Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước: Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay

- Kinh tế Nhà nớc luôn nắm giữ những ngành những lĩnh vực then chốt của
nền kinh tế quốc dân nh điện, than, thép, bu chính viễn thông, cơ khí chế tạo,
công nghiệp quốc phòng, dầu khí, là thành phần nắm giữ phần lớn tài sản
quốc gia nh tài nguyên thiên nhiên đất đai, sông, rừng, biển, là ngời đảm bảo
chủ yếu các dịch vụ quan trọng nh tài chính tiền tệ, bảo hiểm, hàng không, đ-
ờng sắt, là lực lợng thay mặt xã hội nắm hầu hết vai trò đối tác của phía Việt
Nam trong các hoạt động kinh tế quốc tế.
- Kinh tế Nhà nớc là do Nhà nớc trực tiếp quản lý và giúp đỡ. Kinh tế Nhà
nớc chính là đại diện về kinh tế của Nhà nớc là công cụ vật chất quan trọng
cùng với hệ thống công cụ chính sách đòn bẩy khác của Nhà nớc thực hiện
sự điều tiết và chi phối quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Vì vậy mà
Nhà nớc phải trực tiếp quản lý các hoạt động của kinh tế Nhà nớc, trực tiếp
hỗ trợ và giúp đỡ cho kinh tế Nhà nớc hoạt động có hiệu quả, đảm bảo thực
hiện đợc những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội. Đợc sự giúp đỡ của Nhà
nớc, kinh tế Nhà nớc có điều kiện để đổi mới khoa học công nghệ nhanh
chóng, áp dụng các phơng pháp sản xuất tiên tiến, tạo ra giá trị sản phẩm lớn
trong xã hội, cung ứng số lợng lớn các hàng hoá và dịch vụ trong xã hội, bảo
đảm những cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân.
- Kinh tế Nhà nớc là đại biểu cho lợi ích xã hội, cung cấp dịch vụ và phúc lợi
xã hội, là thành phần đảm bảo công bằng xã hội và duy trì mối quan hệ song
song giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
Nh vậy, từ sự phân tích trên ta thấy ở nớc ta kinh tế Nhà nớc giữ vai
trò chủ đạo ttong nền kinh tế nứơc ta hiện nay là một tất yếu, không thể phủ
nhận.
2.2. Nội dung vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nớc.
2.2.1. Là lực lợng vật chất để điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong văn kiện đại hội Đảng IX đã viết: Kinh tế Nhà nớc phát huy
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lợng vật chất quan trọng và là công
cụ để Nhà nớc định hớng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
5
Việc can thiệp của nhà nớc vào quá trình kinh tế đã đa kinh tế nhà n-
ớc trở thàh khu vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một chủ thể
kinh tế lớn giúp cho nhà nớc thực hiện chức năng ổn định, công bằng và hiệu
quả.
Với t cách là chủ thể kinh tế, nhà nớc trớc hết đóng vai trò là ngời chi
tiêu lớn nhất. Hiện nay ở nhiều nớc công nghiệp phát triển, tỷ lệ chi tiêu của
chính phủ chiếm tới 50% tổng sản phẩm quốc dân. Và nhà nớc cũng là ngời
thu lớn nhất tơng đơng với khoản chi của nó. Do đó nhà nớc đã trở thành
không chỉ là mốt thị trờng tiêu thụ lớn, mà còn là một nhà tài chính mạnh.
Hơn thế nữa, với tiềm năng kinh tế mạnh, nhà nớc đã tham gia vào vòng chu
chuyển kinh tế, và đã sử dụng lực lợng tài chính tiền tệ này nh một công cụ
mạnh mẽ trong việc phân phối các nguồn lực, và hớng nền kinh tế theo các
mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định.
Ngoài việc chi tiêu của chính phủ có tính chất phi doanh nghiệp, bộ
phận quan trọng khác của kinh tế nhà nớc đã đợc thể hiện dới hình thức
doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nớc là cơ sở kinh tế _lực lợng vật chất góp
phần tạo ra của cải phục cụ nhu cầu của xã hội.Với t cách này, doanh nghiệp
nhà nớc cần đạt đợc một tỷ lệ nhất định về GDP trong tổng số GDP của toàn
bộ nền kinh tế. Trên cơ sở đó nhà nớc đủ sức quản lý nền kinh tế và thực hiện
các chức năng xã hội của mình.
Kinh tế Nhà nớc làm lực lợng vật chất để Nhà nớc thực hiện chức
năng điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế. Nền kinh tế thị trờng ở nớc ta
còn sơ khai, có nhiều khuyết tật, hạn chế, không cẩn thận sẽ bị chệch hớng
xã hội chủ nghĩa, nên kinh tế Nhà nớc phải trở thành một lực lợng vật chất
để Nhà nứơc điểu tiết quản lý và hạn chế khuyết tật của nền kinh tế thị tr-
ờng, điều tiết giá cả thị trờng hệ thống tài chính tiền tệ, điều tiết các lỗ
hổng của thị trờng.
2.2.2. Là đòn bẩy để tăng trởng và phát triển kinh tế
6
Với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, kinh tế nhà nớc tạo ra môi trờng
ổn định cho các thành phần kinh tế khác cũng nh toàn bộ nền kinh tế tăng tr-
ởng và phát triển.
Kinh tế nhà nớc, nắm giữ phần lớn tài sản của nền kinh tế và do đó,
tạo ra giá trị hàng hoá và dịnh vụ công cộng khả dĩ chi phối đợc giá cả thị tr-
ờng, dẫn dắt giá cả thị trờng bằng chính chất lợng và giá cả của sản phẩm và
dịch vụ do mình cung cấp.
Kinh tế nhà nớc còn kiểm soát các hoạt động của thị trờng vốn và thị
trờng tiền tệ để đảm bảo khả năng ổn định kinh tế vĩ mô của nhà nớc. Chính
sách tài chính tiền tệ là một trong hai công cụ chính yếu của nhà nớc trong
quản lý kinh tế vĩ mô. Thị trờng vốn và thị trờng tiền tệ hoạt động ổn địnhvà
phát triển thì thị trờng hàng hoá, dịch vụ mới ổn định và phát triển.
Kinh tế nhà nớc đièu chỉnh đợc các lỗ hổng trong quan hệ cung cầuvà
dịch vụ do cơ chế thị trờng tạo ra các lĩnh vực kinh doanh cần thiết cho sự
phát triển kinh tế - xã hội, nhng khả năng sinh lời thấp, không hấp dẫn khu
vực t nhân đầu t, nh đầu t vào cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội,
bảo vệ môi trờng,v.v
Ngoài ra, kinh tế nhà nớc còn tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có tác
dụng thúc đẩy các nghành và các thành phần kinh tế khác phát triển.
2.2.3. Mở đờng định hớng chi phối các thành phần kinh tế khác
Kinh tế Nhà nớc mở đờng hớng dẫn hỗ trợ các thành phần khác cùng
phát triển. Kinh tế Nhà nớc phải thực hiện vai trò anh cả đi đầu trong các
lĩnh vực, mở đờng hớng dẫn các thành phần kinh tế khác. Chẳng hạn, trong
nền kinh tế thị trờng có những lĩnh mới, tính rủi ro cao, đòi hỏi vốn lớn nhng
thu hồi chậm, các lĩnh vực kết cấu hạ tầng, công trình công cộng an ninh
quốc phòng.là những ngành cần thiết và tạo điều kiện cho phát triển sản xuất,
nhng các thành phần kinh tế khác cha muốn làm hoặc cha có khả năng, điều
kiện làm thì kinh tế Nhà nớc phải đi đầu mở đờng tạo điều kiện cho các
7
thành phần kinh tế khác phát triển có hiệu quả và đúng định hớng xã hội chủ
nghĩa.

2.2.4. Giải quyết các vấn đề chính sách xã hội
Hệ thống doanh nghiệp nhà nớc còn là công cụ để nhà nớc can thiệp
trực tiếp nhằm giải quyết việc làm và thu nhập, kích thích tiêu dùng, chống
đỡ khủng hoảng kinh tế. Đặc biệt khi nền kinh tế suy thoái, mứcđộ sử dụng
lao động thấp, để giảm độ chênh lệchcủa sự phân phối thu nhập trong xã hội
và tăng công ăn việc làm, vực nền kinh tế qua thời suy thoái, nhà nớc trong
các nớc công nghiệp phát triển đã dùng biện pháp quốc hữu hoá các doanh
nghiệp t nhân.
2.2.5. Làm nền tảng cho chế độ xã hội mới
Kinh tế Nhà nớc tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới, xã hội xã hội chủ
nghĩa. Hiện nay công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta còn nhiều bất
cập, kinh tế Nhà nớc với vai trò một ngời anh cả cùng với kinh tế hợp tác
và các thành phần kinh tế khác phải tập trung xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho chủ nghĩa xã hội, tạo nền tảng cho chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa,
xây dựng một Nhà nớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiến bộ văn minh gắn với
công bằng xã hội.
Khi nói đến vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nớc chúng ta
cũng không thể không nói đến vai trò của các doanh nghiêp Nhà nớc, một
thành phần quan trọng, nòng cốt của kinh tế Nhà nớc. Bởi vì để kinh tế Nhà
nớc thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình thì doanh nghiệp Nhà nớc cũng
cần phát huy tối đa vai trò của mình, và để hiểu rõ hơn vai trò của kinh tế
Nhà nớc chúng ta cũng cần tìm hiểu vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc. Nghị
8
quyết 10 của Bộ Chính Trị khoá VII nêu rõ ba vai trò của doanh nghiệp Nhà
nớc:
Làm nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nớc.
Hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có hiệu quả, thúc đẩy sự tăng
trởng nhanh và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế.
Cung ứng những hàng hoá dịch vụ công cộng cần thiết, nhất là trong
lĩnh vực kết cấu hạ tầng vật chất (giao thông thuỷ lợi, điện , nớc, thông tin
liên lạc) và xã hội (giáo dục, y tế), quốc phòng, an ninh, một số ngành sản
xuất kinh doanh trọng yếu khác.
Là một công cụ có sức mạnh vật chất để Nhà nớc điều tiết vĩ mô và h-
ớng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa, góp phần
quan trọng khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trờng, thực hiện một số
chính sách xã hội.
Làm rõ về mặt lý luận, vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nớc và doanh
nghiệp Nhà nớc sẽ giúp chúng ta đề ra cơ chế chính sách phù hợp và biện
pháp quản lý hữu hiệu đối với kinh tế Nhà nớc, phát huy tối đa vai trò chủ
đạo của thành phần kinh tế Nhà nớc, hạt nhân của quan hệ sản xuất mới xã
hội chủ nghĩa.
9
Chơng II:
Thực trạng vai trò chủ đạo của KT Nhà nớc ở nớc ta hiện nay
1. Tình hình chung về thành phần kinh tế Nhà nớc
Chiến lớc 10 năm 1991-2000 đợc thực hiện khi nền kinh tế đang có một
số chuyển biến tích cực, nhng đất nớc vẫn cha ra khỏi khủng hoảng KT-XH,
chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu tan vỡ, Mỹ tiếp tục bao vây, cấm vận
ta, các thế lực thù địch tìm cách chống phá ta về nhiều mặt. Những năm cuối
thập kỉ 90, nớc ta lại chịu tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng tài
chính,kinh tế khu vực và bị thiệt hại lớn do thiên tai liên tiếp xảy ra trên
nhiều vùng. Mặc dù có nhiêu khó khăn, thách thức gay gắt nhìn chung việc
thực hiện chiến lợc 1991-2000 và gần đây nhất là kế hoạch 5 năm 2001-2005
đã đạt đợc những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Sau mấy năm đầu thực
hiện chiến lợc, đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng KT-XH. Tổng sản phẩm quốc
nội sau hơn 15 năm tăng gần 3 lần, hàng hoá không còn khan hiếm mà đã
đáp ứng đợc các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế, xuất khẩu
tăng. Kết cấu hạ tầng KT-XH phát triển nhanh, quan hệ sản đã có những bớc
đổi mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và thúc đẩy
sự hình thành nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Kinh tế nhà nớc giữ vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế, doanh nghiệp nhà nớc đợc sắp xếp, đổi mới
thích nghi với cơ chế mới. Các thành phần kinh tế khác cũng có những bớc
phát triển mới.
Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nớc ta đã phát triển quan hệ kinh tế với
nhiều nớc khác, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập với các nớc trên thế
giới. Nhịp độ tăng kim ngạch xuất khẩu gần gấp ba nhịp độ tăng GDP, thu
hút đợc nhiều vốn từ bên ngoài đầu t vào trong nớc. Tình hình kinh tế phát
triển, xã hội ổn định làm cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đợc
cải thiện, trình độ dân trí nâng cao. Tuy nhiên trình độ phát triển kinh tế của
nớc ta còn thấp xa so với mức trung bình của thời gian và các nớc xung
quanh. Nền kinh tế kém hiệu quả và sức cạnh tranh còn yếu, cha có chuyển
biến đáng kể trong việc đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nớc (DNNN).
10
Bên cạnh những tiến bộ trong việc phát triển khu vực kinh tế Nhà
nớc còn có những hạn chế. Kinh tế Nhà nớc cha đợc củng cố tơng xứng với
vai trò chủ đạo, cha có chuyển biến đáng kể. Sự phát triển của khu vực kinh
tế Nhà nớc và đặc biệt là các DNNN còn nhỏ bé về quy mô và dàn trải về
ngành nghề. Nhiều doanh nghiệp cùng loại hoạt động chông chéo về ngành
nghề kinh doanh cấp quản lí và trên cùng một địa bàn tạo ra sự cạnh tranh
không đáng có trong chính khu vực kinh tế Nhà nớc với nhau. DNNN còn
dàn trải trên tất cả các ngành nghề từ sản xuất đến thơng mại, dịch vụ gây
tình trạng phân tán, manh mún về vốn trong khi vốn đầu t nhà nớc rất hạn
chế, gây chi phối, xé lẻ các nguồn lực kể cả các hoạt động quản lí nhà nớc,
không thể tập trung vào những ngành lĩnh vực chủ yếu, then chốt. Trình độ
khoa học kĩ thuật còn lạc hậu dẫn đến năng lực cạnh tranh kém và thua thiệt
trong hội nhập về kinh tế với khu vực và quốc tế. Hầu hết trong khu vực kinh
tế Nhà nớc, đặc biệt là các DNNN có máy móc, thiết bị nhập khẩu từ nhà n-
ớc, thuộc nhiều thế hệ, nhiều chủng loại. Máy móc thiết bị của ta lạc hậu so
với khu vực và thế giới từ 10-30 năm.
Trong khu vực kinh tế Nhà nớc đang tồn tại hiện tợng thiếu việc làm lực
lợng lao động d thừa nhiều. Số doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả chiếm tỉ
trọng thấp trong tổng số các DNNN, nhiều DN hoạt động thua lỗ. Tỷ lệ tăng
trởng đóng góp vào GDP của hệ thống DNNN không đáng kể trong thời gian
qua, trong khi đó ngân sách Nhà nớc liên tục phải cấp vốn cho đầu t xây
dựng, cấp bổ sung vốn lu động, bù lỗ, hỗ trợ giảm bớt khó khăn về tài chính
cho các DNNN. Theo đánh giá, hiện nay chỉ có 40% DNNN hoạt động sản
xuất kinh doanh thực sự có hiệu quả.

2. Đánh giá tình hình hoạt động của DNNN trong thời gian qua.
11
Trong những năm vừa qua hoạt động của các DNNN giữ một vị trí quan
trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nó là một bộ phận nắm giữ cơ sở
vật chất chủ yếu, huyết mạch chính của nền kinh tế quốc dân, nơi tập trung
chủ yếu giai cấp công nhân và cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý của đất nớc
nơi đa lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nớc.
Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 về việc chuyển doanh
nghiệp nhà nớc thành Công ty cổ phần và các văn bản hớng dẫn liên quan đã
tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp
trong thời gian qua. Theo tinh thần Nghị định này, Chính phủ đã phê duyệt
phơng án tài chính cho thời kỳ 3 năm 2001-2004( với tổng kinh phí trên
35.000 tỷ đồng, đến nay đã xử lý trên 16.000 tỷ đồng) để hỗ trợ xử lý công
nợ tồn đọng của doanh nghiệp và ngân hàng và xử lý chế độ cho lao động dôi
d khi thực hiện việc sắp xếp và chuyển đổi DNNN( cổ phần hoá, giải thể )
Chính nhờ vậy trong những năm qua, việc sắp xếp, đổi mứi doanh nghiệp nhà
nớc đã đạt đợc những kết quả nhất định.
Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều phát triển tốt, không chỉ
bảo toàn và phát triển đợc vốn, tăng thu nhập cho ngan sách mà còn duy trì
mức trả cổ tức cho các cổ đông ở mức bình quân từ 10-15%. Qua cổ phần hoá
722 doanh nghiệp, Nhà nớc đã huy động trên 2440 tỷ đồng vốn nhà rỗi để
đầu t phát triển các doanh nghiệp cổ phần hoá và củng cố doanh nghiệp nhà
nớc cần thiết nắm giữ, bao gồm: 1.470 tỷ đồng thu từ bán phần vốn Nhà nớc
và thu thêm 970 tỷ đồng thông qua bán đấu giá cổ phần cao hơn giá sàn và
phát hành thêm cổ phần thu hút vốn. Tuy nhiên sau một thời gian thực hiện,
đặc biệt là đối chiếu với tinh thần Nghị quyết TW9 và Nghị quyết
01/2004/NQ-CP của Chính phủ về đẩy nhanh đổi mới và sắp xếp doanh
nghiệp còn bộc lộ một số tồn tại sau:
12
- Tiến độ sắp xếp, chuyển đổi DNNN còn chậm so với kế hoạch đề ra,
cũng nh so với yêu cầu đổi mới, sắp xếp DNNN. Mức độ triển khai giữa các
Bộ, các địa phơng, các Tổng công ty không đồng đều, cha đúng lọ trình, kế
hoạch đã đợc Thủ tớng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp.
- Hiệu quả sắp xếp , đổi mới DNNN cha cao: Phơng án sắp xếp
DNNN tập trung thu gọn đầu mối theo hớng mỗi Bộ, mỗi địa phơng, mỗi
Tổng công ty co một đề án sắp xếp riêng, cha kết hợp đợc sắp xếp theo ngành
và lãnh thổ nên còn tình trạng chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, cơ
quan quản lý trên cùng một địa bàn. Nhiều DNNN theo Quyết định số
58/TTg thuộc diện cổ phần hoá hoặc đa dạng hoá nhng vẫn đa váo danh mục
Nhà nớc giữ 100% vốn. Cụ thể: Qua rà soát có 968/1391 đợc xác định Nhà n-
ớc nắm giữ 100% vốn đề án đợc duyệt ( chiếm 70% số doanh nghiệp ) không
đủ điều kiện quy định tại Quyết định 58/TTg. Còn duy trì một số Tổng công
ty hoạt động trong những ngành, lĩnh vực không cần tổ chức Tổng công ty
Nhà nớc, hoạt động của một số Tổng công ty còn mờ nhạt quy mô vốn
thấp( sau sắp xếp còn 24 Tổng công ty có quy mô dới 100 tỷ- không đúng
tiêu chí quy định tại Quyết định 58/TTg), mức thu nộp ngân sách thấp, trình
độ công nghệ cha cao.
Tuy chúng ta đã cổ phần hoá gần 800 doanh nghiệp nhng mức vốn chỉ
bằng 3% tổng số vốn của nhà nớc tại doanh nghiệp. Nếu hoàn thành 104 đề
án đợc duyệt (2053 doanh nghiệp) thì mới chyển đổi đợc tối đa 21% tổng số
vốn trong doanh nghiệp (41.000 tỷ / 189.000 tỷ). Các doanh nghiệp cổ phần
hoá hầu hết có quy mô nhỏ( chiếm 84% tổng số DN cổ phần hoá); số DN
thuộc diện Nhà nớc nắm tối thiểu 51% cổ phần phát hành lần đầu còn nhiều
(chiếm 46,6% tổng số DN cổ phần hoá, trong đó kể cả các DN có qui mô
nhỏ, chủ yếu bán phần vốn hiện có, cha mở rộng huy động thêm vốn nên số
lợng cổ phần bán ra ngoài còn thấp ( bình quân chỉ có 10% vốn điều lệ) nên
13
hạn chế khả năng tham gia góp vốn của nhà đầu t tiềm năng, có trình độ quản
lý, đồng thời tạo thêm nguồn hàng mới cung cấp cho thị trờng chứng khoán
để thúc đẩy thị trờng vốn tại Việt Nam.
Có nhiều DNNN không đủ điều kiện tồn tại( nợ và tài sản tồn đọng
nhiều, thu lỗ mất hết vốn nhà nớc) nhng vẫn đợc đa vào diện đợc thực hiện cổ
phần hoá, dẫn tới thời gian cổ phần hoá bị kéo dài do phải xử lý những tồn
đọng về tài chính, thậm chí có trờng hợp cha xử lý đã không có vốn để cổ
phần hoá. Tổng số vốn nhà nớc khoảng trên 189.000 tỷ thì tổng số nợ phải trả
đã trên 300.000 tỷ.
Việc giao, bán doanh nghiệp cho tập thể ngời lao động trong thời gian qua
đã tránh đợc tình trạng giải thể, phá sản cho danh nghiệp và duy trì việc làm
cho ngời lao động. Nhng qua hoạt động của các doanh nghiệp loại này cho
thấy cha có sự đổi mới phơng thức quản lý, khả năng đầu t đổi mới công nghệ
và mở rộng thị trờng hạn chế, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, tình trạng
lao động xin nghỉ nhiều.
Nội dung, phạm vi quản lý vốn Nhà nớc tại các doanh nghiệp còn nhiều
bất cập. Các cơ quan Nhà nớc còn can thiệp hành chính sâu vào hoạt động
của DNNN.
- Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé, hiệu quả kinh doanh cha cao
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét