KTNT, trong khi phát triển mạnh mẽ không chỉ nông nghiệp mà cả
công nghiệp, thương nghiệp cùng các ngành nghề khác, sẽ làm cho toàn
bộ các ngành đó chuyển mạnh sang một nền kinh tế phát triển.
2.3 KTNT phát triển sẽ tạo cơ sở vật chất, tạo tiền đề cho sự phát
triển văn hoá ở nông thôn.
Nông thôn vốn là vùng kinh tế, văn hoá lạc hậu, sản xuất và sinh hoạt
phân tán, nhiều hủ tục, ít theo luật pháp thống nhất. Mặt khác, nông thôn
là nơi truyền thống cộng đồng (cả tốt lẫn xấu) còn sâu đậm Phát triển
KTNT sẽ tạo điều kiện vừa để giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá xã
hội tốt đẹp, bài trừ văn hoá lạc hậu cũ, vừa tổ chức tốt đời sống văn hoá
và tinh thần.
2.4 Sự phát triển của KTNT gắn liền với phát triển xã hội, văn hoá,
chính trị và kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, sẽ dẫn đến thắng
lợi của CNXH trên đất nước ta.
Một nông thôn có kinh tế và văn hoá phát triển, dời sống ấm no, đầy
đủ về vật chất, yên ổn và vui tươi về tinh thần sẽ là một nhân tố quyết
định củng cố vững chắc trận địa lòng dân, thắn chặt mối liên ming công
nông - đảm bảo cho nhân dân ta có thể đánh bại mọi âm mưu diễn biến
hoà bình của các thế lực thù địch, cũng như tăng cường tiềm lực và sức
mạnh quốc phòng - an ninh đủ sức đánh bại mọi âm mưu xâm lược vũ
trang của mọi kẻ thù, dưới bất kỳ hình thức nào.
5
II/. CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN KTNT Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH.
1/. Thực trạng KTNT Việt Nam.
1.1 Trong nông nghiệp.
1.1a Trồng trọt.
Cây lương thực, thực phẩm.
Sản lượng lương thực từ 19,6 triệu tấn năm 1988 tăng lên 36,9 triệu tấn
năm 1997; 34,2 triệu tấn năm 1999 và khoảng 35 triệu tấn vào năm
2000, bình quân 1 năm tăng hơn 1,4 triệu tấn. Sản lượng lương thực tăng
nhanh và ổn định, năm sau cao hơn năm trước. Tốc độ tăng lương thực
tăng 6% cao hơn tốc độ tăng dân số 2% nên lương thực bình quân đầu
người tăng dần qua các năm. Cụ thể như sau:
Năm Sản lượng
1990 324 kg
1994 361 kg
1995 378 kg
1999 444 kg
Trong lương thực, sản xuất lúa tăng nhanh và ổn định cả về diện tích
và năng suất. Nếu năm 1990 cả nước mới gieo cấy 6 triệu ha thì năm
2000 đã tăng lên 7,67 triệu ha do khai hoang và tăng vụ. Cơ cấu mùa vụ
và cây trồng đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng diện tích lúa
đông xuân, lúa hè thu, giảm diện tích lúa mùa có năng suất thấp từ 2,73
triệu ha xuống 2,38 triệu ha trong 12 năm tương ứng, tạo điều kiện để
thâm canh tăng năng suất lúa từng vụ và cả năm.
Cùng với mở rộng diện tích, 10 năm qua sản xuất lúa nước ta còn đạt
nhiều tiến bộ về thâm canh tăng năng suất và nâng cao chất lượng lúa
6
gạo. Trình độ thâm canh lúa của nông dân tăng lên cùng với tác động
tích cực của khoa học kỹ thuật nhất là giống lúa mới, đã tạo ra sự ổn
định về năng suất lúa:
Năm Năng suất
1990 32 tạ/ha
1998 39 tạ/ha
2000 42,6 tạ/ha
Bình quân 10 năm năng suất lúa tăng 10 tạ/ha.
Cùng với những tiến bộ về mùa vụ, chuyển vụ và thâm canh lúa,
12 năm qua đã hình thành một số vùng lúa đặc sản phục vụ xuất khẩu ở
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh
Long Trung bình mỗi tỉnh có từ 10 vạn đến 20 vạn lúa đặc sản với
nhiều chủng loại khác nhau nhưng có đặc điểm giống nhau là hạt gạo
dài, thơm ngon theo yêu cầu của thị trường. Ở tỉnh An Giang đã xuất
hiện mô hình sản xuất lúa xuất khẩu theo mô hình liên doanh gắn với thị
trường tiêu thụ ở Nhật Bản, theo qui trình công nghệ Nhật Bản. Trong 3
năm từ 1996 đến 1998 nước ta xuất khẩu 10,2 triệu tấn gạo, nhiều hơn
lượng gạo xuất khẩu năm trước đó gần 1 triệu tấn, đưa Việt Nam trở
thành nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới sau Thái Lan. Đến năm 2001
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Cùng với lúa, màu lương thực khá ổn định trong 12 năm qua góp
phần bổ sung nguồn lương thực cho người và thức ăn gia súc. Sản lượng
màu qui thóc bình quân mỗi năm đạt gần 3 triệu tấn, trong đó tăng
trưởng nhanh nhất là ngô:
7
Năm Diện tích Năng suất Sản lượng
1995 55 vạn ha 21 tạ/ha 1.184 ngàn tấn
1997 66 vạn ha 25 tạ/ ha 1 triệu tấn
2000 707 ngàn ha 26, 6 tạ/ha 1,84 triệu tấn
Ngô đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu với qui mô trên 100
ngàn tấn một năm và có khả năng tăng trong những năm tới.
Cây ăn quả và cây công nghiệp.
Trong trồng trọt bước đầu đã thực hiện được phương châm “Đất
nào cây ấy” để tăng hiệu quả, chuyển dần những diện tích trước đây
trồng lúa, màu năng suất thấp sang trồng cây ăn quả và cây công nghiệp
có lợi hơn. Bình quân qua 12 năm từ 1988 đến 2000 với bình quân 5
năm trước đó, sản lượng lạc tăng 34%, mía tanưg 74%, cao su tăng 78%,
hồ tiêu tăng 68% đặc biệt sản lượng cà phê tăng nhanh:
Năm Sản lượng
1990 119 ngàn tấn
1995 268 ngàn tấn
1999 450 ngàn tấn
2000 680 ngàn tấn
12 năm qua, cà phê trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị
lớn thứ hai sau gạo, riêng năm 1997 xuất khẩu 390 ngàn tấn cà phê, 2
năm 1998 và 1999 sản lượng cà phê xuất khẩu đạt xấp xỉ 400 ngàn tấn,
năm 2000 đạt trên 600 ngàn tấn, giá trị trên 550 triệu USD/năm.
8
Cùng với cà phê là cây sao su, năm 1998 sản lượng cao su đạt 199
ngàn tấn, tăng 3,5 lần so với năm 1990, năm 2000 đạt trên 250 ngàn tấn chủ
yếu do tăng diện tích cho sản phẩm. Cao su vẫn là mặt hàng nông sản xuất
khẩu có thị trường và có giá trị lớn thứ ba sau gạo và cà phê.
Các cây ăn quả đặc sản có chất lượng cao phát triển mạnh, nhất là
nho, vải thiều, nhãn, mận hậu, cam đã đem lại hiệu quả kinh tế xã hội
rõ nét ở nhiều vùng Nam Bộ, mìn núi phía Bắc. Huyện Lục Ngạn (Bắc
Giang); huyện Đông Triệu (Quảng Ninh) đã và đang giàu lên nhờ mở
rộng diện tích và tăng năng suất vải thiều.
9
1.1.b Chăn nuôi.
Chăn nuôi phát triển nhanh và toàn diện, bình quân qua 12 năm từ
1988 đến 2000 so với bình quân 7 năm trước đó 1981, 1987 đàn trâu
tăng 5%, đàn bò tăng 10%, đàn lợn tăng 20%, đàn gia cầm tăng 20%,
sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 25%, sản lượng trứng tăng 33%.
Năm 2000 đàn lợn đạt 19,52 triệu con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng là
1,4 triệu tấn, tăng 67% và gấp hơn 2,5 lần so với năm 1988 đặc biệt đàn
bò sữa tăng khá, năm 1999 đạt gần 30 ngàn con, trong đó TPHCM gần
25 ngàn con tăng gấp 3 lần so với năm 1990. Chăn nuôi bò sữa là một
nghề mới của nông dân TPHCM và Hà Nội, đáp ứng được yêu cầu tiêu
dùng sữa tươi của dân cư các thành phố, thị xã trong điều kiện thu nhập
và đời sống được cải thiện so với trước đây. Nhờ ứng dụng những tiến
bộ khoa học kỹ thuật mới về giống, thức ăn và thú y nên chăn nuôi gia
súc, gia cầm phát triển khá ổn định, tốc độ tăng trưởng cao, góp phần
tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.2 Trong lâm nghiệp và thủy sản.
Những thành tựu đạt được trong sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản trong
12 năm từ 1988 đến 2000 như một mốc son chói lọi đánh dấu sự sang
trang từ tự cấp tự túc đến sản xuất hàng hoá. Nguồn ngoại tệ thu được từ
các sản phẩm Nông - Lâm - Thủy sản những năm qua chiếm tỷ trọng từ
45% đến 47% tổng giá trị xuất khẩu cả nước. Điều đặc biệt có ý nghĩa là
giá trị xuất khẩu Nông - Lâm - Thủy sản thu được là phần dư ra sau khi
đã thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước trong điều kiện thời tiết
không thuận lợi.
10
1.3 Tình hình tiểu thủ công nghiệp.
Tốc độ phát triển tiểu thủ công nghiệp ở một số vùng nông thôn thời
gian qua tương đối tăng nhanh, đạt mức bình quân 10 đến 11% một năm
kể từ khi có luật đất đai. Các nghề và làng nghề truyền thống bước đầu
được phục hồi, nghề và làng nghề mới đang được phát triển. Những tỉnh
có nhiều làng nghề là Hà Tây, Nam Định, Thanh Hoá Tiểu thủ công
nghiệp góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân nông
thôn. Bình quân một cơ sở chuyên ngành nghề tạo việc làm ổn định cho 25
đến 27 lao động, bình quân mỗi hộ ngành nghề giải quyết được 3 đến 5 lao
động. Thu nhập của lao động chuyên tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn cao
hơn lao động nông nghiệp thuần tuý khoảng 3 đến 6 lần.
Tuy nhiên, qui mô tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn còn nhỏ, kinh tế
hộ là phổ biến. Trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật của người lao
động làm tiểu thủ công nghiệp còn thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn
nghèo nàn. Có tới 55% lao động trong các cơ sở chưa qua đào tạo, 36%
không có chuyên môn kỹ thuật. Máy móc thiết bị phần lớn đơn giản, cũ,
thải loại từ công nghiệp thành phố, không đảm bảo kỹ thuật an toàn và
vệ sinh môi trường. Vốn nhỏ bé, chủ yếu là tự có. Chất lượng sản phẩm
thấp, đơn điệu, mẫu mã bao bì chưa hấp dẫn hơn 90% là tiêu thụ trong
nước. Tình hình chất thải của tiểu thủ công nghiệp không được xử lý gây
ô nhiễm môi trường nông thôn. Tình trạng khai thác bừa bãi nguồn tài
nguyên gây hậu quả xấu cho môi trường và cảnh quan thiên nhiên.
1.4 Trong công nghiệp.
Công nghiệp dịch vụ khoa học ở nông thôn kém phát triển, chủ
yếu vẫn là sản xuát nông nghiệp đơn thuần.
11
1.5 Cơ cấu nông nghiệp nông thôn.
Trong 10 năm qua tỷ trọng nông nghiệp trong GDP có xu hướng chững
lại và giảm đần, sự đóng góp của nông nghiệp trong GDP nhỏ so với lực
lượng lao động đông đảo, công nghiệp và dịch vụ chưa đóng góp được
vai trò thu hút lao động mạnh mẽ.
Đã tạo được sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng đa dạng hơn
với những sản phẩm cây công nghiệp lớn, hình thành các vùng tập trung
chuyên canh có sản lượng hàng hoá cao như: Cà phê, cao su, chè, điều.
Trong nông nghiệp đã bước đầu chú ý đến khu vực dịch vụ phục vụ
trồng trọt và chăn nuôi (tuy còn thấp xa so với yêu cầu).
Do phát triển đa dạng hơn nên từng bước đã tạo ra sự chuyển dịch cơ
cấu nội bộ ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tăng tỷ trọng ngành thủy
sản và giữa được tỷ trọng ngành lâm nghiệp.
Cơ cấu công nghiệp đã có sự chuyển biến mạnh mẽ theo lãnh thổ đi
vào khai thác thế mạnh của nền nông nghiệp sinh thái của từng vùng,
gắn với thị trường. Các mặt hàng Nông - Lâm - Thủy sản đã trở lên đa
dạng hơn, chất lượng cao hơn (từ nguyên liệu, bán tươi và chế biến tinh).
Cơ cấu nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân và trong nội tại ngành
nông nghiệp nhìn chung chuyển biến còn rất chậm và đang trong bước
khởi đầu. Trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt, giá trị sản xuất
cây công nghiệp tăng, nhưng tăng chậm, có cây công nghiệp còn tiêu thụ
chậm
2/. Những vấn đề đặt ra.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, nông nghiệp nước ta cũng
đã xuất hiện những vấn đề đặt ra cần quan tâm.
12
Một là, tác động của công nghiệp vào nông nghiệp chưa rõ nét, công
nghip chế biến nông sản yếu kém, các khâu làm đất, vận chuyển, thu
hoạch vẫn sử dụng nhiều công cụ thủ công và lao động sống. Do vậy,
chất lượng sản phẩm, năng suất ruộng đất, năng suất lao động Nông -
Lâm - Thủy sản còn thấp.
Hai là, đất đai nông nghiệp bị chia nhỏ với mức bình quân đầu người
rất thấp, nhất là đồng bằng Sông Hồng (500m
2
/ người) trong khi đó dân
số nông thôn vẫn tăng trên 2% một năm. Việc phân chia đất như hiện
nay có tác dụng bảo đảm người cày có ruộng nhưng có nhược điểm là
tính bình quân quá cao, ràng buộc chặt hơn nông dân với ruộng đất, với
trồng trọt dẫn đến lao động nông thôn dư thừa, việc làm thiếu, thu nhập
thấp.
Ba là, tiêu thụ nông sản khó khăn, giá cả bất hợp lý. Đó là vấn đề nổi
cộm của nông nghiệp Việt Nam, đã tác động đến thu nhập, đời sống, sức
mua của nông dân và thực tế đã làm giảm cầu của công nghiệp và dịch
vụ. Tình trạng ép giá làm cho người nông dân thiệt hại về kinh tế, không
yên tâm để đầu tư vốn vào công nghệ mở rộng sản xuất xảy ra phổ biến.
3/. Các giải pháp và chính sách để phát triển KTNT ở Việt Nam
trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
3.1.Chính sách ruộng đất
ẩtuộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, do đó chính sách
ruộng đất sẽ tác động rất mạnh đến nông nghiệp, nông thôn.
Ở nước ta, về nguyên tắc, người lao động là chủ của đất đai vì đất đai thuộc
sở hữu toàn dân. Nhưng trong hợp tác xã kiểi cũ, người lao động chỉ là người
chủ trên danh nghĩa, còn thực tế, người lao động thờ ơ, xa lạ với đất đai. Từ
khi đó “khoán hộ”, người nông dân được giao đất, giao ruộng vì thế họ gắn bó
với đất đai. Đó là nguyên nhân quan trọng làm cho sản xuất nông nghiệp đạt
13
được những thành tựu to lớn trong những năm qua. Điều đó chứng tỏ, chính
sách ruộng đất đã đáp ứng được lợi ích của người nông dân. Hiện nay Đảng
và Nhà nước chủ trương tiếp tục đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho nông dân
với thời hạn dai, thậm chí quyền sở dụng ruộng đất có thể được kế thừa, thế
chấp Đó là chủ trương đúng, cần tiếp tục thực hiện.
Nhà nước tại điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đầy đủ, đúng pháp
luật các quyền sử dụng đất đai; khuyến khích nông dân thực hiện “dồn điền,
dồn thửa” trên cp sở tự nguyện; nông dân được sử dụng giá trị quyền sử dụng
đất để góp vốn cổ phần tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh, liên doanh,
liên kết Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất
theo quy hoạch và chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật.
3.2. Chính sách đầu tư
Sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn phụ thuộc rất nhiều vào các công
trình công cộng như: hệ thống thuỷ lợi, hệ thống giao thông, hệ thống cung
ứng điện, giống Việc xây dựng các công trình đó đòi hỏi phải có đầu tư rất
lớn, vượt xa khả năng kinh tế nông thôn. Vì vậy, Nhà nước phải có chính sách
đầu tư hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, Nhà nước phải có chính
sách huy động các nguồn lực tại chỗ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho nông nghịêp, nông thôn.
Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn rất cần có chiến lược tổng thể. Chiến
lược đó phải xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước, từ đặc điểm riêng về tự nhiên, kinh tế - xã hôị của mỗi vùng,
địa phương, từ nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới
3.3. Chính sách thuế
Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước thay mặt toàn dân thực hiện
quyền sở hữu đó. Do đó, việc Nhà nước thu địa tô là cần thiết và chính đáng.
Chính sách thuế nông nghiệp vừa phải căn cớ vào điều kiện cụ thể của từng
địa phương, vào những định hướng lớn của nền kinh tế. Chính sách thuế còn
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét