REBIT
EBIT
DFL
=
xã hội thông qua việc nâng cao hiệu quả việc sản xuất kinh doanh của từng
doanh nghiệp.
Về phía các doanh nghiệp: Vốn vay Ngân hàng là một nguồn quan
trọng, góp phần hình thành vốn tối u qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Ta hiểu ngắn gọn cơ cấu vốn tối đa của một công ty là cơ cấu vốn làm tối đa
hoá gía trị thị trờng (hay giá cả cổ phiếu) của công ty đó, và cơ cấu vốn tối u
này thì chi phí vốn bình quân đợc cho bởi công thức sau đây là hợp nhất:
WACC = Wd. Kd (1-t) + Wp + WsKs
Trong đó
- WACC là chi phí vốn bình quân
-Wd, Wp, Ws lần lợt là tỷ trọng của nợ vay, vốn huy đọng từ cổ
phiếu u đãi và cổ phiếu thờng (hay lợi nhuận giữ lại). Vốn vay có tác dụng
khuyếch đại lợi nhuận qua đòn cân nợ:
Đòn cân nợ DFL chính là thay đổi của thu nhập của
mối cổ phiếu thờng thay đổi 1% của lợi nhuận hoạt động (EBIT); là lãi suất
tiền vay (R) là một loại chi phí hợp lý đợc trừ ra khỏi lợi nhuận hoạt động khi
tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Do vậy theo công thức tính chi phí bình
quân, doanh nghiệp chỉ phải thực chịu mức lãi suất (1-t), trong đó Kd là lãi
suất tiền vay và (t) là thuế suất thuế thu nhập. Tuy vậy không phải doanh
nghiệp sẽ dùng toàn bộ vốn vay để tài trợ cho hoạt động của mình, bởi thờng
thì đến một giới hạn nào đó, các Ngân hàng sẽ đòi hỏi lãi suất cao hơn để bù
đáp mức rủi ro tăng lên mà họ phải chịu; Hơn nữa càng sử dụng nhiều nợ vay
thì quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp càng bị ảnh hởng. Nh vậy, các
doanh nghiệp cân nhắc một tỷ lệ vốn vay hợp lý để có một cơ cấu vốn tối u,
và các Ngân hàng thơng mại đã giúp các doanh nghiệp tìm ra một cơ cấu vốn
có chi phí rẻ nhất.
Những để đợc một Ngân hàng cho vay, các doanh nghiệp lại phải có
những điều kiện nhất định. Một điều kiện thờng thấy là các doanh nghiệp
phải giải trình tình hình tài chính đợc thể hiện qua sổ sách kế toán, các báo
cáo tài chính, định kỳ chuyển cho Ngân hàng các tài liệu thể hiện hoạt động
kinh doanh và sử dụng vốn vay. Chính bởi vậy nó tạo ra sức ép đối với các
5
doanh nghiệp trong việc thực hiện hoạch toán kinh doanh, góp phần quản lý
giám sát nền kinh tế, lành mạnh hoá môi trờng kinh doanh. Sự sắn có của các
khoản cho vay khiến các doanh nghiệp an tâm hơn về vốn lu động, có khả
năng đầu t nhiều hơn vào hàng dự trữ nếu thấy có lợi mà vốn lu động tự có
của họ không đáp ứng nổi. Các khoản cho vay lãi dài hạn của Ngân hàng lại
tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu t vào tài sản cố định đầu t vào sản xuất,
cải tiến công nghệ nâng cao năng lực sản xuất. Và dù là vay theo hình thức
nào thì lãi suất vốn vay cùng sự kiểm tra giám sát Ngân hàng thúc đẩy các
doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả để có lãi hoàn trả đợc nợ
Ngân hàng, tạo uy tín để tiếp tục vay vốn Ngân hàng.
2. Phân loại các khoản cho vay
Tuy theo các tiêu thức phân loại chúng ta có các loại cho vay khách nhau:
2.1. Theo thời hạn cho vay
Theo tiêu thức này, ngời ta chia các khoản cho vay thành cho vay ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn. Mặc dù hầu hết các nớc đều thống nhất về điều
này, những thời gian cụ thể đợc quy định theo từng loại lại không hoàn toàn
đồng nhất. ở các nớc phơng Tây ngời ta cho vay ngắn hạn có thời hạn nhỏ
hơn 1 năm; các khoản cho vay trung hạn có thời hạn từ trên 1 năm tới 7 năm;
các món cho vay dài hạn có kỳ hạn dài hơn. Tuy vậy cũng có nhiều khoản
cho vay có thời hạn tới 10 năm (nh cho vay tiêu dùng) vẫn đợc coi là vay
trung hạn. Còn ở Việt nam hiện nay theo quy chế cho vay thì cho vay Ngắn
hạn cũng có thời hạn đến 1 năm; cho vay trung hạn có thể tới 5 năm; cho vay
dài hạn có thời gian từ 5 năm trở lên những không quá thời hạn hoạt động
còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân,
không quá 15 năm với cho vay các dự án phục vụ đời sống.
Phân loại các món vay theo thời hạn là phổ biến của mọi Ngân hàng. Họ
sẽ căn cứ vào đối tợng cho vay mà quyết định loại cho vay cho phù hợp
(thuộc loại ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và thời hạn cụ thể), từ đó mà áp
dụng các phơng thức kiểm tra, kiểm soát món vay phù hợp. Với cách phân
loại này, các Ngân hàng sẽ xây dựng một cơ cấu hợp lý các khoản cho vay
6
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, từ đó tạo ra cơ cấu kỳ hạn tối u của tài sản,
phù hợp với kỳ hạn của nguồn vốn huy động, kết hợp tốt nhất giữa khả năng
sinh lợi và khả năng thanh khoản.
2.2. Theo lĩnh vực đầu t
Theo cách phân loại này ta có thể chia các khoản cho vay thành:
-Cho vay thơng mại và công nghiệp
-Cho vay bất động sản
-Cho vay nông nghiệp
-Cho vay cá nhân
-Cho vay khác
Tuy theo điều kiện và yêu cầu quản lý ta có thể chia nhỏ hơn nữa các lĩnh
vực trên để đợc các loại cho vay với lĩnh vực hẹp hơn. Phân loại các món vay
theo lĩnh vực rất có ý nghĩa trong việc kết hợp giữa đa dạng hoá để giảm rủi
ro với chuyên môn hoá ở mức độ phù hợp. Các Ngân hàng thờng da vào các
lợi thế của mình (lợi thế về vị trí, về trang thiết bị công nghệ, về quy mô, về
đội ngũ cán bộ, ) để chuyên môn hoá vào một hay một số lĩnh vực nhằm
khai thác triệt để các lợi thế ấy, dự báo tốt về động thái các ngành mình cho
vay, khả năng hoàn trả đúng hạn các khoản vay của khách hàng Tuy vậy xu
hớng của thế giới hiện nay vẫn là hớng tới các Ngân hàng đa năng, trong đó
sự chuyên môn hoá điễn ra ở cấp độ các phòng ban hay bộ phần của Ngân
hàng. Bằng cách chia các khách hàng vay ra các lĩnh vực khách nhau, Ngân
hàng có thể theo dõi động thái của nền kinh tế và từng lĩnh vực để mở rộng
cho vay vào lĩnh vực này hay rút bớt vốn khỏi lĩnh vực kia.
2.3. Theo mức độ đảm bảo.
Các Ngân hàng có thể cho vay có hay không có đảm bảo tuỳ theo tín
nhiệm cũng nh độ rủi ro của phơng án xin vay vốn. Từ đảm bảo của khách
hàng ở đây chỉ đợc hiểu theo nghĩa hẹp là đảm bảo bằng tài sản thế chấp,
cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba. Các đảm bảo này có mục đích giảm bớt
rủi ro mất mát trong trờng hợp ngời vay không trả đợc nợ hay không muốn
trả nợ khi đáo hạn. Các tài sản đợc đem ra thế chấp thờng là các bất động sản
trong khi ấy các tài sản đợc cầm cố lại là những động sản nhỏ chứng khoán
7
và các giấy tờ có giá khác, vật t Yêu cầu cơ bản đối với các tài sản đa ra
cầm cố, thế chấp là chúng phải có tính thị trờng, tức là có khả năng thanh lý
đợc. Thờng thì các Ngân hàng cho vay dới mức giá trị thanh lý của các tài
sản đảm bảo bởi khi mà giá trị các tài sản ấy còn lớn hơn giá trị của món vay
thì khách hàng còn có động lực trả nợ. ở Việt nam các Ngân hàng có thể cho
vay tới 70 -75% giá trị tài sản thế chấp hoặc tới 90% giá trị các số tiết kiệm
cầm cố. Tuy vậy cũng cần khẳng định mục đích của các đảm bảo trên là tạo
động lực buộc khách hàng trả nợ chứ chẳng Ngân hàng nào muốn thanh lý
những tài sản đảm bảo ấy để bù đáp cho những món vay không thể thu hồi.
Trờng hợp khách hàng có tín nhiệm, có tình hình tài chính vững mạnh
và lợi nhuận có đợc từ dự án sẽ cho vay là khả quan thì Ngân hàng có thể cho
vay không cần đảm bảo, điều mà các sở Việt nam gọi là cho vay tín chấp.
Điều đó giải thích tại sao nhiều Ngân hàng cấp những khoản cho vay lớn
nhất lại không cần đảm bảo. Đó là các khoản cho vay những khách hàng chủ
yếu, những công ty có quan hệ thờng xuyên với Ngân hàng, có tình hình tài
chính vững mạnh với lợi nhuận tơng đối ổn định bởi hệ thống quản lý có hiệu
quả và các sản phẩm dịch vụ đợc thị trờng chấp nhận. Nh vậy, để quyết định
món vay là có đảm bảo hay không có đảm bảo các Ngân hàng phải dựa vào
các yếu tố nhất định nh đã phân tích.
2.4. Theo phơng pháp hoàn trả
Các khoản cho vay còn có thể đợc hoàn trả một lần hay trả góp. Cho
vay hoàn trả một lần thì khoản tiền vay đợc hoàn trả toàn bộ một lần vào thời
gian đáo hạn theo hợp động tín dụng, lãi suất có thể đợc trả theo những thời
hạn nhất định (chẳng hạn theo tháng, theo quý hay năm). trong khi ấy, cho
vay trả góp đòi hỏi việc hoàn trả theo định kỳ theo nguyên tắc trả dần trong
suốt thời gian thực hiện hợp đồng, các khoản trả nợ có thể bằng nhau (trả
theo niên kim cố định) hoặc không bằng nhau tuỳ theo thoả thuận. Thông th-
ờng các Ngân hàng áp dụng phơng thức trả góp với các khoản cho vay trung
dài hạn (TDH) để đầu t vào các dự án để mở rộng sản xuất kinh doanh hay
đầu t mới, hay đầu t vào bất động sản còn các khoản cho vay hoàn trả một lần
8
lại thờng đợc áp dụng với cho ngắn hạn hơn, theo quy chế cho vay hiện nay,
các khoản cho vay ngắn hạn đợc cấp hai hình thức là cho vay theo món và
hạn mức tín dụng.
2.5. Theo thành phần kinh tế
Ta cũng có thể phân các khoản cho vay ra thành cho vay DNNN và
cho vay ngoài quốc doanh. Đây là cách phân loại không đợc nhấn mạnh
trong các nền kinh tế TBCN nhng đối với nền kinh tế thị trờng theo định h-
ớng XHCN ở nớc Việt nam nó lại rất có ý nghĩa trong thực tiến. Kinh tế Nhà
nớc giữ vai trò chủ đạo, Nhà nớc có chính sách khác nhau với từng khu vực
kinh tế chẳng hạn việc quy định các DNNN không cần phải có tài sản thế
chấp khi vay vốn tại các NHTMQD, các u tiên và hạn chế khác liên quan tới
mở rộng hay thu hẹp tín dụng Ngân hàng tới các thành phần kinh tế nói
chung. Mặt khác, mối thành phần kinh tế lại có những đặc điểm riêng biệt, và
phải nói một cách công bằng là Ngân hàng sẽ có thái độ ứng xử khác nhau
trong hoạt động cho vay các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Đây cũng là điều hợp lý. Lu ý là trong cách phân loại ta cũng có thể phân
chia chi tiết hơn nữa, chẳng hạn đối với cho vay ngoài quốc doanh, cho vay
cá nhân, cho vay công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, cho vay
doanh nghiệp t nhân, cho vay vốn đầu t nớc ngoài. Đối với cho vay DNNN,
bao gồm cho vay các DNNN độc lập và cho vay các Tổng công ty và thành
viên của chúng.
3. Các hình thức bảo đảm đối vật:
Hiện nay bảo đảm đối vật đợc thực hiện dới hai hình thức là cầm cố và thế
chấp tài sản
3.1. Thế chấp tài sản
Thế chấp là phơng tiện chuyên dịch quyền lợi về tài sản sang cho chủ
nợ với mục đích làm đảm bảo cho món nợ hoặc miến trừ một nghĩa vụ.
3.1.1 Tài sản đ ợc dùng làm thế chấp bao gồm :
- Đất đai, quyền sử dụng đất đai: Đó là quyền sử dụng đất ở, đất canh tác cho
nông nghiệp, lâm nghiệp đợc Nhà nớc giao cho các hộ gia định, các cá nhân
9
sử dụng vào mục đích đã đợc pháp luật quy định; quyền sử dụng đất của các
tổ chức trong nớc đợc Nhà nớc giao cho thuê đất; quyền sử dụng đất đợc hình
thành do thừa kế, chuyển nhợng, chuyển đổi sử dụng đúng mục đích theo quy
định của pháp luật; quyền sử dụng đất của các tổ chức cá nhân nớc ngoài, ng-
ời Việt nam định c ở nớc ngoài đợc phép đầu t vào Việt nam đợc Nhà nớc
cho thuê đất.
- Các tài sản gắn liền với đất đai nh: Nhà ở, Nhà máy, khách sạn, văn phòng,
vợn cây, ao cá
- Các tài sản nh tàu thuỷ, máy bay và cả tài sản khác đợc thế chấp nếu nh
pháp luật có quy định
- Hoa lợi, lợi tức và các quyền lợi phát sinh từ tài sản thế chấp có thuộc tài
sản thế chấp hay không là do Ngân hàng và khách hàng thoả thuận.
3.1.2. Các tải sản không đ ợc dụng làm thế chấp :
- Các tài sản gắn liền với đất sử dụng vào mục đích vì lợi ích công cộng
không nhằm mục đích kinh doanh.
- Các kết cấu hạ tầng quan tâm xây dựng gắn liền với đất vì lợi ích quốc gia
nh: đờng dây tải điện, trạm phát điện, trạm biên thế điện, công trình thuỷ lợi,
đờng giao thông, cầu cống, hệ thống thông tin quốc gia, công trình nghiên
cứu khoa học và các công trình kết cấu hạ tầng công cộng khác.
- Các công sở nh: trụ sở các cơ quan Nhà nớc, các tổ chức chính trị, xã hội,
đoàn ngoại giao, văn phòng đại diện của nớc ngoài
- Tài sản sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh và những trờng hợp đặc
biệt khác theo quy định của Chính phủ.
- Tài sản không thuộc quyền quản lý, quyền sử dụng và quyền sở hữu hợp
pháp của bên vay.
- Tài sản đang bị cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền tạm giữ, phong toả, tài sản
đang làm thủ tục giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp.
- Tài sản gắn liền với đất đã đợc cơ quan có thẩm quyền phê quy hoạch sử
dụng vào mục đích khác.
- Tài sản Nhà nớc quy định cấm kinh doanh, mua bán, chuyển nhợng.
10
- Tài sản đợc hình thành bằng vốn vay đang làm đảm bảo cho khoản vay cha
trả hết nợ cho tổ chức tín dụng.
- Tài sản khác không đợc thế chấp nếu pháp luật có quy định.
3.2. Cầm cố tài sản
Cầm cố là hành vi giao nộp tài sản hoặc các chứng từ nhận quyền tài
sở hữu của con nợ (Ngời cầm cố) cho chủ nợ (ngời đợc cầm cố) để đảm bảo
thực hiện một nghĩa vụ. Nghĩa vụ cầm cố trong quan hệ tín dụng là ngời đi
vay thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ đúng hạn theo hợp đồng.
Hành vi cầm cố tài sản hết hiệu lực khi ngời đi vay đã hoàn trả đẩy đủ
các khoản nợ đợc đảm bảo bằng cầm cố. Trong trờng hợp ngời đi vay không
thanh toán nợ đúng hạn theo hợp đồng thì Ngân hàng đợc quyền bán tài sản
cầm cố và đợc u tiên thu nợ trớc các chủ nợ khác.
3.2.1. Những tài sản đ ợc dùng để cầm cố :
- Nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm của các đơn vị sản xuất, phơng tiện vận
tải nh: ô tô, xà lan, tàu biển, máy bay, xe máy
- Công cụ lao đông máy móc thiết bị, phơng tiện sinh hoạt cho tập thể cá
nhân nh: ti vi, xe máy
- Các giấy tờ trị giá bằng tiền đang còn thời hạn, bao gồm: số tiết kiệm, ký
phiếu, chứng chỉ gửi tiền, trái phiếu do các doanh nghiệp, các tổ chức tín
dụng phát hành, tín phiếu và trái phiếu kho bạc Nhà nớc.
- Các vật quý bằng vàng bạc đá quý.
3.2.2. Những tài sản không đ ợc dùng để cầm cố :
-Những tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên vay vốn.
-Những tài sản mà Nhà nớc cấm kinh doanh, mua bán, chuyển nhợng.
-Cổ phiếu của các tỏ chức tín dụng phát hành cho cổ đông không đợc cầm cố
cho chính tổ chức tín dụng đó.
- Tài sản đang có sự tranh chấp.
-Tài sản bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ, niêm phong, phong toả tài sản
đang làm thủ tục giải thể.
-Tài sản đang cầm cố hoặc thực hiện nghĩa vụ khác.
-Tài sản khó kiểm định, khó đánh giá, khó mua bán.
11
-Tài sản hình thành bằng vốn vay mà cha trả hết nợ cho Ngân hàng.
3.2.3. Kỹ thuật nghiệp vụ cầm cố :
* Cho vay có cầm cố bằng chứng khoán:
Đây là nghiệp vụ cho vay đơn giản, khách hàng có thể dùng một hay
nhiều chứng khoán cầm cố cho Ngân hàng để đảm bảo cho một khoản vay.
Khi đến hạn khách hàng trả nợ cho Ngân hàng và nhận lại các chứng khoán
đã cầm cố.
Về phía Ngân hàng, khi nhận hồ sơ xin vay cầm cố bằng chứng khoán
Ngân hàng phải nghiên cứu mức độ rủi ro của từng loại chứng khoán công ty.
Giá trị của các chứng khoán phần lớn đợc xác định theo giá thị trờng, chứ
không phải theo mệnh giá của chúng và đây là một vấn đề hết sức phức tạp,
đòi hỏi phải có các chuyên viên chứng khoán mới có khả năng định giá đợc.
Khi xem xét tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng khoán, thời hạn của
chứng khoán, khả năng phát mại của các chứng khoán, nếu đồng ý nhận các
chứng khoán đó thì giữa Ngân hàng và khách hàng phải ký kết với nhau một
hợp đồng về cầm cố chứng khoán, Ngân hàng viết biên lại giao khách hàng
rồi sau đó Ngân hàng tổ chức lu giữ chứng khoán đó.
4.ý nghĩa của bảo đảm tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng
Đảm bảo tín dụng đợc coi là tiêu chuẩn khi xét duyệt cho vay những
cũng phải thấy rằng đây không phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất hay nói
cách khác không phải là tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc. Tuy vậy, trên thực
tế các Ngân hàng xếp đảm bảo tín dụng vào vị trí số một vào thậm chí có
nhiều trờng hợp coi nó nh là tiêu chuẩn duy nhất. Chính t duy này đã dẫn đến
xuất hiện hàng luật các rủi ro trong cho vay của Ngân hàng.
Đảm bảo tín dụng tuỳ không phải là tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc
những nó cũng có vị trí hết sức quan trọng. Trong nền kinh tế thị trờng các
hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp, vì thế mọi dự đoán rủi
ro của Ngân hàng đều mang tính chất tơng đối. Trong môi trờng kinh doanh
nh vậy, đảm bảo là tiêu chuẩn bổ sung những mặt hạn chế của nhà quản trị
tín dụng, cũng nh phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi trờng
12
kinh doanh. Trên thực tế, Ngân hàng cấp tín dụng không đảm bảo cho những
khách hàng tốt mà đã đợc thực tế kiểm chứng trong một thời gian tơng đối
dài, các khách hàng còn lại cần phải đợc đảm bảo khi quyết định cấp tín
dụng.
4.1. Đối với Ngân hàng
Đối với Ngân hàng thì việc đảm bảo tín dụng sẽ giúp cho Ngân hàng
có khả năng thu hội nợ một cách nhanh chóng và chắc chắn hơn. Mặt khác,
việc đảm bảo đó sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng có khả năng mở rộng và
tăng doanh số doanh thu trong hoạt động tín dụng của mình.
4.2. Đối với khách hàng
Đảm bảo tín dụng sẽ giúp cho khách hàng có thể vay vốn dễ dạng hơn
nhất là trong trờng hợp cấp bách về vốn để thực hiện quá trình sản xuất kinh
doanh. Hơn nữa việc thực hiện đảm bảo tín dụng làm cho ngời vay có trách
nhiệm hơn với khoản vay và do đó là tiền đề trong việc sử dụng vốn có hiệu
quả hơn nhất là trong điều kiện kinh tế có sự gay gắt.
Nh vậy, trong khi xem xét cho vay, Ngân hàng phải đánh giá tính khả
thi của kế hoạch, tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, khả năng hoàn trả
Còn vấn đề đảm bảo tín dụng chỉ là biện pháp hỗ trợ, không phải là yêu tố
quyết định trong việc ra quyết định cho vay. Nhng không phải vì thể mà hạ
thấp vị trí của bảo đảm tín dụng vì nó là biện pháp dự phòng cho rủi ro.
II. Nhu cầu vay vốn và các điều kiện vay vốn của
Ngân hàng
1. Nhu cầu về vốn và vay vốn
1.1. Tầm quan trọng về vốn đối với doanh nghiệp
Vốn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra các cải vật chất và
đạt đợc sự tiến bộ của xã hội, vì nó là nhân tố không thể thiếu để ứng dụng
tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển công nghệ và đẩy nhanh tốc độ tăng
trờng kinh tế. Đối với doanh nghiệp, để có thể tồn tại và phát triển trong nền
kinh tế thị trờng cạnh tranh gay gắt thì nhu cầu về vốn ngày càng lớn.
13
Trong điều kiện nớc Việt nam hiện nay, nhu cầu về vốn đối với các
doanh nghiệp rất lớn nhng khả năng đáp ứng còn bị hạn chế. Các doanh
nghiệp thờng cần vốn cho các nhu cầu chủ yếu nh
-Hình thành và mở rộng doanh nghiệp;
-Đổi mới công nghệ, nhất là thiết bị, đổi mới sản phẩm, đa dạng hoá và nâng
cao chất lợng sản phẩm;
-Đào tạo lao động, bao gồm cả cán bộ quản lý có trình độ và công nhân, cán
bộ kỹ thuật;
-Đáp ứng nhu cầu về vốn lu động, nhất là nhằm bảo đảm nguyên vật liệu và
các nhu cầu thanh toán thờng xuyên khác.
Tiềm năng về vốn còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh
nghiệp trong việc tạo lợi thế cạnh tranh, tăng cờng uy tín trên thị trờng. Vì
vậy thu hút các nguồn vốn khác nhau nhằm tăng sức mạnh về vốn và đáp ứng
các yêu cầu của sản xuất kinh doanh trở thành đòi hỏi bức thiết đối với các
doanh nghiệp.
1.2. Nhu cầu vay vốn của Ngân hàng và vai trò tín dụng Ngân hàng đối
với doanh nghiệp
Các doanh nghiệp có thể huy động vốn từ các nguồn khác nhau, bao
gồm cả các nguồn vốn trong nớc và các nguồn vốn từ nớc ngoài. Hiện nay ở
Việt nam có những nguồn vốn sau đây khá phổ biến cho các nhu cầu vốn
ngắn, trung và dài hạn của các doanh nghiệp:
-Vốn ngân sách
-Vốn từ lợi nhuận để lại
-Vốn vay Ngân hàng thơng mại
-Vốn liên doanh
-Vốn phát hành trái phiếu, cổ phiếu
Để có thể thấy đợc tậm quan trọng của nguồn vốn tín dụng Ngân hàng
đối với việc đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp
Nếu nh trớc đây cần nh toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp Nhà nớc đợc ngân sách cấp (vốn cố định, vốn lu động), thì hiện
nay vốn cấp từ ngân sách nhà nớc đã giảm đi rất nhiều. Đối với các doanh
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét