hạ, “Quản lý và các nghiệp vụ giao dịch trên thị trường chứng khoán”, NXB Thống kê, Hà Nội
1999, T. 328
8

Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
- Không nhận lệnh mua hoặc bán chứng khoán của khách hàng ngoài phạm vi
công ty hoặc ngoài SGDCK.
- Không tham gia các hoạt động kinh doanh ngoài phạm vi giấy phép được cấp.
2.3 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian, kinh doanh chứng
khoán chuyên nghiệp. Ở hầu hết các quốc gia, công ty chứng khoán thường kinh
doanh 3 loại nghiệp vụ cơ bản:
[8]

* Môi giới chứng khoán, tức là mua bán CK cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
* Tự doanh, tức là mua bán CK bằng vốn của mình để hưởng chênh lệch giá.
* Bảo lãnh phát hành, tức là làm trung gian phát hành CK cho tổ chức phát
hành với các hình thức bảo lãnh: bảo lãnh chắc chắn, bảo lãnh cố gắng tối đa và các
hình thức bảo lãnh khác.
Theo thời gian, do đòi hỏi của thị trường và nhu cầu phát triển của bản thân
công ty CK, ngày càng nhiều các nghiệp vụ phụ trợ phát sinh như: tư vấn đầu tư;
quản lý danh mục đầu tư; quản lý tài khoản; lưu ký CK và thanh toán
2.3.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một
công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế
giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán (Trung tâm giao dịch chứng khoán) hay thị
trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế
của việc kinh doanh đó. Hoạt động với tư cách là nhà đại lý, công ty chứng khoán
sẽ được hưởng hoa hồng môi giới. Rủi ro mà nhà môi giới chứng khoán hay gặp
phải là các khách hàng của mình hoặc nhà môi giới giao dịch khác có thể không
thực hiện việc thanh toán đúng thời hạn. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán là nghiệp
vụ quan trọng nhất của các công ty chứng khoán.
2.3.2 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Nghiệp vụ tự doanh là một nghiệp vụ kinh doanh trong đó CTCK mua bán CK
với kinh phí của mình, rủi ro do chính công ty chịu và họ có thể làm thêm nhiệm vụ
tạo thị trường cho một loại CK nào đó. Nhà giao dịch có lãi hay chịu lỗ tùy thuộc
8
8
Bùi Nguyên Hoàn, “Thị trường chứng khoán và các công ty cổ phần”, năm 2001, T. 103
9

Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
vào sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán CK và biến động chung của giá CK do
họ nắm giữ.
Do tự doanh CK là nghiệp vụ phức tạp và khả năng rủi ro có thể xảy ra lớn, để
đảm bảo kinh doanh CK có lợi và chấp hành luật pháp của nhà nước về quản lý tự
doanh CK, CTCK muốn thực hiện nghiệp vụ này cần có điều kiện như:
- Mức vốn phải đáp ứng được quy định của UBCKNN, chẳng hạn như ở Nhật
Bản là 3 tỷ yên; ở Đài Loan là 20 triệu đô la Đài Loan; còn ở Việt Nam là 12 tỷ đồng.
- Ban giám đốc và nhân viên kinh doanh chứng khoán của công ty phải có kiến
thức và kinh nghiệm về nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
2.3.3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành là việc CTCK hỗ trợ đơn vị phát hành huy động vốn bằng
cách bán CK trên thị trường. Sự hỗ trợ đó giúp đơn vị phát hành nắm chắc khả
năng huy động vốn và có kế hoạch sử dụng vốn huy động. Có 3 hình thức bảo lãnh
phát hành mà thế giới thường áp dụng: bảo lãnh chắc chắn, bảo lãnh cố gắng tối đa,
bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không.
Để thực hiện việc bảo lãnh phát hành, công ty CK và công ty phát hành phải
tiến hành ký kết một bản hợp đồng, trong đó phải có những điều khoản cơ bản như:
phương thức bảo lãnh; giá CK khi bán trên thị trường; quyền và nghĩa vụ mỗi bên
2.3.4 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư
Thông qua việc phân tích CK trên thị trường, phân tích tình hình tài chính của
doanh nghiệp, phân tích các dự án đầu tư các công ty CK sẽ cung cấp các thông
tin và tư vấn cho các nhà đầu tư một cách có hiệu quả.
Nghiệp vụ này không yêu cầu phải có vốn lớn mà đòi hỏi các công ty CK phải
có đội ngũ cán bộ tư vấn có kiến thức và kỹ năng chuyên môn cao, đưa ra những
nhận xét và phán đoán đúng, phù hợp với diễn biến cũng như những thay đổi của
thị trường. Tuy nhiên đối với nghiệp vụ này, nhà tư vấn luôn luôn phải tỏ ra thận
trọng khi đưa ra những lời bình luận về giá trị của các loại CK vì điều này có thể
ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý và quyết định của các nhà đầu tư.
2.3.5 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
10

Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
Đây là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán và nắm
giữ các CK vì quyền lợi của khách hàng. Trong hoạt động này khách hàng ủy thác
cho công ty CK thay mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những
nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận.
Để thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư khách hàng và công ty phải
tìm hiểu nhau, thấy được khả năng và có độ tin cậy lẫn nhau. Khi khách hàng ký
hợp đồng với công ty CK, công ty phải sử dụng kinh nghiệm của mình trong kinh
doanh CK để đầu tư vốn cho khách hàng; đồng thời phải tuân thủ những quy định
cam kết trong hợp đồng, tách biệt với các nghiệp vụ khác như tự doanh hay môi
giới CK nhằm đảm bảo lợi ích của khách hàng, tránh những mâu thuẫn có thể xảy ra.
II - TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN
1. Môi giới chứng khoán là gì?
1.1 Lịch sử hình thành
Trong nền kinh tế thị trường, môi giới chứng khoán chính là một trong những
khâu then chốt nhất của môi giới tài chính. Khái niệm môi giới tài chính thực chất
đã xuất hiện và phổ biến từ những năm 50 của thế kỷ này. Vào lúc đó, ở những
quốc gia phát triển, sự phân công chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực tài chính đã
vô hình tạo ra các “vách ngăn” giữa một bên là các ngân hàng, các công ty tài chính
với một bên là các nhà tư bản công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ,
buôn bán bất động sản Kết quả là nhiều khối tài sản, nhiều nguồn tài chính khổng
lồ bị “đóng băng”, từ đó gây ra những thiệt hại to lớn cho xã hội, và có thể trở thành
“ngòi nổ” cho các cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ như đã từng diễn ra trong
lịch sử. Và chính các hoạt động môi giới tài chính đã “hâm nóng” và “đánh thức”
các khối tài sản này, làm chúng chuyển hóa có hiệu quả tới các “địa chỉ” đầu tư, tạo
điều kiện thuận lợi cho chu trình luân chuyển sinh lợi và thu hồi vốn ở những mức
độ
khác nhau, hướng tới một thị trường phát triển sôi động và công bằng.
[ 9]
Trong lịch sử nền kinh tế của loài người, hoạt động môi giới tài chính đã xuất
hiện khá sớm trong lịch sử tiền tệ. Có thể nói, tiền thân của hoạt động môi giới tài
chính là người thợ vàng, người làm nghề đổi tiền, sau đó tới các hoạt động đầu tư
9
Steven R. Drozdect và Karl F. Gretz, “Broker's edge”, American
11

Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
bất động sản, đầu tư và kinh doanh CK Ngày nay, các ngân hàng thương mại,
quỹ đầu tư cũng tham gia vào hoạt động này, bên cạnh đó là các công ty môi
giới, các nhà môi giới chuyên nghiệp được hình thành trong lĩnh vực kinh doanh
CK. Sự xuất hiện này cũng là do tính tất yếu của việc phát triển TTCK và nhu cầu
của công chúng đầu tư. Thoạt tiên, rất nhiều người cho rằng ai cũng có thể bước
vào TTCK để mua bán các CK mà họ cần. Song trong thực tế, việc này không đơn
giản đến như vậy bởi bản thân TTCK luôn luôn chứa đựng sự biến động mà không
phải ai cũng có thể dự tính được. Hơn nữa, có nhiều thông tin mà chỉ một số
chuyên gia nhất định có đủ trình độ chuyên môn, có khả năng tài chính mới dự báo
được. Chính vì thế, nếu muốn đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường
chứng khoán, chắc chắn nhà đầu tư sẽ phải thông qua - trực tiếp hoặc gián tiếp -
một tổ chức trung gian của thị trường. Các công ty CK có hệ thống đường dây và
các cơ quan chi nhánh ở các thành phố lớn, điều đó làm cho các dịch vụ của họ có
khả năng phục vụ công chúng đầu tư CK một cách có hiệu quả và nhanh chóng. Vì
thế, các nhà đầu tư hoàn toàn có thể tin tưởng vào các nhà MGCK này.
Tóm lại, các nhà môi giới chứng khoán là chiếc cầu nối giữa nhà đầu tư với
nhà phát hành trên TTCK. Các nhà đầu tư buộc phải thông qua các trung gian môi
giới chứng khoán để mua bán chứng khoán không chỉ do nguyên tắc hoạt động
trung gian của SGDCK mà còn vì chính lợi ích của họ nhờ vào sự giúp đỡ của các
nhà MGCK. Nếu không có những người môi giới có sự phân tích cần thiết về
chứng khoán dựa trên những căn cứ xác đáng để có những nhận xét kỹ lưỡng, thì
người đầu tư có thể bị lầm lẫn hoặc bị lường gạt. Vì lẽ đó, sự hình thành và phát
triển hoạt động MGCK là một điều tất yếu.
[ 10]
1.2 Khái niệm môi giới chứng khoán
Hoạt động MGCK là điều kiện cơ bản kiến tạo nên hoạt động của TTCK. Đối
với nhiều nước, hoạt động MGCK được xem là hạt nhân của TTCK. Điều này bắt
nguồn từ nguyên tắc chủ đạo đối với hoạt động của TTCK là chỉ dựa vào các hoạt
động giao dịch được cấp phép giữa những người trung gian làm nghề MGCK.
MGCK là một hoạt động kinh doanh CK trong đó một công ty CK đại diện cho
khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hay thị
10
Bùi Nguyên Hoàn, “Thị trường chứng khoán và các công ty cổ phần”, NXB Chính trị quốc gia, năm 2001, T. 103
12

Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế
của việc giao dịch đó.
[ 11]
Với cách tiếp cận như vậy, người môi giới chứng khoán, hiểu theo nghĩa rộng,
là những người trung gian mua bán CK cho khách hàng để hưởng hoa hồng; trung
gian mua bán CK bằng vốn của mình; và là người bảo lãnh phát hành cho những tổ
chức phát hành CK. Đó có thể là các tổ chức tài chính quốc doanh, hoặc tổ chức tài
chính thuộc khu vực kinh tế tư nhân với hai hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
hoặc công ty cổ phần.
MGCK là một hoạt động chuyên môn chứ không phải là loại “cò” như cò nhà,
cò đất, cò xe cũng không phải là loại trung gian chỉ trỏ như nhiều người vẫn
quan niệm. Các tổ chức hay cá nhân hành nghề MGCK phải cân nhắc rất nhiều khi
tiến hành công đoạn môi giới cho khách hàng vì quyền lợi của họ gắn liền với sự
thành công trong các thương vụ của khách hàng. Để trở thành một nhà MGCK giỏi,
có tiếng tăm và có nhiều khách hàng chỉ có thể làm được nếu như khách hàng
của nhà môi giới đó thu được nhiều lợi nhuận. Ở các TTCK có tổ chức, các nhà
MGCK không hoạt động với tư cách cá nhân độc lập. Mỗi cá nhân người MGCK
dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng thường đại diện cho công ty chứng khoán. Vì
vậy, các công ty chứng khoán phải chọn người môi giới có phẩm chất đạo đức, có
kiến thức chuyên môn về TTCK nói chung và về MGCK nói riêng.
[ 12]
1.3 Phân loại môi giới chứng khoán
Theo sự phát triển của TTCK, những người môi giới trong lĩnh vực chứng
khoán cũng dần dần phát triển theo hướng chuyên môn hóa, theo lĩnh vực hoạt
động, hay loại hình cung cấp dịch vụ
1.3.1 Phân loại theo loại dịch vụ cung cấp
Nếu như đánh giá theo tiêu chí loại dịch vụ cung cấp thì người ta thường chia
môi giới trung gian làm hai loại là: môi giới toàn phần và môi giới bán phần.
[13]
a. Môi giới toàn phần ( Full - service)
11
PTS. Đinh Xuân Hạ, “Quản lý và các nghiệp vụ giao dịch trên thị trường chứng khoán”, NXB Thống kê, Hà Nội
1999, T. 328
12
Bùi Nguyên Hoàn, “Thị trường chứng khoán và các công ty cổ phần”, NXB Chính trị quốc gia, năm 2001, T. 101
13
TS. Trần Thị Thái Hà, “Một số vấn đề về hình thành và phát triển nghề MGCK”, (UBCKNN 2000), T. 35
13

Khóa luận tốt nghiệp Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới chứng
khoán
Là những người MGCK có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ có liên quan đến
chứng khoán cho khách hàng như: đại diện cho khách hàng để thương lượng mua
hoặc bán chứng khoán; thay mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan đến
chứng khoán của khách hàng Họ cung cấp một dải dịch vụ hoàn hảo, từ việc đưa
ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên, đến việc theo dõi tài khoản
và kịp thời đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng. Tóm lại, với tư
cách là một cố vấn tài chính, người MG dịch vụ đầy đủ có thể phục vụ người đầu tư
với nhiều ý tưởng tốt và sản phẩm tốt, giúp nhà đầu tư giải quyết các vấn đề của
mình.
b. Môi giới giảm giá (Discount - service)
Là những người môi giới chỉ cung cấp một số ít dịch vụ, tùy theo sự ủy nhiệm
của khách hàng. Hoạt động chủ yếu của họ là giúp khách hàng thực hiện các lệnh
mua, bán chứng khoán. Những người môi giới chứng khoán này thích hợp với các
nhà đầu tư tự mình đưa ra các quyết định mua bán mà không muốn lời khuyên hay
kết quả nghiên cứu đầu tư của nhà môi giới chứng khoán. Tuy nhiên, với loại hình
MGCK này, nhà đầu tư dễ gặp rủi ro hơn so với loại hình MGCK toàn phần, nhưng
chắc chắn mức phí hoa hồng môi giới sẽ thấp hơn môi giới chứng khoán toàn phần.
1.3.2 Phân loại theo hoạt động của nhà môi giới chứng khoán
Có một số loại nhà môi giới chứng khoán, tùy theo hoạt động của họ, được
phân loại như sau:
[14]
a. Các nhà môi giới của hãng dịch vụ hoa hồng (Commission House Brokers)
Thành viên chính của SGDCK là các công ty môi giới chứng khoán (hay còn
là hãng dịch vụ hoa hồng - commission firm). Theo hình thức này, công ty tính cho
khách hàng của mình tỷ lệ hoa hồng trên các dịch vụ của mình. Các nhà môi giới
của công ty thực hiện lệnh cho khách hàng của mình trong phòng giao dịch của
SGDCK gọi là “nhà môi giới của hãng dịch vụ hoa hồng” hay “nhà môi giới trong
phòng giao dịch”.
b. Nhà môi giới 2 đôla (Two - dollar broker)
14
1
4
Học viện tài chính NewYork, Hoa Kỳ, “Những kiến thức cơ bản về thị trường chứng khoán và môi giới chứng
khoán”, NXB Thế giới Hà Nội 1993, T. 72
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét