Làm rõ tư tưởng biện chứng trong triết học của Hêraclít, qua đó muốn
nói đến vị trí của triết học Hêraclít cũng như tư tưởng biện chứng của ông
trong nền triết học Hy Lạp cổ đại.
- Nhiệm vụ của đề tài:
Phân tích bối cảnh ra đời và phát triển tư tưởng biện chứng của triết
học Hy Lạp cổ đại.
Trình bày và làm rõ những quan điểm biện chứng trong triết học của
Hêraclít.
Đánh giá những đóng góp và hạn chế trong những quan điểm biện
chứng của Hêraclít.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của đề tài:
Là các nguyên lý, quy luật, các cặp phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy
vật biện chứng cho việc nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Là quán triệt các nguyên tắc của phép biện chứng duy vật, kết hợp với
các phương pháp đối chiếu và so sánh; phương pháp logíc và phương pháp
lịch sử.
5. Đóng góp của đề tài
Cũng như mục đích của đề tài đã đặt ra thì đề tài cũng muốn làm rõ tư
tưởng biện chứng trong triết học Hêraclít.
Đề tài cũng nêu ra những quan điểm đánh giá của các nhà nghiên cứu
về Hêraclít.
Đề tài cũng là một nguồn tài liệu giúp ích cho việc học tập và tìm hiểu
triết học của các bạn sinh viên.
5
6. Kết cấu của khoá luận
Khoá luận ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu
tham thảo, Nội dung được kết cấu thành hai chương (4 tiết).
6
Chương 1
PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ LỊCH SỬ PHÉP BIỆN
CHỨNG HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1. Khái niệm phép biện chứng và nguồn gốc của phép biện chứng.
Phép biện chứng là một khoa học triết học, Ph.Ăngghen đã từng định
nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận
động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”[5, 319].
Phép biện chứng ra đời cùng sự ra đời của triết học, phép biện chứng có một
quá trình phát triển lâu dài trước khi đạt đến khái niệm khoa học.
Ở Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng đã có trong triết học của hầu hết các
nhà triết học, như trường phái triết học Milê, mà đại biểu tiêu biểu của nó là
Talét, Anaximenđơ và Anaximen. Đến Hêraclít (khoảng 540 - 475 tcn) đã thể
hiện khá rõ quan niệm về vận động và phát triển. Ông khẳng định “mọi đều
trôi đi, đều chảy đi”. Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phép biện chứng” là
Xôcrát với ý nghĩa là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý. Đây cũng là
cách hiểu phổ biến của người Hy Lạp cổ đại, về sau học trò của Xôcrát và
Platôn đã coi phép biện chứng là nghệ thuật đối thoại dưới hình thức hỏi -
đáp, phân tích và liên kết các khái niệm để đạt tới định nghĩa đúng đắn về các
khái niệm đó.
Cùng với sự vận động và phát triển của cuộc sống thực tiễn, và sự phát
triển của nhận thức của con người, thuật ngữ phép biện chứng ngày càng đi xa
hơn ý nghĩa ban đầu và được bổ sung những nội dung mới, phong phú. Đến
Hêghen (1770 - 1831), nhà triết học duy tâm khách quan người đức, thuật ngữ
này đã được phát triển khá toàn diện. Ông là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
“phép biện chứng” sát với nghĩa hiện đại, Mác đã từng đánh giá Hêghen “lần
7
đầu tiên đã quan niệm toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần dưới hình
thức là một quá trình, tức là trong sự vận động không ngừng, biến đổi, cải tạo
và phát triển đó” [19, 40]. Kết quả của phép biện chứng của Hêghen đã vượt
xa cái ý nghĩa mà chính ông đã giành cho nó. Tuy nhiên, phép biện chứng của
Hêghen là phép biện chứng lộn ngược, “phép biện chứng lộn ngược đầu
xuống đất”.
Đến C.Mác, Ph.Ăngghen và tiếp theo đó là Lênin đã kế thừa và phát
triển một cách sáng tạo những giá trị triết học trong lịch sử tư tưởng của loài
người, trong đó có những tư tưởng biện chứng trước đó mà trực tiếp là phép
biện chứng của Hêghen để hoàn thiện phép biện chứng, đưa phép biện chứng
lên đỉnh cao - phép biện chứng duy vật, làm cho phép biện chứng thực sự trở
thành khoa học phản ánh những quy luật chung nhất, phổ biến nhất về sự vận
động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy.
Có thể thấy rằng, lịch sử phát triển phép biện chứng gắn liền với những
hình thức cơ bản sau:
Phép biện chứng tự phát ngây thơ; gắn liền với hình thức đầu tiên của
phép biện chứng là nền triết học Hy Lạp cổ đại. Đó là phép biện chứng dựa
trên sự cảm thụ trực tiếp thế giới vật chất xung quanh. Phép biện chứng đó
chưa phải là một hệ thống lý luận, quan điểm về phép biện chứng. Hình thức
đầu tiên này của phép biện chứng mang tính tự phát, bởi vì các nhà triết học
biện chứng Hy Lạp cổ đại nghiên cứu tự nhiên chỉ nhằm cốt sao cho vẽ được
bức tranh chung về thế giới và chỉ ra được nguồn gốc của nó chứ không có
chủ định nghiên cứu phép biện chứng. Phép biện chứng trong triết học Hy
Lạp cổ đại chỉ là những yếu tố biện chứng lẻ tẻ, rời rạc, chưa thành một hệ
thống, quy luật, phạm trù, tức là chưa trở thành một hệ thống lý luận nhận
thức, do đó vai trò nhận thức và cải tạo thế giới của nó còn có nhiều hạn chế.
Đồng thời với tính tự phát thì phép biện chứng Hy Lạp cổ đại còn mang tính
8
ngây thơ, hầu hết những quan điểm biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp
cổ đại đều mang tính suy luận, phỏng đoán trên cơ sở kinh nghiệm trực giác.
Các yếu tố khoa học kỹ thuật lúc này còn ở trình độ kém phát triển, do đó
những suy luận, phỏng đoán của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại chưa có cơ
sở được chứng minh bằng khoa học. Nhận xét về triết học và phép biện chứng
Hy Lạp cổ đại. Ph.Ăngghen khẳng định: “Hình thức thứ nhất là triết học Hy
Lạp. Trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác
tự nhiên, chưa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu” và “nếu về chi tiết,
chủ nghĩa siêu hình đúng hơn so với những người Hy Lạp, thì về toàn thể thì
những người Hy Lạp lại đúng hơn so với chủ nghĩa siêu hình”.[5, 305].
Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức: đây là “hình thức
thứ hai” của phép biện chứng. Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ
điển Đức được khởi đầu từ Cantơ, qua Phíchtơ, Senlinh và phát triển đến đỉnh
cao trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Nếu phép biện chứng cổ đại
chủ yếu được đúc rút từ kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày thì phép biện
chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã trở thành một hệ thống lý luận
tương đối hoàn chỉnh và đã trở thành một phương pháp tư duy triết học phổ
biến. V.I.Lênin cho rằng phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức
đã tạo ra bước quá độ chuyển biến về lập trường từ chủ nghĩa duy vật siêu
hình sang thế giới quan khoa học duy vật biện chứng. Có thể nhận thấy rằng,
phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã hoàn thành cuộc cách
mạng về phương pháp. Tuy nhiên, đặc điểm chủ yếu của phép biện chứng duy
tâm trong triết học cổ điển Đức lại mang nặng tính chất tư biện. Do lập trường
xuất phát của các nhà triết học cổ điển Đức là duy tâm, phạm trù thực tiễn đã
không được nhìn nhận đúng đắn, nên những kết luận rút ra của các nhà triết
học cổ điển Đức đã thiếu đi yếu tố khách quan và mang nặng tính chất tư
biện. Và như vậy - như Lênin nhận định, cho dù, “phép biện chứng duy tâm
9
trong triết học cổ điển Đức đã hoàn thành cuộc cách mạng về phương pháp,
nhưng cuộc cách mạng đó lại ở tận trên trời, chứ không phải ở dưới trần gian.
Trong cuộc sống hiện thực của loài người, và do vậy, phép biện chứng đó
cũng không tách khỏi tính chất gò ép, hư cấu, tóm lại là bị xuyên tạc”[4, 318].
Phép biện chứng duy vật: C.Mác và Ph.Ăngghen là những nhà sáng lập
ra phép biện chứng duy vật và tiếp sau đó là V.I.Lênin phát triển. Ph.Ăngghen
định nghĩa: “phép biện chứng (…) là môn khoa học về những quy luật phổ
biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và
của tư duy”. V.I.Lênin viết “phép biện chứng tức là học thuyết về sự phát
triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học
thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản
ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng” [4, 320]. Khi sáng lập ra phép
biện chứng duy vật, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã kế thừa và phát triển
sáng tạo những “hạt nhân hợp lý” trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, mà
trực tiếp là phép biện chứng duy tâm của Hêghen và đặt nó trên nền tảng duy
vật. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy
vật và phương pháp biện chứng, giữa lý luận nhận thức với lôgíc biện chứng.
Phép biện chứng duy vật là phương pháp tư duy khác về chất so với các
phương pháp trước đó. Mỗi luận điểm của phép biện chứng duy vật là kết quả
của sự nghiên cứu tự nhiên, cũng như lịch sử xã hội loài người. Mỗi nguyên
lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng đều được khái quát và luận giải
trên cơ sở khoa học. phép biện chứng duy vật thực sự là chiếc chìa khoá vàng
trong việc nhận thức thế giới và cải tạo thế gới. Đánh giá về vai trò của phép
biện chứng duy vật như Mác từng nói: “Các nhà triết học trước kia chỉ có thể
giải thích thế giới theo cách này hay cách khác song vấn đề lại là cải tạo thế
giới”[7, 2].
10
Như vậy, lịch sử phép biện chứng là một quá trình lịch sử lâu dài, phát
triển từ những hình thức sơ khai, ngây thơ, tự phát cho đến hoàn thiện nhất,
đầy đủ nhất ở phép biện chứng duy vật. Ngoài ba hình thức cơ bản nêu trên
còn có phép biện chứng của các nhà tư tưởng xã hội dân chủ Nga. Song ở đây
chỉ nêu lên ba hình thức cơ bản như đã nêu trên để bạn đọc cũng có thể hình
dung được lịch sử phát triển phép biện chứng.
1.2. Hoàn cảnh lịch sử ra đời cho sự phát triển phép biện chứng Hy
Lạp cổ đại
Vào thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên, những người Hy Lạp cổ
đại định cư trên vùng đất: người Đôrien định cư ở phía Nam bán đảo
Pêlôpône, đảo Creti và một số đảo khác nhỏ ở phía nam Êgiê; người Iônien
định cư ở vùng đồng bằng Áttích, đảo Ơbê và những vùng đất ven bờ phía
Tây Tiểu Á; người Akeen chủ yếu định cư ở miền trung Hy Lạp; người
Êôlien ở phía Bắc Hy Lạp, một số đảo trên biển Êgiê và vùng vên bờ biển
Tiểu Á đã cùng nhau xây dựng nên lịch sử các quốc gia ở thành thị Hy Lạp cổ
đại. Những tộc người cư trú trên bốn vùng đất này có cùng chung nguồn gốc,
cùng chung ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục, tập quán. Họ tự coi
mình là con cháu của thần Hêlen và gọi quốc gia của họ là Hêllas - tức là Hy
Lạp.
Vùng đất Hy Lạp cổ đại trước kia rộng lớn hơn rất nhiều so với ngày
nay với cấu trúc địa hình phức tạp, phong phú gồm phần đất liền cùng vô số
hòn đảo trên biển Êgiê, vùng duyên hải Ban Căng và Tiểu Á. Những cuộc di
dân ồ ạt từ thế kỷ thứ VIII đến hết thế kỷ thứ VI trước công nguyên và những
cuộc chinh phạt thành công của Alếchxan đại đế vào cuối thế kỷ IV trước
công nguyên càng làm cho vùng đất này được mở rộng và cùng với nó là sự
ra đời của các quốc gia Hy Lạp hoá. Đây là điều kiện thuận lợi để Hy Lạp
phát triển mạnh mẽ kinh tế và thực hiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc.
11
Là một trong những cái nôi của nền văn hoá nhân loại, lịch sử Hy Lạp
được biết đến từ thời Kritô - Miken với nền văn hoá kỷ nguyên bạc do các bộ
lạc Akhây tạo ra. Nền văn minh Kritô - Miken xuất hiện vào cuối thiên niên
kỷ thứ ba và kéo dài đến thế kỷ thứ hai trước công nguyên. Tuy nhiên đây là
thời kỳ ít được nhắc đến bởi cứ liệu về nó rất mờ nhạt. Thời kỳ được sử sách
nhắc đến nhiều nhất là thời kỳ Hôme (thế kỷ XI - IX trước công nguyên).
Được đánh dấu bằng sự chuyển mình của xã hội Hy Lạp với sự tan rã của chế
độ cộng sản nguyên thuỷ và sự hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ được thúc
đẩy bởi cuộc phân công lao động diễn ra trong nông nghiệp giữa trồng trọt và
chăn nuôi và những cuộc chinh phạt của những người Đônien. Xã hội Hy Lạp
thời kì này được phản ánh qua hai tập trường ca nổi tiếng Iliát và Ôđixê với
những nhân vật thiện chiến khẳng định sức mạnh của mình bằng cách dấn
thân vào những cuộc phưu lưu bằng máu với cuộc chiến tranh của các vị thần
ẩn chứa các sự kiện lịch sử đầy bi kịch mà qua đó, bóng dáng của hai giai cấp
cơ bản của xã hội chiếm hữu nô lệ được khắc hoạ rõ nét.
Cùng với sự hình thành và phổ biến của chế độ chiếm hữu nô lệ vào
khoảng thế kỷ thứ X đến thế kỷ VIII trước công nguyên là sự xuất hiện của
các công cụ bằng sắt. Về mặt kinh tế, ngay từ khi xuất hiện những công cụ
bằng sắt thích hợp với vùng đất Hy Lạp khô cằn và không thuận lợi cho việc
tưới tiêu so với người Ai Cập và người Sume người Babilon cổ đại. Cuộc
sống hoàn toàn phụ thuộc vào mức lên xuống của sông Nin, sông Ti-gơ-rơ và
sông Ơ-phơ-rát các công cụ bằng sắt đã đem lại cho con người Hy Lạp cổ đại
một uy quyền đối với tự nhiên to lớn hơn nhiều. Đó là một trong các nhân tố
quan trọng giúp cho người Hy Lạp thoát khỏi kinh tế tự nhiên để tham gia vào
các quan hệ vật chất. Sự phát triển của công thương nghiệp đã tạo ra một tầng
lớp chủ nô mới. Tầng lớp giàu có vốn không phải chủ nô mới này ngày càng
khẳng định được địa vị của mình trong các nhà nước thành thị Hy Lạp. Việc
12
của cải, nô lệ nắm trong tay tầng lớp chủ nô mới này đã thúc đẩy chế độ tư
hữu tài sản phát triển nhanh chóng. Việc sử dụng các công cụ bằng sắt trong
sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủ công nghiệp thoát khỏi sản xuất
nông nghiệp. Nghề thủ công phát triển cao trên quy mô lớn ở các thành phố
Hy Lạp cổ đại. Giữa thành phố và nông thôn có một sự đối lập gay gắt.
Sự phát triển của nhiều thành phố Hy Lạp cổ đại còn do quan hệ buôn
bán diễn ra ở những trung tâm lớn. Các thành phố Hy Lạp cổ đại trở thành các
trung tâm buôn bán và sản xuất hàng hoá hết sức sôi động, điều đó được minh
chứng bởi sự xuất hiện đồng tiền vào thế kỷ VII trước công nguyên. Điều đó
dẫn đến quan hệ trao đổi ngày càng gia tăng, như Mác nói - quan hệ vật chất
giữa các cá nhân mà địa vị xã hội của họ được xác định bằng các tài sản của
họ. Kinh tế phát triển, phân công lao động diễn ra sâu sắc là một trong những
nhân tố quan trọng dẫn đến sự tan rã của nền kinh tế tự nhiên mà cùng với nó
là những quan hệ huyết thống trong cộng đồng thị tộc ngày càng được thay
thế bởi chế độ tư hữu với vai trò của cá nhân ngày càng lớn khi họ tham gia
vào các quan hệ vật chất.
Về mặt xã hội: Ở Hy Lạp cổ đại sự phân hoá giai cấp của xã hội nô lệ
đã hình thành, đồng thời những mâu thuẫn giai cấp cũng xuất hiện. Mâu thuẫn
giữa giai cấp chủ nô và nô lệ nảy sinh và phát triển cùng với sự phát triển của
quan hệ nô lệ. Thời đại Hôme đã để lại một tầng lớp đông đảo bao gồm: tiểu
nông, các thành viên tự do của công xã nông thôn và đối đầu với nó là tầng
lớp quý tộc dòng dõi bao gồm các chủ điền lớn, các nhà quý tộc. Cơ cấu xã
hội đó đã trở nên phức tạp hơn nhiều trong điều kiện nhà nước - thành bang.
Sản xuất thủ công nghiệp, buôn bán, cuộc sống đô thị đã có ảnh hưởng mang
tính phá huỷ nông thôn. Những người nông dân đã bị phá sản đã bổ sung cho
thành phố. Giai cấp thợ thủ công đông đảo được hình thành ở đây. Tầng lớp
thuỷ thủ và những người có nghề nghiệp khác đã tạo thành nhóm thị dân đông
13
đảo lớp thị dân giàu có, chủ nhân của các xưởng thủ công nghiệp, thương
nhân… bắt đầu giữ một vai trò to lớn. Đặc trưng của các nhà nước thành bang
Hy Lạp là đấu tranh giai cấp khốc liệt.
Từ thế kỷ thứ VIII - VII trước công nguyên, trong xã hội Hy Lạp cổ đại
đã nổi lên sự chống đối gay gắt giữa bình dân bị bóc lột về kinh tế và bị chèn
ép về chính trị với quý tộc bộ lạc đang nắm quyền hành. Tầng lớp bình dân
bao gồm: thương nhân, thợ thủ công, trung và tiểu nông họ cùng chống lại
quý tộc nhưng mỗi tầng lớp này lại có nguyện vọng khác nhau. Trong các
công xã và những người công dân tự do chống lại nạn cho vay nặng lãi, nạn
chiếm đoạt ruộng đất và nạn nô lệ hoá do bọn quý tộc gây ra. Tầng lớp chủ nô
công thương đòi nắm quyền chính trị theo kiểu cộng hoà vì đó là sự đảm bảo
cho kinh tế bọn chúng phát triển, xác nhận và bảo vệ chế độ tư hữu tài sản.
Mâu thuẫn giữa bình dân và quý tộc đạt tới mức độ gay gắt nhất vào
thế kỷ thứ VII - VI trước công nguyên. Cuộc đấu tranh ấy đã làm cho thể chế
chính trị chủ nô quý tộc chuyển sang chế độ dân chủ chủ nô mà bằng chứng
rõ nét nhất qua lịch sử của thành bang Aten - một trong những nhà nước thành
thị lớn nhất ở Hy Lạp cổ đại, trung tâm kinh tế, văn hoá tinh thần của toàn thế
giới Hy Lạp cổ đại. Từ cuối thế kỷ thứ VII trước công nguyên, luật pháp
thành thị Aten đã đưa vào văn bản luật các mối quan hệ về tài sản và các quan
hệ khác của giai cấp chủ nô giàu có. Giai cấp thống trị đã áp dụng một số đạo
luật cần thiết (luật Đracôn). Để điều tiết các mối quan hệ mới mà trước hết là
quan hệ sở hữu. Vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên, cải cách của Xô-lông,
sau đó là của Pi-di-xtơ-rát và Cơ-li-xten đã tấn công vào sở hữu của giới quý
tộc thị tộc: thủ tiêu tình trạng nô lệ cho vay nợ, cấm sử dụng công nhân Aten
làm nô lệ, hoàn trả đất đai bị bọn quý tộc chiếm đoạt cho chủ nhân trước đó,
phân chia công dân Aten thành bốn loại phù hợp với mức thu nhập của họ,
đồng thời chia ruộng đất theo những khu vực hành chính căn cứ theo nơi cư
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét