Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Đào tạo nguồn Nhân lực phục vụ CNH - HĐH Đất nước

LỜI MỞ ĐẦU
Con người là lực lượng tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống xã
hội và Nhân lực là điều kiện quyết định tính chất, kết quả của công việc. những
tiền đề thực hiện thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa bao gồm:
huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển
khoa học và công nghệ, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước. việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ CNH - HĐH
là một tiền đề quan trọng đảm bảo sự thắng lợi cho quá trình phát triển của Đất
nước. Đảng đã khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con
người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi
dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết
định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã
giành được những thắng lợi bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong
việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Trong
những chuyển biến đó đã đạt được nhiều thành công to lớn nhưng vẫn còn nhiều
vấn đề bất cập làm kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới và nếu giải
quyết được sẽ thúc đẩy cho sự phát triển của nền kinh tế.Với mong muốn tìm
hiểu thêm về những vấn đề của nền kinh tế, quan điểm lý luận cũng như những
vướng mắc trong các vấn đề về chính trị - xã hội có liên quan đến quá trình tiến
hành cải cách nền kinh tế nên em đã chọn: “Đào tạo nguồn Nhân lực phục vụ
CNH - HĐH Đất nước” làm đề tài cho bài tiểu luận môn kinh tế chính trị Mác –
Lênin”.
Vì đây là lần đầu tiên em làm tiểu luận nên em không tránh khỏi nhiều thiếu
sót, em rất mong cô giáo thông cảm và tạo điều kiện giúp đỡ để các bài tiểu
luận sau em làm được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
1
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN
I: Khái niệm nguồn nhân lực
1.Khái niệm
Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người
tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai . Nguồn nhân lực là
tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng
tham gia một công việc nào đó.Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses)
xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về
phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nếu như trước
đây phương thức quản trị nhân viên với các đặc trưng coi nhân viên là lực
lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí
tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân
lực với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao
động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ
thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Có thể nói sự
xuất hiện của thuật ngữ "nguồn nhân lực" là một trong những biểu hiện cụ thể
cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ
trong việc sử dụng nguồn lực con người.
2. Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về "nguồn nhân lực"
chẳng hạn như:
- Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô,
loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá
trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia,
khu vực, thế giới . Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi
nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực,
sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức;
- Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi
cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt
được mục tiêu của tổ chức .
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
2
Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo giác độ tiếp cận nghiên cứu
nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên về
nguồn nhân lực là:
- Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức,
một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu
người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai. Đấy là những câu hỏi cho
việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân
lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài của tổ chức
như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân.
- Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều
yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ,
thẩm mỹ.v.v của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là
hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực;
- Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét
đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác
nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.v.v Cơ cấu nguồn nhân
lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu
kinh tế theo đó sẽ có một tỉ lệ nhất định nhân lực.
Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số
lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại
cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc
gia, khu vực và thế giới.
II: NHỮNG YÊU CẦU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
Nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu CNH – HĐH bao gồm những con người
có đức có tài, ham học hỏi, thông minh, sáng tạo, làm việc quên mình vì nền
độc lập và sự phồn vinh của Tổ quốc; được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hóa,
được đào tạo thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuất kinh
doanh, về điều hành vĩ mô nền kinh tế và toàn xã hội, có trình độ khoa học
kỹ thuật vươn lên ngang tầm thế giới.
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
3
mặt khác xã hội bây giờ đòi hỏi người lao động cần có vốn kiến thức toàn
diện. ở các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau những người làm trong từng lĩnh
vực cần có các kiến thức về ngành đó một cách sâu sắc. ngoài ra, họ cần có
sự hiểu biết về các vấn đề liên quan, các vấn đề kinh tế - chính trị xã hội hàng
ngày đang diễn ra trong cuộc sống.
Trong thời đại công nghệ thông tin và việc nước ta mở rộng sự hội nhập
ra thế giới thì yêu cầu về Tiếng Anh và tin học là điều khó tránh khỏi. và để
đáp ứng được các yêu cầu đó thì việc đầu tư vào giáo dục đào tạo là rất cần
thiết. ở các cấp học từ bé đến lớn học sinh cần được quan tâm phát triển các
môn năng khiếu. ngay cả đến sinh viên - là lực lượng lao động tương lai của
Đất nước, ngoài việc học tập để trở thành cử nhân kinh tế thì cũng cần bổ
sung kiến thức về các vấn đề khác như địa lý, lịch sử văn hóa, tin tức.
Để làm được tất cả những điều trên thì con người cần có sức khỏe, các
công ty cần có các chế độ ưu đãi, tổ chức khám định kỳ… Nhằm đảm bảo cho
Đất nước những người lao động khỏe mạnh về cả sức lực lẫn trí lực. Ngoài ra,
nguồn nhân lực còn phải bảo đảm các yêu cầu của việc đánh giá đó là:
- Tính phù hợp: Tính phù hợp thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau
như sự phù hợp giữa các chỉ số đánh giá với mục tiêu trong mỗi tổ chức hoặc
mối liên hệ giữa công việc đã được xác định thông qua phân tích công việc với
các chỉ số đánh giá được thiết kế trong phiếu đánh giá.v.v ;
- Tính nhạy cảm: Tính nhậy cảm đòi hỏi hệ thống đánh giá phải có
những công cụ đo lường chuẩn xác các mức độ khác nhau của sự hoàn thành
công việc hay không hoàn thành công việc, tức là đạt được hay không đạt được
mục tiêu;
- Tính tin cậy: Thể hiện sự nhất quán của các đánh giá trong toàn bộ quá
trình đánh giá cho dù chúng được thực hiện với phương pháp nào. Tức là hệ
thống đánh giá phải bảo đảm sao cho đối với mỗi đối tượng đánh giá thì kết quả
đánh giá của các chủ thể đánh giá khác nhau phải thống nhất về cơ bản;
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
4
- Tính được chấp nhận: Tính này thể hiện và cũng đặt ra đòi hỏi với hệ
thống đánh giá mà trong đó các chỉ số đánh giá phải được đối tượng đánh giá
chấp nhận, tức là thuyết phục được họ;
- Tính thực tiễn: Thể hiện ở việc các phương pháp đánh giá phải khả thi
với những công cụ đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện không chỉ với đối tượng đánh
giá mà cả với nhà quản lý;
- Tính không lỗi.: Đánh giá nguồn nhân lực là hoạt động của con người
do vậy thường hay gặp phải các lỗi như: thiên vị, xu hướng trung bình, thái cực,
định kiến, ảnh hưởng của các sự kiện gần nhất.v.v để tránh các lỗi này các
nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra yêu cầu về tính không lỗi của hệ thống
đánh giá.
III. VAI TRÒ CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ
CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC.
CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sức lao động thủ
công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội
cao. Như vậy công nghiệp hóa theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi
trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao
động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây. Chính vì vậy
CNH-HĐH không chỉ đòi hỏi phải có vốn, kỹ thuật, tài nguyên… mà còn cần
phải phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụng những
phương tiện đó… Trình độ của nhân lực sẽ quyết định năng suất công việc. liệu
chúng ta cứ phát triển khoa học – công nghệ mà không phát triển trình độ của
người lao động thì những thành quả của khoa học có được phát huy hết mức
không?
Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về CNH-HĐH ở Việt Nam hiện
nay cũng cho rằng lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
5
sự phát triển nhanh và bền vững động viên toàn dân cần kiệm xây dựng Đất
nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển. tăng trưởng kinh tế gắn
với đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội.
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
6
CHƯƠNGII: THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
PHỤC VỤ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
I. Ưu và nhược điểm của nguồn nhân lực Việt Nam
Với lợi thế của một quốc gia có dân số trên 84 triệu người trong đó lực
lượng lao động trong độ tuổi khoảng 44.3 triệu, chính phủ Việt Nam luôn coi
việc phát triển giáo dục và đào tạo là một mục tiêu ưu tiên hàng đầu, là quốc
sách trong nhiều thập kỷ qua và trong tương lai. người dân Việt Nam với đức
tính cần cù, chịu khó, ham học hỏi… đã cải thiện được chất lượng lao động
trong những năm gần đây. Tuy nhiên, qua tín hiệu từ thị trường lao động, sự
phản hồi thông tin từ các doanh nghiệp, qua dư luận và đặc biệt thông qua
các điều kiện đảm bảo chất lượng về chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên,
giảng viên, cơ sở vật chất còn nhiều yếu kém, có thể thấy chất lượng học sinh
sinh viên tốt nghiệp còn những hạn chế chủ yếu sau:
- Thiếu kiến thức chuyên môn, cập nhật và kỹ năng thực tế nghề nghiệp nên
gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, trong khi nhiều doanh nghiệp
lại không tuyển đủ nhân lực có năng lực phù hợp
- Thiều năng lực tự học, tư duy phê phán và kỹ năng làm việc tập thể
- Kỹ năng Tiếng Anh và CNTT nhìn chung còn hạn chế .Ngoại ngữ đang là
một trong những vấn đề bức thiết nhất và cũng bất cập nhất của nhà trường nước
ta. Không thể hình dung sống trong thế giới ngày nay không có ngoại ngữ. Con
đường tiếp cận mọi thành tựu văn hóa, tiến bộ khoa học và kỹ thuật của thế giới,
con đường hội nhập vào kinh tế và cộng đồng thế giới đều phải đi qua cái cầu
ngoại ngữ. Con đường khai thác lợi thế nước đi sau và làm giàu trí tuệ của chính
mình phải có ngoại ngữ hỗ trợ. Sự thật là nền giáo dục nước nhà không quan
tâm đúng mức vấn đề ngoại ngữ, thường đổ tội cho cái nghèo một cách không
thể biện bạch được. Đã đến lúc phải đưa chương trình dạy ngoại ngữ trở thành
một phần bắt buộc trong chương trình giảng dạy từ cấp phổ thông – khả năng
cho phép đến các vùng đô thị và kinh tế phát triển. Vì yêu cầu hội nhập và vì ở
sát nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc, học tiếng Anh và tiếng Hoa ngày càng trở
nên cấp thiết.Riêng về mặt văn hóa, lịch sử và ngôn ngữ, phát huy truyền thống
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
7
và bản sắc dân tộc, vấn đề duy dưỡng và khai thác vốn Hán nôm của quốc gia
ngày càng trở nên quan trọng. Vấn đề này bị sao lãng hời hợt đến mức có nguy
cơ đi tới một nền văn hóa mất gốc. Còn rất nhiều việc phải làm để văn hóa Việt
trở thành tâm hồn dẫn dắt con đường đi lên của đất nước, là yếu tố gìn giữ sự
trường tồn của dân tộc ta. Để đứng được trong cạnh tranh của toàn cầu hóa, Việt
Nam chẳng những cần hiển diện trước thế giới là một nền kinh tế mà còn là một
hình ảnh văn hoá của chính mình.
Những hạn chế, yếu kém trên bắt nguồn trực tiếp từ suất đầu tư thấp, đội
ngũ cán bộ giảng dạy vừa thiếu, vừa yếu do không có điều kiện nâng cao trình
độ, năng lực thực tế và thiếu động lực nghiên cứu khoa học. giảng viên đại học
có trình độ tiến sỹ trong các trường đại học chỉ chiếm xấp xỉ 15%. Trong khi đó
ở các quốc gia phát triển, đại đa số giảng viên phải có trình độ tiến sỹ. đội ngũ
giảng viên còn nhiều yếu kém như vậy dẫn đến hệ quả là chương trình đào tạo
lạc hậu, chậm đổi mới và sinh viên không được xây dựng kỹ năng nghiên cứu
khoa học.
II.Thực tiễn sử dụng nguồn nhân lực
Sau 22 năm đổi mới, GDP tính theo đầu người tăng gấp 4 lần, đời sống của
nhân dân nhìn chung được nâng cao rõ rệt. Việc ngày 16-10-2007 Việt Nam
được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc
khóa 2008-2009 cho thấy vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được
nâng cao. Song chính những thành tựu đạt được này đối chiếu với công sức bỏ
ra, với những điều kiện và cơ hội cho phép, phải chăng Việt Nam đang phát
triển dưới mức tiềm năng của mình.Giáo dục, đào tạo, và khoa học 22 năm qua
phát triển mạnh, góp phần quan trọng vào những thành tựu của đất nước. Trình
độ giáo dục phổ cập và số lượng học sinh, lực lượng lao động có đào tạo, số
người tốt nghiệp các bậc học tăng nhanh so với nhiều nước, đặc biệt trong vòng
10 năm 1993 -2002 tỷ lệ đói nghèo giảm còn một nửa (từ 57% xuống còn 28%).
Trên đây là so sánh ta hôm nay với ta cách đây 22 năm. Tuy nhiên có vấn đề:
trung tuần tháng 10-2007 cuộc họp đoàn đại biểu quốc hội Hà Nội và cuộc họp
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
8
của đoàn đại biểu quốc hội TPHCM đều nêu ý kiến: Đã đến lúc cần phải xem
xét chất lượng cuộc sống so với tăng trưởng kinh tế đạt được.Tinh hình chung
nguồn nhân lực của nước ta hiện nay là: Sau 30 năm công nghiệp hóa, vẫn còn
khoảng 70% lao động cả nước trong lĩnh vực nông nghiệp; tỷ lệ học sinh trên
triệu dân, tỷ lệ số trường các loại trên triệu dân, tỷ lệ số trường đại học trên triệu
dân; tỷ lệ tốt nghiệp đại học trên triệu dân, tỷ lệ có học vị tiến sỹ trên triệu dân
của nước ta đều cao hơn tất cả các nước có mức thu nhập bình quân theo đầu
người tương đương như Thái Lan, nhưng chất lượng đang có nhiều vấn đề.
Điều tra của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2006 cho thấy cả nước có tới 63%
số sinh viên ra trường không có việc làm, 37% số còn lại có việc làm thì hầu hết
phải đào tạo lại và có nhiều người không làm đúng nghề mình đã học, trong khi
đó nhiều doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp có FDI và nhiều dự án kinh tế
quan trọng khác rất thiếu lực nguồn lực chuyên nghiệp. Khoảng 2/3 số người có
học vị tiến sỹ trong cả nước không làm khoa học mà đang làm công tác quản lý;
số bài báo khoa học được công bố hàng năm chỉ bằng khoảng ¼ của Thái Lan và
bằng 0,00043% của thế giới, mặc dù số tiến sỹ của ta hàng năm nhận bằng
thường nhiều hơn của Thái Lan, có năm cao gần gấp đôi.Nguồn nhân lực nước
ta đứng trước tình hình: trẻ (tính theo tuổi đời trung bình – một ưu thế lớn), đông
(một ưu thế lớn khác, nước có dân số đứng thứ 13 trên thế giới), nhưng tỷ lệ tính
trên triệu dân của số người có nghề và có trình độ chuyên môn rất thấp so với tất
các nước trong nhóm ASEAN 6 và Trung Quốc; số cán bộ kỹ trị và có trình độ
quản lý cao rất ít so với dân số cũng như so với quy mô nền kinh tế. Theo điều
tra của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2005: Nguồn nhân lực Việt Nam về chất
lượng được xếp hạng 53 trên 59 quốc gia được khảo sát, song mất cân đối
nghiêm trọng:
- Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung cấp
và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 4 và 10;cứ 1
vạn dân có 181 sinh viên đại học, trong khi đó của thế giới là 100, của Trung
Quốc là 140 mặc dù mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người của TQ khoảng
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
9
gấp đôi của nước ta…Kết quả chung là: Nhìn nhận theo góc độ đánh giá nguồn
nhân lực, chất lượng con người Việt Nam thấp về nhiều mặt so với các nước
ASEAN6 và Trung Quốc, có nhiều ưu thế không được nuôi dưỡng và phát huy
đúng hướng.
Những nguyên nhân chính:
1. Không quan tâm và không kế thừa, phát huy những thành tựu giáo dục
của nước ta đã tích lũy được trước đổi mới cũng như những thành tựu của thế
giới, không khai thác lợi thế nước đi sau, thậm chí ít nhiều hoang tưởng, duy ý
chí hoặc nhân danh phát huy sáng tạo đi tìm một con đường riêng, nhưng thực
tế là lạc lõng (ví dụ: định thay bản chữ cái ABC, abc bằng bảng E,e; tình trạng
bất cập của chương trình chuẩn, giáo án chuẩn; kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sỹ;
một số chương trình nghiên cứu; sáng tác ra học vị phó giáo sư; việc ồ ạt xây
dựng trường đại học tại nhiều tỉnh
2.Tiêu cực và chủ nghĩa cơ hội đã bóp méo những ý tưởng, những mong
muốn tốt đẹp dành cho phát triển con người và nguồn nhân lực; làm sai lệch
hướng vận dụng mọi nguồn lực.
3. Không lường đúng những khó khăn, mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là
khả năng cho phép của nguồn lực và một bên là đòi hỏi của phát triển; không
lường đúng những mặt phức tạp và những khó khăn rất đa dạng, sâu xa của lĩnh
vực thiết yếu bậc nhất và rất nhạy cảm này trong đời sống quốc gia, không nhận
thức đúng những yếu kém lớn về năng lực tổ chức và quản lý của bộ máy nhà
nước. Duy ý chí và bệnh thành tích đầu độc trầm trọng thêm tình trạng này.
4. Tri thức, tầm nhìn và đạo đức nghề nghiệp của nhiều chuyên gia, nhà
khoa học, lãnh đạo và quản lý lĩnh vực phát triển giáo dục và nguồn lực con
người, dưới tầm so với đòi hỏi của nhiệm vụ.
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
10
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
I. Phương hướng
Giáo dục và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ phụ thuộc, tác động lẫn
nhau. Kinh tế tăng trưởng bền vững luôn đòi hỏi một nền giáo dục chất lượng.
đồng thời, kinh tế tăng trưởng bền vững sẽ tạo nguồn ngân sách ngày càng cao
cho gi Xây dựng được con người như thế nào thì sẽ hình thành một quốc gia và
xã tắc như thế. Mặt khác, con người tự giác thường là yếu tố quyết định nhất
thay đổi xã hội và quốc gia nó đang sống. Sự hưng vong, thịnh suy của một quốc
gia gắn liền với những điều mang tính nguyên lý này. Văn minh nhân loại ở nấc
thang toàn cầu hóa ngày nay khiến cho việc làm chủ những điều mang tính
nguyên lý này càng trở thành lẽ sống còn của mỗi quốc gia và mỗi công dân .
Phát triển nguồn nhân lực về thực chất là ngày càng phải làm hơn việc giải
phóng con người. Đòi hỏi này đặt ra hai yêu cầu cùng một lúc: Phải tập trung trí
tuệ và nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, mặt khác phải đồng thời thường
xuyên cải thiện và đổi mới môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, gìn giữ
môi trường tự nhiên của quốc gia.
Vấn đề lớn nhất đặt ra cho nước ta không phải là cái nghèo, mà là ý chí phấn
đấu với tất cả trí tuệ và nguồn lực có trong tay – điều này bao gồm cả ý chí xây
dựng một thế chế chính trị và đời sống kinh tế - xã hội – văn hóa hướng vào phát
huy những giá trị chân chính của con người, trước hết là tự do và nghị lực sáng
tạo của nó; kế thừa những thành tựu của văn minh nhân loại.Ngày nay không thể
quan niệm đơn thuần nguồn nhân lực là lực lượng lao động với nghĩa đơn giản
là những người làm công ăn lương, những người nông dân ít có điều kiện học
hành Cuộc sống ngày nay đòi hỏi phải nhìn nhận nguồn nhân lực bao gồm tất
cả mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội và nghề nghiệp khác nhau, mọi địa vị xã
hội từ thấp nhất đến cao nhất - kể từ người làm nghề lao động đơn giản nhất,
nông dân, công nhân, người làm công việc chuyên môn, người làm khoa học,
người làm nhiệm vụ quản lý, nhà kinh doanh, người chủ doanh nghiệp, giới
nghệ sỹ, người hoạch định chính sách, quản lý đất nước Tất cả đều nằm trong
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
11
tổng thể của cộng đồng xã hội, từng người đều phải được đào tạo, phát triển và
có điều kiện để tự phát triển, phải làm mọi việc để từng người đứng đúng chỗ
của mình và chịu sự sàng lọc của cuộc sống.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong bộ máy công quyền cũng phải
đặt thành một ưu tiên. Nâng cao “quan trí”, nâng cao năng lực kỹ trị, nâng cao ý
thức công bộc của đội ngũ cán bộ viên chức ăn lương nhà nước. Người ta hay
nói nhiều đến ý thức thấp kém của người nông dân, người công nhân… Song
hiện tượng đáng lo lắng hơn lại là cuộc sống có không biết bao nhiêu ví dụ về
tác trách, về vận dụng hay thi hành sai luật pháp và những chính sách đúng đắn.
Nhìn nhận như vậy, quốc sách về phát triển nguồn nhân lực, về phát huy và sử
dụng con người và người tài đòi hỏi phải gắn liền với việc đảy mạnh đổi mới
trên nhiều phương diện – về lâu dài là đổi mới toàn diện cả thể chế và xã hội.
Với những điều trình bày trên, phát triển nguồn nhân lực ngày nay không thể chỉ
đơn thuần một chiều hiểu theo nghĩa phát triển lực lượng lao động như lâu nay
thường làm: mở thêm các trường, các cơ sở đào tạo nghề, cải tiến nội dung dạy,
đổi mới chính sách lao động tiền lương, cải tiến công tác công đoàn, phổ biến kỹ
thuật nông nghiệp cho nông dân… Đặt vấn đề với cách nhìn toàn diện, có nghĩa
phải đồng thời và từng bước làm rất nhiều việc khác – ví dụ những việc đã liệt
kê ra được như cải cách hành chính, xóa bỏ chủ quản, xóa bỏ bao cấp , giảm
biên chế, bổ túc và đào tạo lại đội ngũ cán bộ viên chức các cấp, mở rộng và
nâng cao đội ngũ cán bộ kỹ trị, cán bộ quản lý, người làm chính sách, đổi mới
chính sách phát huy con người và dùng người…; Phát triển nguồn nhân lực
hiển nhiên đòi hỏi phải đồng thời đổi mới triệt để toàn xã hội hướng thiện - theo
những giá trị chân chính – ví dụ, để có một môi trường xã hội trọng công bằng,
kỷ cương, đạo đức; pháp luật được coi làm chuẩn mực; xã hội trở thành xã hội
học tập.
Dựa trên những phương hướng trên thì ta có các giải pháp sau:
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
12
II. Giải Pháp.
Để tạo bước chuyển biến thực sự chất lượng đào tạo nhân lực ở Việt Nam trong
khoảng 10 năm tới, ngành giáo dục đào tạo tập trung vào các giải pháp sau:
Thứ nhất: Triển khai hệ thống các biện pháp hỗ trợ tài chính cho học sinh, sinh
viê n ngheo đang học trong các trường đại học, cao đẳng dạy nghề.Thứ hai: Cho
phép các cơ sở đào tạo đại học, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề thu học
phí cao hơn hiện nay, đảm bảo đủ chi phí đào tạo. Nhà nước hỗ trợ phát triển các
trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề chất lượng cao ở
các ngành nghề đào tạo và những địa bàn cần khuyến khích.
Thứ ba: Triển khai đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội bằng hệ
thống các giải pháp do nhà nước, nhà trường, các doanh nghiệp và các địa
phương phối hợp thực hiện.
Thứ tư: Thực hiện kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục và đào tạo, công bố
công khai kết quả kiểm định và từ năm 2010 thực hiện kiểm đinh bắt buộc.
Thứ năm: Triển khai chương trình đào tạo 20 nghìn tiến sỹ từ năm 2008 đến
2020, trong đó có khoảng 10 nghìn người được đào tạo tại Nước Ngoài. Tóm lại
Tóm lại việc nâng cao chất lượng đào tạo mà cụ thể là chất lượng đào tạo đáp
ứng nhu cầu của xã hội trở thành một đòi hỏi bức thiết từ cuộc sống và là một
giải pháp chiến lược giúp tăng trưởng bền vững và nâng cao hiệu quả đào tạo
nhân lực.
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
13
C. KẾT LUẬN
Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ CNH-HĐH là một trong năm tiền đề để
thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản
lý của Nhà Nước đất nước ta đã dành được những thắng lợi to lớn qua hơn 20
năm đổi mới. Tuy vậy, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực đang là vấn đề nóng
hổi đòi hỏi Đảng ta cần vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác
LêNin trong các đường lối chiến lược, sách lược nhằm đưa nước ta sánh ngang
tầm với thế giới.Nhà nước có chức năng quản lý kinh tế- xã hội, nhà nước có sứ
mệnh tổ chức thực hiện đường lối công nghiệp hoá của Đảng cộng sản Việt Nam
thông qua việc thực thi cơ chế, chính sách và điều hành các hoạt động kinh tế-
xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá , hiện đại hoá mà Đảng
ta đã đề ra. Để hoàn thành các mục tiêu đó một cách thắng lợi nhất thì cần phải :
đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo các yêu cầu cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đã nêu trên.
Sinh viên : Nguyễn Thị Hậu Lớp :TTQTC
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét