Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Mặc dù các biện pháp kiểm soát rủi ro rất có hiệu quả trong việc ngăn
chặn hoặc giảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể
lường hết được hậu quả.
+ Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận
rủi ro và bảo hiểm. Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy ra
với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có.
+ Chấp nhận rủi ro: Đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự
chấp nhận khoản tổn thất đó. Một trường hợp điển hình của chấp nhận rủi ro
là tự bảo hiểm. Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận
rủi ro, tuy nhiên có thể phân chia làm hai nhóm: chấp nhận rủi ro thụ động và
chấp nhận rủi ro chủ động. Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người gặp tổn
thất không có sự chuẩn bị trước và họ có thể phải vay mượn để khắc phục hậu
quả tổn thất. Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quĩ dự trữ dự
phòng và quỹ này được sử dụng để bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra. Tuy
nhiên, việc này dẫn đến việc nguồn vốn không được sử dụng một cách tối ưu
hoặc nếu đi vay thì sẽ bị động và còn gặp phải các vấn đề gia tăng về lãi
suất…
- Bảo hiểm: Đây là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý
rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân. Theo quan điểm của các nhà quản lý
rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Theo quan điểm
xã hội, bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do
việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về các tổn thất
khi chúng xảy ra. Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro
gây ra, có hiệu quả nhất. Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏi khách quan của
cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đòi hỏi về sự tự chủ và sự an toàn về tài chính cũng như các nhu cầu
của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và khôn thể thiếu đối
với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Ngày nay, sự giao lưu kinh
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tế, văn hoá giữa các quốc gia càng phát triển thì bảo hiểm cũng ngày càng mở
rộng.
Vì vậy, khái niệm "bảo hiểm" trở nên gần gũi, gắn bó với con người,
với các đơn vị sản xuất kinh doanh. Có được quan hệ đó vì bảo hiểm đã mang
lại lợi ích kinh tế xã hội thiết thực cho mọi thành viên, mọi đơnvị có tham gia
bảo hiểm.
Tác dụng đó được thể hiện:
- Người tham gia bảo hiểm (cá nhân hay tổ chức) được trợ cấp, bồi
thường những thiệt hại thực tế do rủi ro, bất ngờ gây ra thuộc phạm vi bảo
hiểm. Nhờ đó họ nhanh chóng ổn định kinh tế, khôi phục đời sống và sản xuất
kinh doanh…
- Nhờ có bảo hiểm những người tham gia đóng góp một số phí tạo
thành nguồn quỹ bảo hiểm lớn ngoài chi trả hay bồi thường còn là nguồn vốn
để đầu tư phát triển kinh tế…
- Bảo hiểm, nhất là bảo hiểm thương mại còn đóng góp tích luỹ cho
ngân sách…
- Bảo hiểm cùng với người tham gia bảo hiểm thực hiện các biện pháp
để phòng ngừa tai nạn xảy ra nhằm giảm bớt và hạn chế hậu quả thiệt hại.
- Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức; giúp họ
yên tâm trong cuộc sống, trong sinh hoạt sản xuất kinh doanh; bảo hiểm thể
hiện tính cộng đồng, tương trợ, nhân văn sâu sắc.
- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các
nước, nhất là thông qua hoạt động tái bảo hiểm v.v
- Cuối cùng, hoạt động bảo hiểm thu hút một số lao động nhất định, góp
phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội (theo thống kê, bảo hiểm các
nước thu hút 1% lực lượng lao động xã hội).
2. Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ
Để không ngừng phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước, bảo hiểm phi nhân thọ đã luôn chú trọng phát triển các nghiệp vụ nhằm
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
đa dạng hoá sản phẩm Bảo hiểm, đáp ứng được nhu cầu da dạng và phong
phú của con người. Hiện nay nếu căn cứ vào đối tượng bảo hiểm phi nhân thọ
được chia làm 3 loại:
- Bảo hiểm tài sản
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
- Bảo hiểm con người phi nhân thọ.
2.1. Bảo hiểm tài sản
Đây là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu
động) của người được bảo hiểm. Ví dụ như: Bảo hiểm cho thiệt hại vật chất
xe cơ giới, bảo hiểm cho hàng hoá của các chủ hàng trong bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu, bảo hiểm tài sản của ông chủ nhà trong bảo hiểm trộm cắp.
Các bảo hiểm về tài sản đều có một số đặc điểm chung sau:
a) Áp dụng nguyên tắc bồi thường khi thanh toán chi trả bảo hiểm. Số
tiền bồi thường mà bên được bảo hiểm nhận được trong mọi trường hợp
không được vượt quá thiệt hại thực tế trong sự cố bảo hiểm. Ví dụ, một chủ
xe máy tham gia bảo hiểm cho toàn bộ chiếc xe của mình trị giá 20 triệu
đồng. Trong một vụ tai nạn, xe bị hư hỏng giá trị thiệt hại là 8 triệu đồng, số
tiền bồi thường mà chủ xe nhận được trong bất kỳ trường hợp nào cũng chỉ là
8 triệu đồng.
b) Áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp khi xuất hiện người thứ ba
có lỗi và do đó có trách nhiệm đối với thiệt hại của người được bảo hiểm.
Theo nguyên tắc này, sau khi trả tiền bồi thường, người bảo hiểm sẽ được
hưởng các quyền và hành động của người bảo hiểm để thực hiện việc truy đòi
trách nhiệm của người thứ ba có lỗi. Nguyên tắc thế quyền hợp pháp nhằm
đảm bảo quyền lợi của người bảo hiểm, chống lại hành vi rũ bỏ trách nhiệm
của người thứ ba có lỗi, đồng thời đảm bảo cả nguyên tắc bồi thường.
Lấy lại ví dụ trên, trong vụ tai nạn lỗi một phần là của xe ô tô đi ngược
chiều (70%). Lúc này, thiệt hại 8 triệu đồng của chủ xe máy sẽ được truy cứu
rách nhiệm 5,6 triệu đồng của ông chủ xe ô tô (70% x 8 tr.đ = 5,6 triệu đồng).
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Sau khi bồi thường 8 triệu đồng theo hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cho chủ
xe máy, công ty bảo hiểm được thay quyền của chủ xe máy này truy đòi trách
nhiệm 5,6 triệu đồng đối với chủ xe ô tô. Nguyên tắc thế quyền được áp dụng,
và người được bảo hiểm trong ví dụ này (chủ xe máy) cũng không thể nhận số
tiền bồi thường vượt quá 8 triệu đồng thiệt hại, như vậy nguyên tắc bồi
thường được đảm bảo.
Tuy nhiên, có một số ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp
pháp, đó là khi người thứ ba gây lỗi là trẻ em, hoặc là con cái, vợ chồng, cha
mẹ… của người được bảo hiểm.
c) Bảo hiểm trùng: Trong bảo hiểm tài sản, nếu một đối tượng bảo hiểm
đồng thời được bảo đảm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một rủi ro
với những người bảo hiểm khác nhau, những hợp đồng bảo hiểm này có điều
kiện bảo hiểm giống nhau, thời hạn bảo hiểm trùng nhau, và tổng số tiền bảo
hiểm từ tất cả những hợp đồng này lớn hơn giá trị bảo hiểm của đối tượng
bảo hiểm đó thì gọi là bảo hiểm trung.
Trong trường hợp có bảo hiểm trung, tuỳ thuộc vào nguyên nhân xảy ra
để giải quyết. Thông thường, bảo hiểm trung liên quan đến sự gian lận của
bên tham gia bảo hiểm nhằm trục lợi bảo hiểm. Do đó, về nguyên tắc chung,
công ty bảo hiểm có thể huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu phát hiện thấy gian
lận. Ngược lại, nếu các công ty bảo hiểm chấp nhận bồi thường thì lúc này,
trách nhiệm của mỗi công ty đối với tổn thất sẽ được phân chia theo tỷ lệ
trách nhiệm mà họ đảm nhận. Cụ thể:
= x
Trên thực tế, một trong số các công ty bảo hiểm đã cấp hợp đồng cho
đối tượng được bảo hiểm trùng này có thể sẽ đứng ra bồi thường theo số thiệt
hại thực tế, sau đó sẽ đòi lại các công ty khác phần trách nhiệm của họ.
d) Một số chế độ bồi thường bảo hiểm áp dụng trong bảo hiểm tài sản
- Chế độ bảo hiểm theo nguyên tắc trách nhiệm vượt giới hạn (theo mức
miễn thường):
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với những tổn thất mà giá trị
thiệt hại thực tế vượt quá một mức đã thoả thuận (mức miễn thường). Miễn
thường là một hình thức từ chối bồi thường của công ty bảo hiểm dựa trên
một số tiền quy định. Có hai loại miễn thường: Miễn thường có khấu trừ và
miễn thường không khấu trừ.
Trong chế độ bảo hiểm miễn thường có khấu trừ tổn thất được bồi
thường phải đảm bảo yêu cầu lớn hơn mức miễn thường quy định nhưng khi
bồi thường sẽ bị trừ đi mức miễn giảm này.
= -
Chế độ bảo hiểm miễn thường không khấu trừ bảo đảm chi trả cho
những tổn thất vượt quá mức miễn thường nhưng số tiền bồi thường không bị
khấu trừ theo mức miễn thường:
=
Chế độ miễn thường được áp dụng nhằm loại trừ các hao hụt tự nhiên
thương mại thường phát sinh trong quá trình chuyên chở đối với một số loại
hàng hoá đặc biệt ra khỏi trách nhiệm của người bảo hiểm. Tránh cho người
bảo hiểm phải bồi thường những tổn thất quá nhỏ so với giá trị bảo hiểm đồng
thời dành một tỷ lệ không bồi thường để bên được bảo hiểm cùng chịu trách
nhiệm và có ý thức hơn trong đề phòng hạn chế rủi ro.
- Chế độ bảo hiểm theo tỷ lệ
Có hai loại bảo hiểm được áp dụng: Tỷ lệ số tiền bảo hiểm/giá trị bảo
hiểm (STBH/GTBH) và tỷ lệ số phí đã nộp. Tỷ lệ STBH/STBH được áp dụng
trong các trường hợp bảo hiểm dưới giá trị:
= x
Còn trong trường hợp có sự khai báo có sự khai báo không chính xác
rủi ro, bên bảo hiểm thường áp dụng tỷ lệ thứ hai để thanh toán nếu chấp nhận
bồi thường:
= x
- Chế độ bảo hiểm theo rủi ro đầu tiên:
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Số tiền bồi thường bảo hiểm được trả sẽ dựa vào số tiền bảo hiểm được
thoả thuận , tức là:
Số tiền bồi thường ≤ số tiền bảo hiểm
2.2. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Bên cạnh các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản còn có các nghiệp vụ bảo
hiểm trách nhiệm dân sự như : bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới ,bảo hiểm
TNDS của chủ lao động , Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm , bảo hiểm trách
nhiệm công cộng, …Theo luật dân sự , trách nhiệm dân sự của một chủ thể
( như chủ tài sản, chủ doanh nghiệp, chủ nghề nghiệp…) được hiểu là trách
nhiệm phải bồi thường các thiệt hại về tài sản, về con người… gây ra cho
người khác do lỗi của người chủ đó. Trách nhiệm dân sự bao gồm trach
nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Thông
thường các dịch vụ bảo hiểm cung cấp sự bảo đảm cho các trách nhiệm dân
sự ngoài hợp đồng.
Vì đối tượng được bảo hiểm là phần trách nhiệm dân sự phát sinh của
người được bảo hiểm đối với người bị thiệt hại (một người thứ ba khác) nên
trong loại bảo hiểm này người được bảo hiểm là người có trách nhiệm dân sự
cần được bảo đảm và cũng thường là người tham gia bảo hiểm. Còn người thụ
hưởng quyền lợi bảo hiểm lại là những người thứ ba khác. Người thứ ba trong
bảo hiểm trách nhiệm dân sự là những người có tính mạng, tài sản bị thiệt hại
trong sự cố bảo hiểm và được quyền nhận bồi thường từ người bảo hiểm với
tư cách là người thụ hưởng. Người thứ ba có quan hệ về mặt trách nhiệm dân
sự với người được bảo hiểm nhưng chỉ có mối quan hệ gián tiếp với người
bảo hiểm.
Cần chú ý trong một số nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự, người
thụ hưởng có thể xác định cụ thể hơn tên gọi của nghiệp vụ. Ví dụ, đó là
người lao động gặp tai nạn lao động trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ
lao dộng đối với người lao động.
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Mặc dù, đối tượng được bảo hiểm của loại bảo hiểm này là một khái
niệm trừu trượng khi hợp đồng được ký kết. Tuy vậy, trách nhiệm bồi thường
của bảo hiểm vẫn căn cứ vào các thiệt hại thực tế xảy ra cho người thứ ba. Vì
vậy, bảo hiểm trách nhiệm dân sự cũng được coi là bảo hiểm thiệt hại như bảo
hiểm tài sản và cũng áp dụng một số nguyên tắc như: nguyên tắc bồi thường,
nguyên tắc thế quyền hợp pháp.
2.3. Bảo hiểm con người phi nhân thọ
Mặc dù cũng là loại hình bảo hiểm con người, nhưng bảo hiểm con
người phi nhân thọ trong BHTM có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Hậu quả của những rủi ro mang tính chất thiệt hại vì rủi ro bảo
hiểm ở đây là tai nạn, bệnh tật, ốm đau thai sản liên quan đến thân
thể và sức khoẻ của con người. Những rủi ro ở đây khác với 2 sự
kiện “sống” và “chết” trong bảo hiểm nhân thọ và vì thế tính chất
rủi ro được bộc lộ khá rõ còn tính chất tiết kiệm không được thể
hiện.
- Người được bảo hiểm thường được quy địn trong một khoảng tuổi
nào đó, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho
những có độ tuổi quá thấp hoặc quá cao tình trạng rủi ro diễn biến
phức tạp, xác suất rủi ro cao, việc kiểm soát và quản lý rủi ro rất
khó thực hiện. Chẳng hạn ở nước ta, các công ty bảo hiểm không
chấp nhận bảo hiểm cho những em bé dưới 12 tháng tuổi và những
người trên 65 tuổi. Nhưng ở nước Anh lại quy định khác, những
đứa trẻ dưới 3 tuổi và những người trên 65 tuổi không được các
công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm.
- So với bảo hiểm nhân thọ, thời hạn bảo hiểm con người phi nhân
thọ ngắn hơn và thường là 1 năm như: Bảo hiểm tai nạn 24/24, bảo
hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật Thậm chí có nghiệp vụ, thời
hạn bảo hiểm chỉ trong vòng vài ngày, phí bảo hiểm thường được
nộp 1 lần khi ký kết hợp đồng bảo hiểm.
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
- Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ thường được triển
khai kết hợp với các nghiệp vụ bảo hiểm khác trong cùng một hợp
đồng bảo hiểm. Chẳng hạn: bảo hiểm tai nạn được lồng ghép trong
bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, bảo hiểm tai nạn lái phụ xe được triển
khai kết hợp với bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm vật chất
thân xe trong trường hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới v.v Việc
triển khai kết hợp náy sẽ làm cho chi phí khai thác, chi phí quản
lý của công ty bảo hiểm giảm đi từ đó có điều kiện giảm phí bảo
hiểm.
- Ở hầu hết các nước trên thế giới, trong giai đoạn đầu của sự phát
triển ngành bảo hiểm con người phi nhân thọ được triển khai, vừa
rút kinh nghiệm, đến khi điều kiện kinh tế - xã hội đã chín muồi
mới tổ chức triển khai bảo hiểm nhân thọ. Chính vì vậy, bảo hiểm
con người phi nhân thọ được coi là loại hình bảo hiểm bổ sung hữu
hiệu nhất cho các loại hình BHXH, BHYT. Ở Việt Nam, hầu hết
các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ đều ra đời trong
những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90,mãi đến năm 1996
mới tổ chức triển khai bảo hiểm nhân thọ.
2.3.1. Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ
Bảo hiểm con người phi nhân thọ được triển khai rất đa dạng và linh hoạt
tùy theo tình hình cụ thể ở từng nước và ngay trong phạm vi một nước, cũng
có sự khác nhau giữa các thời kỳ, giữa các công ty bảo hiểm về một số nội
dung cơ bản như: phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm, thủ
tục trả tiền bảo hiểm v.v Điều này cũng thật dễ hiểu vì BHTM là hoạt động
mang tính kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên trong quá trình ký kết
hợp đồng hoặc triển khai một sản phẩm mới đều phải tuân thủ khung pháp lý
của mỗi nước. Vì thế nội dung của phần này chỉ xin được đề cập đến một số
nghiệp vụ chủ yếu mang tính phổ biến.
2.3.2 Bảo hiểm tai nạn con người 24/24.
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Bảo hiểm tai nạn cong người 24/24 là một nghiệp vụ của BHTM mà ở
đây, nhà bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm (hay
người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) khi người được bảo hiểm bị tai nạn
thuộc phạm vị bảo hiểm đổi lại người được bảo hiểm (hay người tham gia
bảo hiểm) phải nộp phí bảo hiểm khi họ ký kết hợp đồng.
2.3.3. Bảo hiểm tai nạn hành khách
Đã trở thành quy luật , khi nền kinh tế - xã hội ngay càng phát triển, nhu
cầu đi lại của nhân dân ngày càng tăng và lưu lượng hành khách tham gai
giao thông ngày càng lớn. Kéo theo đó là số lượng các loại phương tiện tham
gia giao thông cũng ngày càng gia tăng và hết sức đa dạng, phong phú. Mặc
dù các loại phương tiện tham gia giao thông ngày càng được cải tiến và hiện
đại, cơ sở hạ tầng giao thông ngày càng được mở rộng, nâng cấp và hoàn
thiện, song tai nạn giao thông vẫn ngày một gia tăng đã làm ảnh hưởng trực
tiếp đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của mọi hành khách. Theo số liệu
thống kê trên thế giới, hàng năm có hơn 70% lượng hành khách tham gia giao
thông đều là những người chủ chốt trong trong gia đình, cơ quan và doanh
nghiệp, mỗi khi tai nạn giao thông không may đối với họ đã làm ảnh hưởng
trực tiếp đến cuộc sống của mỗi gia đình, người dân, cơ quan, doanh nghiệp
và toàn xã hội. Vì thế, bảo hiểm tai nạn hành khách ra đời là hết sức cần thiết
mà ở nhiều nước trên thế giới đã được triển khai dưới hình thức bắt buộc.
2.3.4. Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật.
Các rủi ro ốm đau, bệnh tật phải nằm viện điều trị hoặc phẫu thuật
thường ít người tránh khỏi. Khi tình trạng này diễn ra đã làm phát sinh các
chi phí điều trị và phẫu thuật, đồng thời còn làm người bệnh phải ngừng lao
động hoặc mất khả năng lao động. Trong khi đó, chi phí cho các dịch vụ
khám chữa bệnh, điều trị và phẫu thuật có xu hướng ngày càng tăng do kỹ
thuật và phương tiện chẩn đoán của ngành y tế ngày càng tinh xảo và hiện đại,
do các loại thuốc đặc trị ngày càng được sử dụng phổ biến. Để đối phó với
tình hình này, nhiều người đã tìm đến bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật.
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Thực chất đây là loại hình bảo hiểm sức khoẻ, nhưng có phạm vi hẹp hơn,
song nó đã mang lại lợi ích to lớn cho con người.
2.3.5. Bảo hiểm học sinh
Bảo hiểm trẻ em và bảo hiểm sinh viên đại học là những nghiệp vụ
được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Đây là những nghiệp vụ bảo hiểm hỗn
hợp cả “tai nạn" và "ốm đau, bệnh tật". Còn bảo hiểm học sinh thực chất là sự
kết hợp giữa 2 nghiệp vụ, song thực tế triển khai ở nước ta lại tỏ ra rất phù
hợp và có hiệu quả.
II. ĐẠI LÝ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
1. Sự cần thiết và vai trò của đại lý khai thác bảo hiểm
1.1. Khái niệm
Theo thuật ngữ pháp lý, đại lý là người làm việc một người khác trên cơ
sở hợp đồng đại lý.
Theo thuật ngữ bảo hiểm, đại lý bảo hiểm là người làm việc cho doanh
nghiệp bảo hiểm, thay mặt doanh nghiệp bán cho các sản phẩm bảo hiểm cho
người mua.
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam thì "ĐLBH là tổ chức, cá
nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng ĐLBH để
thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật có liên quan" (Điều 84, chương IV).
Hoạt động đại lý là phương thức bán bảo hiểm theo đó đại lý chịu trách
nhiệm thu xếp việc ký kết các hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo
hiểm và người mua bảo hiểm theo uỷ quyền của doanh nghiệp bảo hiểm trên
cơ sở hợp đồng đại lý để được hưởng hoa hồng bảo hiểm.
Đại lý bảo hiểm là những người hoặc tổ chức trung gian giữa doanh
nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, đại diện cho doanh nghiệp và
hoạt động vì quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm. Đại lý có thể là các tổ
chức ngân hàng hay luật sư. Những tổ chức này làm đại lý bảo hiểm rất thuận
SV: NguyÔn Hoµng Trung - B¶o hiÓm 43B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét