Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Nghiên cứu tổng hợp các mô hình sản phẩm mộc thuộc nhóm ghế phòng ăn theo hệ thống tạo dáng

Để nâng cao tiện nghi sử dụng, sản phẩm mộc dùng để nằm và ngồi
có thể đợc cấu tạo ở dạng có bọc đệm, đợc gọi là đồ mộc bọc đệm hay mộc
mềm.
2.1.2. Phân loại sản phẩm mộc.
Nh chúng ta đã biết, sản phẩm mộc rất đa dạng và phong phú cả về
mặt tạo dáng, kết cấu, chất liệu cũng nh chức năng sử dụng do sự đòi hỏi
của cuộc sống. Để phân loại sản phẩm mộc chúng ta có thể căn cứ vào
những quan điểm khác nhau phù hợp với yêu cầu nghiên cứu, phát triển
cũng nh tổ chức của xã hội. Thông thờng có thể sử dụng các cách phân loại
chủ yếu sau đây:
- Phân loại theo ngành sản xuất.
- Phân loại theo ngành sử dụng.
- Phân loại theo cấu tạo sản phẩm.
- Phân loại theo cách tạo dáng sản phẩm.
- Phân loại theo chất liệu làm sản phẩm.
Và một số cách phân loại khác nh: Dựa vào tính hiện đại - tính dân tộc
của sản phẩm, màu sắc, chất lợng sản phẩm, giá thành
Những việc phân loại nói trên thờng chỉ mang tính chất tơng đối, bởi vì
nó phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau mà ngời ta lựa chọn
cách phân loại.
Trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển sản xuất hàng mộc, thì quan
điểm phân loại sản phẩm mộc theo sử dụng, tạo dáng và cấu tạo là rất có ý
nghĩa. Sau đây là một số phơng pháp phân loại:
a) a) Phân loại theo vật liệu chính:
- Sản phẩm mộc gỗ tự nhiên: Là những sản phẩm mộc mà gỗ tự
nhiên là chính (các chi tiết chính, tỷ lệ gỗ tự nhiên trong sản phẩm lớn hơn
5
nhiều so với các vật liệu khác), những nguyên vật liệu khác ngoài gỗ tự
nhiên chỉ chiếm tỷ lệ rất ít so với gỗ tự nhiên.
Những sản phẩm gỗ tự nhiên nh: Các đồ mỹ nghệ (bàn, ghế, bàn
thờ ), sản phẩm mộc cao cấp gỗ tự nhiên (bàn, ghế, gi ờng, tủ ) và một
số sản phẩm khác
- Sản phẩm mộc ván nhân tạo: Là những sản phẩm đợc cấu thành từ
ván nhân tạo (hòm, tủ, bàn, cánh cửa ).
- Sản phẩm mộc sử dụng vật liệu thay thế gỗ:
+ Thay thế một phần bằng kim loại, nhựa, kính nh: mặt bàn, chân
bàn, chân ghế, ô cửa kính, chân giờng, khung cửa nhôm, khung tủ nhôm,
cánh tủ kính (cánh kéo), đệm giờng, đệm ghế .
+ Thay thế toàn bộ bằng mây tre nhựa hay kết hợp với các loại vật
liệu khác: Bàn ghế nhựa, tủ quần áo(khung sắt kết hợp với vải lụa ), tủ
kính khung nhôm, bàn ghế mây tre đan ghế khung kim loại kết hợp với
đệm mút hoặc cao su
b) b) Phân loại theo chức năng.
- Chức năng trực tiếp con ngời tựa lên sản phẩm: Là những sản
phẩm mộc đợc sử dụng với những công dụng phục vụ trực tiếp cho những
nhu cầu của con ngời: Ghế để ngồi, bàn để viết hay ăn uống, giờng để
nằm
- Chức năng gián tiếp với con ngời: Đó là sản phẩm mộc mà con ngời
sử dụng không trực tiếp tựa nên nó .
+ Sản phẩm mộc bày biện: Tủ trng bày, các đồ trang trí khác (rồng,
phợng, hổ, tợng ngời ).
+ Sản phẩm mộc có công dụng cất đựng: Tủ, hòm, giá, kệ
c) c) Phân loại theo hình thức cơ bản.
6
- Hình thức ghế: Ghế là một sản phẩm mộc đợc sử dụng rộng rãi
trong đời sống hàng ngày. Chức năng của ghế là để ngồi với nhiều mục
đích khác nhau cho nên cấu tạo của ghế cũng hết sức đa dạng. Kết cấu
chung của ghế là kết cấu giá đỡ. Theo đặc thù sử dụng, chúng ta có các loại
ghế sau: Ghế tựa, ghế đẩu, ghế sa lông, ghế hội trờng, ghế xích đu Nói
chung ghế đợc thiết kế chủ yếu là để đỡ trọng lợng cơ thể con ngời ở nhiều
t thế khác nhau nh ngồi ăn, ngồi viết, ngồi đọc, ngồi làm việc, ngồi th giãn
- Hình thức bàn: Bàn là một sản phẩm mộc mà bộ phận chủ yếu là
để đáp ứng chức năng sử dung của nó là mặt bàn và kết cấu chủ yếu chỉ có
chân và mặt. Ngoài ra bàn còn có thể đợc cấu tạo thêm các bộ phận khác
trong quá trình sử dụng. Ví dụ trên bàn có thể cấu tạo thêm ngăn kéo,
buồng đựng tài liệu, ngăn để sách, ngăn để đồ dùng Bàn đ ợc thiết kế chủ
yếu là nhằm vào các yêu cầu là: Bàn để đồ ăn-uống, bàn làm việc, bàn để
viết, bàn để đọc sách
- Hình thức hòm: Hòm là một loại sản phẩm mộc có chức năng chủ
yếu để đáp ứng chức năng sử dụng của nó là cất đựng.
- Hình thức tủ : Tủ là loại đồ mộc có chức năng cất đựng. Nó bao
gồm nhiều kiểu loại khác nhau, thích ứng với từng điều kiện sử dụng riêng.
Các loại tủ thông dụng có tên nh: Tủ áo, tủ hồ sơ, tủ trng bày, tủ cất đựng,
tủ đa năng
- Hình thức giờng: Giờng là một loại sản phẩm mộc mà bộ phận chủ
yếu để đáp ứng chức năng sử dụng của nó là để nằm. Bao gồm nhiều loại
giờng khác nhau, thích hợp với từng điều kiện sử dụng riêng. Có loại giờng
một, giờng đôi, giờng rộng gi ờng có bộ phận để đồ đạc ở phần đầu giờng
(thuốc, đèn, sách báo ), gi ờng không có bộ phận để đồ đạc
d) d) Phân loại theo nơi sử dụng.
Theo sử dụng có thể phân loại sản phẩm mộc nh sau:
7
- Sản phẩm mộc gia đình: Là những sản phẩm mộc đợc sử dụng trong
các gia đình, nó bao gồm: Sản phẩm mộc dùng trong phòng khách (bàn,
ghế, tủ ), sản phẩm mộc dùng trong phòng ngủ (gi ờng, tủ ), sản phẩm
mộc dùng trong nhà bếp (tủ, ghế, bàn ), sản phẩm mộc dùng trong phòng
ăn (bàn, ghế, tủ ).
- Sản phẩm mộc dùng trong các công trình công cộng: sản phẩm mộc
dùng trong văn phòng (bàn, ghế), trờng học (bàn, ghế, tủ), nhà hát (bàn,
ghế), nhà thờ (bàn, ghế), chùa triền (tợng, bàn, ghế), hội trờng (bàn, ghế)
Theo chức năng từng loại sản phẩm, sản phẩm mộc đợc phân thành các
nhóm chủ yếu sau:
- Sản phẩm cất đựng (tủ, hòm ).
- Sản phẩm ngồi (ghế).
- Sản phẩm nằm (giờng).
- Sản phẩm có mặt bàn (bàn ).
- Sản phẩm có chức năng kết hợp.
e) Phân loại theo đặc điểm cấu tạo.
Theo đặc điểm cấu tạo, sản phẩm mộc có thể đợc phân ra nh sau:
- Sản phẩm mộc dạng tủ.
- Sản phẩm mộc dạng giá đỡ.
- Sản phẩm dạng hòm.
Mặt khác, dựa vào những đặc điểm nổi bật về cấu tạo, sản phẩm
mộc có thể phân ra thành các nhóm sau đây:
- Sản phẩm mộc có cấu tạo dạng tấm phẳng: tủ ván nhân tạo, cánh
cửa.
- Sản phẩm mộc có kết cấu dạng khung: một số kiểu bàn.
8
- Sản phẩm mộc có kết cấu dạng cột: giờng.
- Sản phẩm mộc có kết cấu dạng hồi liền: tủ, hòm.
- Sản phẩm mộc có kết cấu dạng giá đỡ: ghế.
- Sản phẩm mộc có kết cấu đặc biệt khác.
Ngoài ra, trong những phạm vi hẹp các sản phẩm mộc còn có thể đợc
phân chia theo từng kiểu thiết kế đợc hình thành trên các quan điểm về
công nghệ, về lắp đặt, về đặc trng của tạo dáng.
Sau đây giới thiệu một loại sơ đồ tiêu biểu phân loại đồ mộc theo
chức năng sử dụng và đặc điểm cấu tạo:
f). Phân loại theo tạo dáng:
Phân loại sản phẩm mộc theo hình thức tạo dáng là một hình thức
phân loại chỉ có tính tơng đối. Để phân loại sản phẩm mộc theo hình thức
tạo dáng ta dựa vào hình thức đặc trng của sản phẩm mộc để phân loại. Và
ta có thể có các nhóm sau đây:
- Sản phẩm mộc có hình thức dạng khối.
9
Sản phẩm mộc
Tủ Bàn
Ghế
Giường
Tấm
phẳng
Kết cấu
cột
Hồi liền Giá đỡ
Kết cấu
khung
- Sản phẩm mộc dạng tấm.
- Sản phẩm mộc dạng thanh.
Mặt khác dựa vào đặc điểm nổi bật về kiểu dáng, thì sản phẩm mộc
có thể phân ra thành các nhóm sau:
- Sản phẩm mộc có kiểu dáng động vật.
- Sản phẩm mộc có kiểu dáng thực vật.
- Sản phẩm mộc có kiểu dáng các đồ dùng vật dụng.
- Sản phẩm mộc có kiểu dáng đặc biệt.
Ngoài ra còn có thể phân loại sản phẩm mộc theo các đặc điểm khác
nữa nh: phân loại theo đặc điểm liên kết, phân loại theo sự phân hạng về
sự đáp ứng nhu cầu thị hiếu, phân loại theo hình thức kết hợp giữa các sản
phẩm mộc, phân loại theo đặc trng về đờng nét tạo dáng.
2.2. Yêu cầu chung của sản phẩm mộc.
2.2.1. Các yêu cầu cơ bản.
- Yêu cầu về sử dụng: Sản phẩm mộc trớc hết phải đảm bảo yêu cầu
về sử dụng. Yêu cầu về sử dụng bao gồm các yêu cầu về chức năng (hay độ
bền); thuận tiện và tiện nghi trong sử dụng. Yêu cầu độ bền có nghĩa là
đảm bảo yêu cầu về chịu lực trong quá trình sử dụng. Yêu cầu về tiện lợi
trong sử dụng ví dụ nh cánh tủ đóng mở dễ dàng (tự đóng); sản phẩm di
chuyển dễ dàng yêu cầu về tiện nghi ví dụ nh nằm, ngồi thoải mái (ghế,
giờng), hay bàn viết phải đủ cao để có khoảng trống để chân thoải mái
Để đảm bảo yêu cầu về sử dụng cần chú ý đến điều kiện sử dụng, tân
sinh lý của ngời sử dụng cũng nh tính chất của nguyên vật liệu.
- Yêu cầu về thẩm mỹ: Sản phẩm đòi hỏi phải đẹp, đợc ngời sử dụng
yêu thích. Để sản phẩm đẹp, phải tạo dáng hài hoà; màu sắc, vân thớ tạo đ-
ợc thẩm mỹ cao.
10
- Yêu cầu về tính kinh tế: Sử dụng nguyên vật liệu hợp lý;
Công nghệ gia công chế tạo dễ dàng, giá thành hạ. Sản phẩm tốt có
cấu tạo chắc chắc, bền lâu mang ý nghĩa kinh tế lớn đối với ngời sử dụng
cũng nh đối với xã hội.
2.2.2. Phân tích các yêu cầu cơ bản.
a) Yêu cầu về sử dụng.
Dù nói gì về sản phẩm đó, sản phẩm đó đẹp hay rẻ tiền, hay chất liệu
tốt thì trớc tiên để đánh giá sản phẩm thì ta phải xem xét sản phẩm mộc đó
có đảm bảo yêu cầu về sử dụng hay không? Vậy yêu cầu về sử dụng bao
gồm những gì? Yêu cầu sử dụng bao gồm yêu cầu an toàn về chức năng (độ
bền); thuận tiện và tiện nghi trong sử dụng. Yêu cầu bền là đảm bảo điều
kiện chịu lực trong qu á trình sử dụng với những phơng hớng chịu lực
khác nhau.
Yêu cầu về tiện lợi trong sử dụng ví dụ nh cánh tủ đóng mở dễ dàng
(tự đóng). Sản phẩm di chuyên dễ dàng yêu cầu về tiện nghi ví dụ nh
nằm, ngồi thoải mái (giờng, ghế) hay bàn viết phải đủ cao để có khoảng
trống để chân thoải mái
Với một sản phẩm cụ thể nào đó thì nó đều chứa đựng một chức
năng xác định, ngoài ra nó còn có thể có các chức năng phụ khác ví dụ nh:
Chức năng chính của ghế là để ngồi, chức năng phụ là đôi khi nó còn đợc
dùng để đứng lên nó; chức năng chính của giờng là để nằm, đôi khi nó có
chức năng là để ngồi; chức năng của tủ có khi chức năng chính là để cất
đựng nhng cũng có khi chức năng chính là để trng bày Nh vậy khi thiết
kế, sản suất thì phải đáp ứng đợc chức năng của nó, tức là sản phẩm nào
thì có chức năng đó.
11
Bên cạnh đó còn có một số điểm quan trọng liên quan đến chức năng
sử dụng đó là kích thớc sản phẩm, kích thớc sản phẩm phẩi luôn tuân theo
kích thớc của đối tợng sử dụng. Dựa vào đó thì chúng ta mới đánh gí đợc
sản phẩm đó có phù hợp với chức năng sử dụng hay không thì ta mới có
thể nói đến các yêu cầu khác.
Ví dụ: Kích thớc cơ bản của cái ghế tựa:
- Chiều cao mặt ngồi phụ thuộc vào chiều cao đầu gối ngời sử dụng.
- Chiều rộng mặt ngồi phụ thuộc vào chiều rộng mông .
- Chiều sâu mặt ngồi phụ thuộc vào chiều dài đùi.
Để đảm bảo yêu cầu về sử dụng ngoài các vấn đề trên, ta cần phải
chú ý đến điều kiện sử dụng và tâm sinh lý của đối tợng sử dụng để ta thiết
kế sản phẩm và sử dụng nguyên vật liệu cũng nh màu sắc một cách hợp lý.
b. Yêu cầu thẩm mỹ.
Với ngời tiêu dùng thì mọi sản phẩm phải có đợc độ thẩm mỹ cao và
hợp với yêu cầu sử dung của đối tợng sử dụng. Kết lại là sản phẩm đó phải
đợc ngời sử dụng yêu thích. Để sản phẩm đẹp phải tạo dáng hài hoà; màu
sắc, vân thớ tạo đợc giá trị thẩm mỹ cao.
Mỗi sản phẩm đều đợc tạo nên một hình dạng, kết cấu và kích thớc
xác định. Với những yếu tố đó cùng với các tổ hợp đờng nét, cấu tạo đ ợc
thể hiện trên một sản phẩm mộc và kết hợp với các yếu tố khác (chất liệu,
mầu sắc ) thì sản phẩm mộc đ ợc thể hiện theo một kiểu dáng thể loại
riêng biệt của nó và đợc con ngời thể hiện nó trong một không gian xác
định nào đó.
Một sản phẩm mộc có một chất lợng tốt có nghĩa là sản phẩm đó
không có khiếm khuyết gì về mặt kỹ thuật, bên cạnh đó còn đợc tạo dáng
một cách hài hoà chất l ợng của một sản phẩm mộc là tổng hợp từ mọi
12
thông số xác định, khả năng sử dụng và tính chất thẩm mỹ cũng nh kết
cấu của nó đ ợc quy định bởi ngời yêu cầu.
Vì vậy, để đánh giá chất lợng của một sản phẩm theo yêu cầu chung
của xã hội trớc hết phải xem xét chủ yếu kỹ thuật của nó và ớc lợng đánh
gía về tạo dáng có đẹp hay không. Từ đó ta thấy rằng, một trong những
nội dung cơ bản của việc thiết kế một sản phẩm mộc là tạo dáng sản phẩm.
Nh vậy, nhiệm vụ tạo dáng trong công tác thiết kế một sản phẩm mộc là
rất quan trọng, bởi chỉ một thiếu sót nhỏ có thể dẫn đến một hậu quả
không thể lờng trớc đợc về chất lợng sản phẩm. Việc tạo dáng sản phẩm
mộc phải đảm bảo phù hợp với việc sử dụng hợp lý với công nghệ chế tạo.
Để đạt đợc các yêu cầu đó, khi thiết kế tạo dáng cần phải chú ý đến việc
vận dụng các nguyên lý về mỹ thuật.
Sau đây là một số nguyên lý thờng đợc quan tâm trong thiết kế tạo dáng
sản phẩm mộc:
- Sự phân chia các bề mặt: Sự phân chia cách sắp xếp trên bề mặt có
thể cân đối hài hoà hay không cân đối. Sự cân đối ở đây đợc hiểu theo một
cách tơng đối, đó là sự cân đối về thị lực. Có nghĩa là khi con ngời nhìn vào
thì cảm nhận đợc sự cân đối. Việc phân chia các phần phải chú ý đến các
quy luật sau:
+ Quy luật cân bằng đối xứng: Quy luật này dựa trên những quy
luật của tự nhiên về đối xứng, quy luật đối xứng đợc vận dụng vào tạo
dáng, tạo cảm giác im lặng yên tĩnh, cân bằng và ổn định.
+ Quy luật cân bằng bất đối xứng: Quy luật này đợc vận dụng vào
trong việc tạo dáng các đồ dùng. Sự cân bằng bất đối xứng tạo cho sản
phẩm sinh động, nhng khó thực hện sự cân bằng này. Bố trí bất đối xứng
cần chú ý đến tính hệ thống của các phần tử để tạo ra sự cân bằng thị lực.
Sự cân bằng ở đây cũng có tính quy luật, song chỉ có ngững ngời nhạy cảm
mới tạo nên đợc và nhận ra nó.
13
+ Quy luật trọng tâm ánh sáng: Các phần trên bề mặt có ảnh hởng
đến nhau về độ lớn, màu sắc vị trí của chúng trên bề mặt. Nhìn vào phần
trên bề mặt chúng ta có cảm giác mỗi phần có trọng tâm ánh sáng, chính
việc tổng hợp các trọng tâm ánh sáng này đã tạo ra cho ta cảm giác chung
về sản phẩm cân đối hay không cân đối, ổn định hay không ổn định, chắc
chắn hay dễ bị đổ vỡ. Trọng tâm ánh sáng phải tập trung vào phía dới và
phía giữa thì sẽ cân bằng và ổn định.
- Nguyên lý về tỷ lệ: Các cạnh của một bề mặt, các kích thớc của chi
tiết này so với chi tiết khác, độ lớn của phần này so với độ lớn của phần
khác đều tạo cho con ng ời một cảm giác về tỷ lệ. Nếu tỷ lệ mà hợp lý thì
nó sẽ cho ta một cảm giác về sự hài hoà hoàn thiện của sản phẩm, a thích
sản phẩm. Còn ngợc lại nếu tỷ lệ kích thớc của sản phẩm đó không hợp lý
thì sẽ cho ta cảm giác bất hợp lý, thiếu sự hài hoà hay một cảm giác bấp
bênh, không thiện cảm với sản phẩm đó. Có rất nhiều yếu tố ảnh hởng đến
cảm giác tỷ lệ khác nhau do sự ảnh hởng của các yếu tố đến cảm giác con
ngời.
- Nguyên lý về màu sắc và đờng nét: Màu sắc và đờng nét trang trí
trên bề mặt sản phẩm gắn liền với hình dạng, nó tạo ra giá trị thẩm mỹ của
một sản phẩm. Màu sắc, và vân thớ cũng phản ánh sự hài hoà hay không
hài hoà của sản phẩm. Khi nhìn vào sản phẩm mộc chúng ta cảm nhận
ngay về màu sắc và vân thớ cũng nh đờng nét trang trí trên sản phẩm sau
đó mới đến hình dạng của nó. Mọi bề mặt sản phẩm đều có màu sắc riêng
của nó, mỗi màu sắc đều tạo nên cảm giác riêng đối với con ngời. Màu sắc
còn tạo ra sự tơng phản có giá trị thẩm mỹ, để làm nổi bật phần nào đó của
sản phẩm, ngời ta dùng quy luật tơng phản về màu sắc, độ nóng lạnh của
màu cùng với quan hệ về độ đậm nhạt và mức độ bão hoà quyết định sức
mạnh thị giác, nó sẽ hấp dẫn sự chú ý của chúng ta mang lại rõ nét một vật
và tạo ra không gian. Tất nhiên là bất kỳ sản phẩm nào cũng đợc tạo ra từ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét