Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

GIÁO TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY HẢI SẢN




4

Hình 1.1. Sự hòa tan của protein tơ cơ trước và sau khi đông khô ở các giá trị pH từ 2 đến 12
Cấu trúc hình thái của protein ở cá dễ bị biến đổi do môi trường vật lý thay
đổi. Hình 1.1 cho thấy tính tan của protein trong sợi cơ thay đổi sau khi đông khô.
Việc xử lý với nồng độ muối cao hoặc xử lý bằng nhiệt có thể dẫn đến sự biến tính,
sau đó cấu trúc protein bị thay đổi không hồi phục được.
Khi protein bị biến tính dưới những điều kiện được kiểm soát, có thể sử
dụng
các đặc tính của chúng cho mục đích công nghệ. Ví dụ trong sản xuất các sản phẩm từ
surimi, người ta đã lợi dụng khả năng tạo gel của protein trong sợi cơ. Protein từ cơ
thịt cá sau khi xay nhỏ, rửa sạch rồi cho thêm muối và phụ gia để tạo tính ổn định, tiếp
đến quá trình xử lý nhiệt và làm nguội có kiểm soát giúp protein tạo gel rất mạnh
(Suzuki, 1981).
Các protein tương cơ cản trở
quá trình tạo gel, chúng được xem là nguyên nhân
làm giảm độ bền gel của sản phẩm. Vì vậy, trong công nghệ sản xuất surimi việc rửa
thịt cá trong nước nhằm nhiều mục đích, một trong những mục đích là loại bỏ protein
hòa tan trong nước, gây cản trở quá trình tạo gel.
Protein tương cơ có khả năng hòa tan cao trong nước, là nguyên nhân làm mất
giá trị dinh dưỡng do một lượng protein đáng kể thoát ra khi rửa, ướp muối, tan
giá,…Vì vậy cần chú ý
để duy trì giá trị dinh dưỡng và mùi vị của sản phẩm.
Protein mô liên kết ở da cá, bong bóng cá, vách cơ khác nhau. Tương tự như
sợi collagen trong động vật có vú, các sợi collagen ở các mô của cá cũng tạo nên cấu
trúc mạng lưới mỏng với mức độ phức tạp khác nhau. Tuy nhiên, collagen ở cá kém
bền nhiệt hơn nhiều và ít có các liên kết chéo hơn nhưng nhạy cảm hơn collagen ở
động vật máu nóng có xương sống.
1.1.2.2. Thành phần trích ly chứ
a nitơ phi protein (Non Protein Nitrogen)
Chất phi protein là thành phần hòa tan trong nước, có khối lượng phân tử thấp
và chiếm khoảng 9-18% tổng hàm lượng protein ở cá xương, khoảng 33-38% ở các
loài cá sụn. Thành phần chính của hợp chất này bao gồm các chất bay hơi (amoniac,
amine, trimethylamin, dimethylamin), trimethylamineoxid (TMAO), dimethylamineoxid
(DMAO), creatin, các acid amin tự do, nucleotide, urê (có nhiều trong cá sụn)
Bảng 1.4 liệt kê một số thành phần trong nhóm nitơ phi protein của các loài cá,



5
tôm hùm, thịt gia cầm và thịt động vật có vú.
Bảng 1.4. Sự khác nhau cơ bản về thành phần các chất phi protein từ cơ

Cá Thành phần theo mg/100g
trọng lượng ướt
Tuyết Trích Nhám
Tôm
hùm
Gia
cầm
Động
vật có

- Tổng nitơ phi protein 1.200 1.200 3.000 5.500 1.200 3.500
- Tổng acid amin tự do
+ Arginine
+ Glycine
+ Acid glutamic
+ Histidine
+ Proline
75
<10
20
<10
<1,0
<1,0
300
<10
20
<10
86
<1,0
100
<10
20
<10
<1,0
<1,0
3.000
750
10
2
-10
3
270
-
750
440
<20
<20
55
<10
<10
350
<10
<10
36
<10
<10
- Creatine 400 400 300 0 - 550
- Betaine 0 0 150 100 - -
- TMAO 350 250 500-10
3
100 0 0
- Anserine 150 0 0 0 280 150
- Carnosine 0 0 0 0 180 200
- Urê 0 0 2.000 - - 35
Nguồn: Shewan, 1974.
Thành phần chất trích ly chứa nitơ phi protein khác nhau phụ thuộc vào loài,
kích cỡ, mùa vụ, phần cơ lấy mẫu, ….

A, B: hai loài cá biển xương C: loài cá sụn D: loài cá nước ngọt
Hình 1.2. Sự phân bố nitơ phi protein trong cơ thịt cá
(Nguồn: Konosu và Yamaguchi, 1982; Suyama và cộng sự, 1977)



6
Các chất trích ly chứa nitơ phi protein rất quan trọng đối với các nhà chế
biến thuỷ sản bởi vì chúng ảnh hưởng đến mọi tính chất của thực phẩm như: màu sắc,
mùi vị, trạng thái cấu trúc, dinh dưỡng, sự an toàn và sự hư hỏng sau thu hoạch.
a. Trimethylamin oxyt (TMAO)
TMAO là thành phần đặc trưng và quan trọng của nhóm chất chứa nitơ phi
protein. TMAO có chủ yếu trong các loài cá nước mặn và ít được tìm thấy trong các
loài cá nước ng
ọt. Hàm lượng TMAO trong cá khác nhau tùy theo loài, điều kiện sinh
sống, kích cỡ. Cá hoạt động bơi lội nhiều, kích cỡ lớn chứa nhiều TMAO hơn cá nhỏ,
ít bơi lội trong nước. Hàm lượng TMAO chứa cao nhất trong các loài cá sụn (cá nhám)
và mực, chiếm khoảng 75-250 mgN/100g, cá tuyết chứa ít hơn (60-120 mgN/100g).
Theo Tokunaga (1970), hàm lượng TMAO ở cá nổi như cá trích, cá thu, cá ngừ
tập trung cao nhất trong cơ thịt sẫm (vùng tối), trong khi đó các loài cá đáy thịt trắng
có hàm lượng TMAO cao hơ
n nhiều trong cơ thịt màu sáng. TMAO có vai trò điều
hòa áp suất thẩm thấu của cá, vì vậy giúp cá chống lại áp suất thẩm thấu gây ra do sự
chênh lệch nồng độ muối trong nước biển.
b. Các axit amin tự do
Các axit amin tự do chiếm khoảng 0,5-2% trọng lượng cơ thịt, chúng góp phần
tạo nên mùi vị thơm ngon đặc trng của nguyên liệu. Hàm lượng axit amin tự do càng
nhiều thì vi khuẩn gây hư hỏng phát triển càng nhanh và sinh ra mùi ammoniac. Các
loài cá có cơ thịt s
ẫm và thường vận động như cá ngừ, cá thu có hàm lượng histidine
cao. Cơ thịt sẫm chứa histidin nhiều hơn cơ thịt trắng. Trong thời gian bảo quản,
histidine bị vi sinh vật khử nhóm carboxyl hình thành độc tố histamine.








Hình 1.3. Sự tạo thành histamine từ histidine
c. Urê
Urê có phổ biến trong tất cả cơ thịt cá, nhưng nói chung có ít hơn 0,05% trong
cơ thịt của cá xương, các loài cá sụn biển có chứa một lượng lớn urê (1-2,5%). Trong
quá trình bảo quản, urê phân huỷ thành NH
3
và CO
2
dưới tác dụng của enzym urease
của vi sinh vật. Do urê hoà tan trong nước và thấm qua màng tế bào nên nó dễ được
tách ra khỏi miếng phi lê
d. Amoniac
Amoniac có mùi đặc trưng (mùi khai). Trong cơ thịt của cá tươi có một lượng
nhỏ amoniac. Trong cá xương, lượng amoniac th
ấp nhưng khi bị hư hỏng do vi sinh
vật thì lượng amoniac tăng nhanh. Khi sự hư hỏng tiến triển, pH của cơ thịt chuyển
sang môi trường kiềm do lượng amoniac tăng lên và tạo nên mùi ươn thối của cá.



7
e. Creatine
Là thành phần chính của hợp chất phi protein. Cá ở trạng thái nghỉ ngơi creatine
tồn tại dưới dạng mạch vòng phospho và cung cấp năng lượng cho quá trình co cơ.
1.1.2.3. Enzym
Enzym là protein, chúng hoạt động xúc tác cho các phản ứng hoá học ở trong
nội tạng và trong cơ thịt. Enzym tham gia vào quá trình trao đổi chất ở tế bào, quá
trình tiêu hoá thức ăn và tham gia vào quá trình tê cứng. Sau khi cá chết enzym vẫn
còn hoạt động, vì thế gây nên quá trình tự phân giải của cá, làm ảnh hưởng đến mùi vị,
trạng thái cấu trúc, và hình dạng bề ngoài của chúng. Sản phẩm của quá trình phân giải
do enzym là nguồn dinh dưỡng cho vi sinh vật, làm tăng nhanh tốc độ ươn hỏng.
Trong nguyên liệu có nhiều enzym khác nhau. Các nhóm enzym chính ảnh
hưởng đến chất lượng nguyên liệu là:
Enzym thuỷ phân
Enzym oxy hoá khử
Nhiều loại protease được tách chiết từ cơ thịt cá và có tác dụng phân giải làm
mềm mô cơ. Sự mềm hoá của mô cơ gây khó khăn cho chế biến. Các enzym thuỷ phân
protein quan tr
ọng trong nguyên liệu gồm: Cathepsin, protease kiềm tính, collagenase,
pepsin, trypsin, chimotrypsin.
Các emzym thuỷ phân lipid quan trọng trong cá gồm có: Lipase, phospholipase.
Chúng thường có trong các cơ quan nội tạng và trong cơ thịt. Enzym thuỷ phân lipid
rất quan trọng đối với cá đông lạnh, ở các loài cá này lipid có thể bị thuỷ phân khi độ
hoạt động của nước thấp. Quá trình bảo quản lạnh đông các axit béo tự do được sinh ra
từ photpholipid và triglyxerit, có ảnh hưởng xấu đến chất lượng của cá. Axit béo tự do
gây ra mùi vị
xấu, ảnh hưởng đến cấu trúc và khả năng giữ nước của protein cơ thịt.
Các enzym oxy hoá khử bao gồm: Phenoloxidase, lipoxygenase, peroxidase.
Polyphenoloxidase đặc biệt quan trọng trong tôm vì chúng là nguyên nhân gây nên
đốm đen cho nguyên liệu sau thu hoạch.
1.1.2.4. Lipid
Cá sử dụng chất béo như là nguồn năng lượng dư trữ để duy trì sự sống trong
những tháng mùa đông, khi nguồn thức ăn khan hiếm.
Hàm lượng lipid trong cá dao động nhiều (0,1-30%). Cá được phân loại theo
hàm lượng chấ
t béo như sau:
- Cá gầy (< 1% chất béo) như cá tuyết, cá tuyết sọc đen
- Cá béo vừa (<10% chất béo) như cá bơn lưỡi ngựa, cá nhồng, cá mập
- Cá béo (>10% chất béo) như cá hồi, cá trích, cá thu,
Bảng 1.5. Hàm lượng chất béo trong cơ thịt của các loài cá khác nhau

Loại cá Hàm lượng chất béo (%)
Cá tuyết 0,1 – 0,9
Cá bơn 0,5 – 9,6
Cá sao 1,1 – 3,6
Cá herring 0,4 - 30
Cá thu 1 - 35



8
a. Sự phân bố chất béo trong cá
Chất béo của các loài cá béo thường tập trung trong mô bụng vì đây là vị trí cá
ít cử động nhất khi bơi lội trong nước. Mô mỡ còn tập trung ở mô liên kết, nằm giữa
các sợi cơ. Với cá gầy, hàm lượng chất béo trong cá dự trữ chủ yếu trong gan.


Hình 1.4. Sự phân bố lipid tồng số ở các phần khác nhau của cơ thể cá thu (hình trên)
và cá ốt vẩy lông có nguồn gốc từ Nauy (hình dưới)
Nguồn: Lohne, 1976

b. Dạng tự nhiên của chất béo
Lipid trong các loài cá xương được chia thành 2 nhóm chính: phospholipid và
triglycerit. Phospholipid tạo nên cấu trúc của màng tế bào, vì vậy chúng được gọi là
lipid cấu trúc. Triglycerit là lipid dự trữ năng lượng có trong các nơi dự trữ chất béo,
thường ở trong các bào mỡ đặc biệt được bao quanh bằng một màng phospholipid và
mạng lưới colagen mỏng hơn. Triglycerit thường được gọi là lipid dự trữ. Một số loài
cá có chứa các este dạng sáp như một phần c
ủa các lipid dự trữ.
Thành phần chất béo trong cá khác xa so với các loài động vật có vú khác.
Điểm khác nhau chủ yếu là chúng bao gồm các acid béo chưa bão hòa cao (14-22
nguyên tử cacbon, 4-6 nối đôi). Hàm lượng axit béo chưa bão hòa trong cá biển (88%)
cao hơn so với cá nước ngọt (70%). Chất béo trong cá chứa nhiều acid béo chưa bão
hòa do đó rất dễ bị oxy hóa sinh ra các sản phẩm cấp thấp như aldehyde, ceton, skaton.
Tuy nhiên, lipid trong thủy sản rất có lợi cho sức khỏe người tiêu dùng. Các hợp chất
có lợi trong lipid cá là các axit béo không no cao,
đặc biệt là: Axit eicosapentaenoic
(EPA 20:5) và axit docosahexaenoic (DHA 22:6)
Điểm đông đặc của dầu cá thấp hơn động vật khác. Ở nhiệt độ thường ở trạng
thái lỏng, nhiệt độ thấp bị đông đặc ở mức độ khác nhau.




9
1.1.2.5. Gluxit
Hàm lượng gluxit trong cơ thịt cá rất thấp, thường dưới 0,5%, tồn tại dưới dạng
năng lượng dự trữ glycogen. Tuy nhiên, hàm lượng glycogen ở các loài nhuyễn thể
chiếm khoảng 3%.Cá vừa đẻ trứng lượng gluxit dự trữ rất thấp. Sau khi chết, glycogen
cơ thịt chuyển thành axit lactic, làm giảm pH của cơ thịt, mất khả năng giữ nước của
cơ thịt. Sự biến đổ
i của pH ở cơ thịt sau khi cá chết có ý nghĩa công nghệ rất lớn.

1.1.2.6. Các loại vitamin và chất khoáng
Cá là nguồn cung cấp chính vitamin nhóm B (thiamin, riboflavin và B
12
),
vitanin A và D có chủ yếu trong các loài cá béo. Vitamin A và D tích lũy chủ yếu
trong gan, vitamin nhóm B có chủ yếu trong cơ thịt cá.
Vitamin rất nhạy cảm với oxy, ánh sáng, nhiệt độ. Ngoài ra, trong quá trình chế
biến (sản xuất đồ hộp, tan giá, ướp muối, ) ảnh hưởng lớn đến thành phần vitamin.
Vì vậy, cần phải chú ý tránh để tổn thất vitamin trong quá trình chế biến.
Chất khoáng của cá phân bố chủ yếu trong mô xương, đặc biệt trong xương
sống. Canxi và phospho là 2 nguyên t
ố chiếm nhiều nhất trong xương cá. Thịt cá là
nguồn giàu sắt, đồng, lưu huỳnh và íôt. Ngoài ra còn có niken, coban, chì, asen, kẽm.
- Hàm lượng chất sắt trong thịt cá nhiều hơn động vật trên cạn, cá biển nhiều
hơn cá nước ngọt, cơ thịt cá màu sẫm nhiều hơn thịt cá màu trắng.
- Sunfua (S) có phổ biến trong thịt các loài hải sản, chiếm khoảng 1% chất khô
của thịt. Sunfua trong thịt cá phần lớn tồn tạ
i ở dạng hợp chất hữu cơ sunfua hòa tan.
Hàm lượng sunfua nhiều hay ít có ảnh hưởng lớn đến màu sắc của sản phẩm.
- Hàm lượng đồng trong cá ít hơn so với động vật thủy sản không xương sống.
- Hàm lượng iod trong thịt cá ít hơn so với động vật hải sản không xương sống.
Cá biển có hàm lượng iod cao hơn cá nước ngọt. Hàm lượng iod của động vật hải sản
nói chung nhiề
u gấp 10 - 50 lần so với động vật trên cạn. Thịt cá có nhiều mỡ thì hàm
lượng iod có xu hướng tăng lên.
1.2. Tính chất của động vật thủy sản
1.2.1. Tính chất vật lý
1.2.1.1. Hình dạng:
Hình dạng cơ thể và chức năng của cá hoàn toàn thích nghi với cuộc sống bơi
lội tự do trong nước. Cá có nhiều dạng:
- Hình thoi: cá nục, cá thu, cá ngừ.
- Hình tên: cá cờ, cá kim.
- Hình dẹp: cá chim, cá đuối, cá bơn.
- Hình rắn: cá khoai, cá hố, cá dứa.
Có thể chia thành 2 dạng cơ bản: cá thân tròn và cá thân dẹt
- Cá thân tròn như: cá ngừ, cá thu, cá nhám. Chúng thường hoạt động bơi lội.
- Cá thân dẹt như cá đuối, cá bơn thích
ứng với đời sống ở đáy biển, và ít bơi lội.
Vi sinh vật được tìm thấy trên bề mặt ngoài của cá sống và cá vừa mới đánh
bắt. Nếu cá có tỉ lệ diện tích bề mặt so với khối lượng của nó (còn gọi là diện tích bề



10
mặt riêng) càng lớn thì càng dễ bị hư hỏng do hoạt động của vi sinh vật ở bề mặt cá.
Vì vậy, trước khi xử lý và bảo quản, cần phải rửa sạch cá để loại bỏ lớp nhớt ở bề mặt
cá chứa vi sinh vật.

1.2.1.2. Tỉ trọng của cá
Gần bằng tỉ trọng của nước, thay đổi tùy theo bộ phận trên cơ thể của cá, phụ
thuộc vào thân nhiệt của cá, cá có nhiệt đô càng nhỏ thì tỉ trọng càng nhỏ.
1.2.1.3. Điểm băng
Là điểm ở đó nhiệt độ làm cho cá bắt đầu đóng băng, nước trong cơ thể cá tồn
tại ở dạng dung dịch do đó đ
iểm băng tuân theo định luật Raun. Dung dịch càng loãng
đóng băng càng nhanh, điểm đóng băng của cá gần điểm đóng băng của nước (0
o
C).
Thông thường điểm băng của các loài cá từ -0,6
o
C ÷ -2,6
o
C. Điểm băng của cá tỉ lệ
nghịch với pH của dung dịch trong cơ thể cá. Áp suất thẩm thấu của động vật thủy sản
nước ngọt thấp hơn nước mặn do đó điểm băng của thủy sản nước ngọt cao hơn nước mặn.
1.2.1.4. Hệ số dẫn nhiệt
Phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng mỡ, cá có hàm l
ượng mỡ càng lớn thì hệ số
dẫn nhiệt càng nhỏ. Tuy nhiên hệ số dẫn nhiệt còn phụ thuộc vào nhiệt độ. Thịt cá
đông kết có hệ số dẫn nhiệt lớn hơn cá chưa đông kết, nhiệt độ đông kết càng thấp hệ
số dẫn nhiệt càng cao.
1.2.2. Tính chất hóa học của động vật thủy sản
Chủ yếu nghiên cứu hệ thố
ng keo, đó là các loại protein
1.2.2.1. Tính chất hóa học thể keo của động thủy sản
Do cấu tạo từ những hợp chất nitrogen, các hợp chất này cấu tạo nên cơ quan
của cá tạo cho cấu trúc của cá có độ chắc, độ đàn hồi và độ dẽo dai nhất định (cấu tạo
từ các thành phần phức tạp nhưng chủ yếu là protein). Cấu tạo của cơ thể cá là một
hỗn hợp năng lượng chất hóa học mà trước hết là các loại protein, sau đó là lipid rồi
các muối vô cơ và những chất khác nữa tạo thành một dung dịch keo nhớt trong đó
nước là dung môi.
1.2.2.2. Trạng thái tồn tại của nước
Tồn tại ở 2 trạng thái là nước kết hợp và nước tự do
- Nước tự do: là dung môi tốt cho nhiều chất hòa tan đông kết ở 0
o
C, khả năng
dẫn điện lớn, có thể thoát ra khỏi cơ thể của sinh vật ở áp suất thường.
- Nước kết hợp: không là dung môi cho các chất hòa tan, không đông kết, khả
năng dẫn điện nhỏ, không bay hơi ở áp suất thường.
1.2.2.3. Hình thức tồn tại của nước
Thường tồn tại dưới 2 hình thức: tồn tại với hạt thân nước và chất thân nướ
c
* Hạt thân nước: tồn tại dưới dạng nước khuếch tán, nước tự do, nước hấp phụ
- Nước hấp phụ: là lớp nước bên trong, kết hợp với các hạt thân nước bằng lực
phân tử trên bề mặt hoặc 1 gốc nhất định nào đó
- Nước khuếch tán: là lớp nước ở giữa, không kết hợp với các hạt thân nước, độ
dày lớp nước khuế
ch tán dày hơn lớp nước hấp phụ rất nhiều
* Chất thân nước: tồn tại dưới 2 hình thức nước kết hợp và nước tự do.



11
- Nước kết hợp
+ Nước kết hợp với protein ở dạng keo đặc tức nước do protein ở dạng keo đặc
hấp thụ.
+ Nước kết hợp protein keo tan: là nước kết hợp vơí protein ở trạng thái hòa
tan, muối vô cơ và các chất ở trạng thái keo hòa tan khác, nước này là nước do keo hòa
tan hấp thụ.
- Nước tự do: gồm nước cố định, nước có kết cấu tự do và nước dính ướt.
+ Nước cố định: là nước chứa rất nghiêm ngặt trong kết cấu hình lưới, nó là
một dạng keo đặc nước này rất khó ép ra.
+ Nước kết cấu tự do: tồn tại ở những lỗ nhỏ và khe hở của kếtcấu hình lưới của
màng sợi cơ hoặc ở những tổ chức xốp nhiều lỗ rổng của mô liên kết, nước này dễ ép
ra
+ Nước dính ướ
t: rất mỏng, thường dính sát trên bề mặt của cơ thịt cá.
Nước kết hợp có ý nghĩa rất quan trọng trong sự sống của động vật thủy sản.
Bên cạnh đó nước kết hợp còn tạo giá trị cảm quan cho động vật thủy sản, tạo mùi vị
thơm ngon.












12

Chương II.
CÁC BIẾN ĐỔI CỦA ĐỘNG VẬT
THỦY SẢN
SAU KHI CHẾT


Cá từ khi đánh được đến khi chết, trong cơ thể của nó bắt đầu có hàng loạt sự
thay đổi về vật lý và hóa học. Sự biến đổi của cá sau khi chết được mô tả theo sơ đồ:













Hình 2.1
.
2.1. Các biến đổi cảm quan
Biến đổi về cảm quan là những biến đổi được nhận biết nhờ các giác quan như
biểu hiện bên ngoài, mùi, kết cấu và vị.
2.1.1. Những biến đổi ở cá tươi nguyên liệu
Trong quá trình bảo quản, những biến đổi đầu tiên của cá về cảm quan liên quan
đến biểu hiện bên ngoài và kết cấu. Vị đặc trưng của các loài cá thường thể hiện rõ ở
vài ngày đầu của quá trình bảo quản bằng nước đá.
Biến đổi nghiêm trọng nhất là sự bắt đầu mạnh mẽ của quá trình tê cứng. Ngay
sau khi chết, cơ thịt cá duỗi hoàn toàn và kết cấu mềm mại, đ
àn hồi thường chỉ kéo dài
trong vài giờ, sau đó cơ sẽ co lại. Khi cơ trở nên cứng, toàn bộ cơ thể cá khó uốn cong
thì lúc này cá đang ở trạng thái tê cứng. Trạng thái này thường kéo dài trong một ngày
hoặc kéo dài hơn, sau đó hiện tượng tê cứng kết thúc. Khi kết thúc hiện tượng tê cứng,
cơ duỗi ra và trở nên mềm mại nhưng không còn đàn hồi như tình trạng trước khi tê
cứng. Thời gian của quá trình tê cứ
ng và quá trình mềm hoá sau tê cứng thường khác
nhau tuỳ theo loài cá và chịu ảnh hưởng của các yếu tố như nhiệt độ, phương pháp xử
lý cá, kích cỡ và điều kiện vật lý của cá (Bảng 2.1).
Sự ảnh hưởng của nhịệt độ đối với hiện tượng tê cứng cũng không giống nhau.
Đối với cá tuyết, nhiệt độ cao làm cho hiện tượng tê cứng diễn ra nhanh và rất mạnh.



13
Nên tránh điều này vì lực tê cứng mạnh có thể gây ra rạn nứt cơ thịt, nghĩa là mô liên
kết trở nên yếu hơn và làm đứt gãy miếng philê .

Bảng 2.1 Sự bắt đầu và khoảng thời gian tê cứng ở một số loài cá khác nhau

Loài cá Điều kiện
Nhiệt độ
(
0
C)
Thời gian kể
từ khi chết
đến khi bắt
đầu tê cứng
(giờ)
Thời gian kể
từ khi chết đến
khi kết thúc tê
cứng (giờ)
Bị sốc 0 2-8 20-65
Bị sốc 10-12 1 20-30
Bị sốc 30 0,5 1-2
Cá tuyết (Gadus morhua)

Không bị sốc 0 14-15 72-96
Cá song (Epinephelus
malabaricus)
Không bị sốc 2 2 18
Bị sốc 0 1 - Cá rô phi xanh
(Areochromis aureus)
Không bị sốc 0 6 -
Cá rô phi nhỏ (60g)
(Tilapia mossambica)
Không bị sốc 0-2 2-9 26,5
Cá tuyết đuôi dài
(Macrourus whitson)
Bị sốc 0 <1 35-55
Cá cơm (Engraulis
anchoita)
Bị sốc 0 20-30 18
Cá bơn (Pleuronectes
platessa)
Bị sốc 0 7-11 54-55
Cá tuyết đen (Pollachius
virens)
Bị sốc 0 18 110
Cá quân (Sebastes spp.) Bị sốc 0 22 120
Cá bơn Nhật Bản
(Paralichthys olivaceus)
- 0 3 >72
- 5 12 >72
- 10 6 72
- 15 6 48
Cá bơn Nhật Bản
(Paralichthys olivaceus)

- 20 6 24
- 0 8 -
- 10 60 -
- 20 16 -
Bị sốc 0 1 -
Cá chép (Cyprinus
carpio)

Không bị sốc 0 6 -

Nguồn: Hwang, 1991; Iwamoto, 1987; Korhonen, 1990; Nakayama, 1992;
Nazir và Magar, 1963; Partmann, 1965; Pawar và Magar, 1965;
Stroud, 1969; Trucco, 1982.

Nói chung, người ta thừa nhận rằng ở điều kiện nhiệt độ cao thì thời điểm tê cứng
đến sớm và thời gian tê cứng ngắn. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, đặc biệt đối với cá

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét