Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014
Tài liệu Bệnh Học Ngoại - Phụ Y Học Cổ Truyền doc
5
Lời nói đầu
Thực hiện nghị quyết 226/CP của Hội đồng Chính phủ về việc phát triển y
học cổ truyền Việt Nam, căn cứ công văn số 7227/YT - K2ĐT của Bộ Y tế ngày
27/9/2004 về việc thẩm định sách và tài liệu dạy - học hệ đại học và cao đẳng
chính quy, Khoa Y học cổ truyền - Trờng Đại học Y Hà Nội biên soạn tài liệu
Bài giảng ngoại - phụ y học cổ truyền nhằm cung cấp cho sinh viên chuyên khoa
y học cổ truyền có tài liệu học tập và tham khảo về y học cổ truyền theo chơng
trình cải cách.
Mục đích yêu cầu của tài liệu:
- Về mặt lý thuyết: sinh viên nắm đợc những đặc điểm cơ bản của y học cổ
truyền về bệnh ngoại khoa và phụ khoa.
- Về mặt thực hành: nắm đợc các phơng pháp chẩn đoán và điều trị một
số bệnh thờng gặp trong ngoại khoa và phụ khoa để phục vụ cho việc chăm sóc
sức khoẻ của nhân dân. Sách trình bày những điểm cơ bản có tính cập nhật, có
kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền.
Chủ biên và các tác giả biên soạn cuốn sách này là những cán bộ giảng
dạy y học cổ truyền có nhiều kinh nghiệm về ngoại khoa và phụ khoa của Khoa
Y học cổ truyền - Trờng Đại học Y Hà Nội soạn thảo.
Trong quá trình biên soạn và xuất bản mặc dù đã có nhiều cố gắng nhng
chắc chắn còn có thiếu sót, chúng tôi mong nhận đợc những ý kiến đóng góp
của đồng nghiệp và bạn đọc.
PGS.TS. Nguyễn Nhợc Kim
Trởng khoa Y học cổ truyền
Trờng Đại học Y Hà Nội
6
chữ viết tắt
BN Bệnh nhân
TB Tiêm bắp
TC Tử cung
TCBT Tử cung bình thờng
T/M Tĩnh mạch
YHCT: Y học cổ truyền
YHHĐ: Y học hiện đại
7
Mục lục
Phần 1. Ngoại khoa 9
Biện chứng trong ngoại khoa y học cổ truyền
Phạm Văn Trinh 10
Sơ lợc lịch sử điều trị chấn thơng trong y học cổ truyền
Lê Lơng Đống 21
Bong gân (Nỉu thơng)
Phạm Văn Trịnh 24
Toạ thơng (Đụng giập phần mềm)
Phạm Văn Trịnh 27
Vết thơng phần mềm (Sang thơng)
Phạm Văn Trịnh 29
Đại cơng về gãy xơng (Củ tiết)
Lê Lơng Đống 37
Nguyên tắc điều trị gãy xơng kết hợp Y học cổ truyền
Lê Lơng Đống 42
Một số loại gãy xơng (Củ tiết)
Lê Lơng Đống 65
Thuốc y học cổ truyền dùng ngoài trong điều trị bệnh da liễu (Bệnh bì phu)
Tạ Văn Bình 75
Chàm (Phong chẩn)
Tạ Văn Bình 82
Bệnh mày đay (ẩn chẩn)
Tạ Văn Bình 90
Trĩ
Phạm Văn Trịnh 97
Rò hậu môn (Giang lậu)
Phạm Văn Trịnh 102
Mụn nhọt (Tiết đinh)
Trần Hải Vân 106
Sỏi tiết niệu (Thạch lâm)
Phạm Văn Trịnh 109
Phần 2. Sản phụ khoa 117
Chơng 1. Đại cơng 118
Đặc điểm sinh lý của phụ nữ
Lê Thị Hiền 118
8
Bệnh nguyên bệnh sinh theo YHCT của bệnh phụ khoa
Lê Thị Hiền 121
Đặc điểm về chẩn đoán bệnh phụ khoa (Tứ chẩn)
Lê Thị Hiền 123
Bát cơng
Lê Thị Hiền 126
Nguyên tắc điều trị bệnh phụ khoa
Lê Thị Hiền 130
Chơng 2. Điều trị một số bệnh phụ khoa 134
Kinh nguyệt không đều
Lê Thị Hiền 134
Rong kinh (Kinh lậu)
Lê Thị Hiền 142
Rong huyết (Huyết lậu)
Lê Thị Hiền 146
Đau bụng kinh (Thống kinh)
Lê Thị Hiền 153
Bế kinh, vô kinh (Trẫn huyết)
Lê Thị Hiền 157
Đới hạ
Lê Thị Hiền 162
Viêm loét cổ tử cung (Âm sang)
Thái Hoàng Oanh 166
Viêm âm đạo (Âm dỡng)
Lê Thị Hiền 169
Viêm phần phụ (Trng hà)
Thái Hoàng Oanh 173
Doạ sẩy thai (Động thai, thai lậu)
Lê Thị Hiền 177
Nôn mửa khi có thai (ác trở)
Lê Thị Hiền 182
Phù khi có thai (Tử thũng)
Lê Thị Hiền 186
Viêm tắc tia sữa, viêm tuyến vú (Nhũ ung)
Lê Thị Hiền 190
Thiếu sữa (Khuyết nhũ)
Lê Thị Hiền 193
Sa sinh dục (Âm đỉnh)
Lê Thị Hiền 197
9
Phần 1
10
Bài 1
Biện chứng trong ngoại khoa
y học cổ truyền
Mục tiêu
1. Hiểu và giải thích đợc các nguyên nhân gây bệnh của ngoại khoa y học cổ truyền.
2. Thuộc và trình bày đợc về biện chứng bệnh lý của ngoại khoa y học cổ truyền.
1. Quan niệm và phân loại
Bệnh ngoại khoa thực ra có rất sớm và có trớc các bệnh của các khoa
khác kể cả nội khoa, vì con ngời sinh ra phải lao động để sinh tồn cho nên
trớc tiên phải xuất hiện các kinh nghiệm điều trị: tai nạn lao động, côn trùng,
thú cắn Nhng từ xa các y văn để lại, ở nớc ta cha xếp riêng ngoại khoa, ở
Trung Quốc thời nhà Chu xếp đó là dơng khoa, thầy thuốc điều trị bệnh dơng
khoa gọi là dơng y.
Thời xa cho rằng các bệnh sinh ra ở bên ngoài cơ thể mắt nhìn thấy, tay sờ
thấy có chứng trạng cục bộ đều thuộc phạm vi của ngoại khoa. Ví dụ: đinh, ung,
th, hậu bối, tiền bối, đơn độc, loa lịch, dò, nham, bớu cổ Sau này do khoa học
phát triển có sự kết hợp giữa y học cổ truyền (YHCT) với y học hiện đại (YHHĐ)
cho nên phạm vi ngoại khoa rộng hơn, phong phú hơn (ví dụ: sa lâm, chấn
thơng, côn trùng, thú cắn, các bệnh da liễu, viêm tắc động mạch, trĩ).
Trong ngoại khoa y học cổ truyền, dựa vào các bệnh tình và nguyên nhân
có thể chia các loại:
Loại nhiệt (thuộc loại viêm nhiễm theo y học hiện đại): đinh, ung, th,
dơng, đơn độc, loa lịch, dò
Chấn thơng: triết thơng, nỉu thơng, toa thơng, huyết ứ, khí trệ ở tạng
phủ do chấn thơng, trật đả.
Các loại khác: nham, bỏng (hoả sang), lạnh cóng (đông sang); trùng, thú cắn.
Ngoài ra còn chia ra các bệnh theo vị trí tổn thơng, kết hợp với tính chất
của bệnh.
+ Các bệnh viêm nhiễm da, cơ, xơng, khớp, hạch và tuyến vú.
+ Các bệnh cấp tính.
11
+ Các bệnh hậu môn trực tràng.
+ Các bệnh da liễu.
+ Các bệnh thuộc chấn thơng.
+ Các bệnh u.
+ Các bệnh bang.
+ Các bệnh bị trùng - thú cắn.
+ Các bệnh ngoại khoa khác: sỏi gan - mật - tiết niệu, viêm tắc động
mạch, tĩnh mạch.
2. Khái quát về biện chứng bệnh ngoại khoa
2.1. Biện chứng nguyên nhân sinh bệnh
Nguyên nhân gây bệnh ngoại khoa là do các nguyên nhân bên ngoài (lục
dâm), các nguyên nhân bên trong (nội nhân) và các nguyên nhân khác (bất,
ngoại nội nhân) gây nên; nhng có đặc tính gây bệnh khác với nội khoa.
2.1.1. Nguyên nhân bên ngoài
Lục dâm tà độc còn gọi là ngoại cảm lục dâm, tức là ngoại tà gây nên, bao
gồm: phong, hàn, thử, thấp, táo và hoả xâm nhập vào cơ thể làm tổn thơng cơ
thể mà phát bệnh. Bệnh có thể phát tại chỗ (cục bộ), cũng có thể phát ra toàn
thân là tuỳ thuộc vào chính khí (sức đề kháng) của cơ thể. Chính khí toàn thân
h gây bệnh toàn thân (mụn, nhọt toàn thân); chính khí tại chỗ h gây bệnh tại
chỗ (nhọt, ung tại chỗ). Bệnh cục bộ chiếm tỷ lệ 70 - 80%.
Nguyên nhân gây bệnh trong ngoại khoa thờng do hoả, 5 loại tà khí khác
kết hợp với hoả để gây bệnh, nhng bản thân chúng cũng biến thành hoả để gây
bệnh còn gọi là hoả độc hoặc nhiệt độc. Vì vậy Nội kinh có nói: Chính khí còn
bên trong, tà khí không làm gì đợc.
Phong tà: phong tà là dơng tà, tính của phong là táo nhẹ và tán lên trên
ra ngoài, cho nên bệnh ở da thờng rải rác nhiều nơi, có khi phát toàn
thân hoặc tập trung ở đầu, mặt, cổ, bệnh ngứa và khô (hoặc có vẩy mỏng
hoặc tê bì).
Ví dụ: phong xâm nhập làm cho huyết táo, bì phu kém nuôi dỡng mà sinh
bệnh nh viêm da thần kinh, vẩy nến
Phong thích hành (di động) mà lại biến hóa nên phát bệnh nhanh và thay
đổi, phần nhiều thuộc dơng chứng (hoặc xuất hiện sng, đỏ, đau không có vị
trí nhất định; hoặc lên kinh giật co rút).
Ví dụ: bị vết thơng cảm phải phong tà gây bệnh nội phong có thể gặp phá
thơng phong (giống nh uốn ván, nếu là uốn ván cần phải phòng và điều trị y
học hiện đại trớc tiên).
12
Hàn tà: hàn tà là âm tà, tính chất bệnh ở sâu, thâm, tê bì, cân xơng
bệnh phần nhiều thuộc âm chứng. Đặc điểm bệnh ngoại khoa của hàn là
sng mà không cứng, màu sắc da thâm tía hoặc màu da trớc khi bị bệnh
không đỏ, không nóng, đau nhiều ở vị trí nhất định, bệnh âm thầm nặng.
Ví dụ: nguyên nhân do hàn làm cho khí huyết ứ trệ gây nên nhức đầu; chi
lạnh buốt tái nhợt, thậm chí thiếu huyết nuôi dỡng, teo nhỏ, rụng đốt tay đốt
chân gặp trong thoát th (động mạch); hoặc nếu do hàn tà xâm nhập nhiều,
lâu, ngng trệ khí huyết toàn thân gây toàn thân cứng đờ, lạnh buốt, đó là bệnh
đông thơng (bệnh lạnh cóng).
Hỏa tà: hỏa tà thuộc dơng tà, các triệu chứng chung là: ngứa, đau, lở
loét đều do hỏa hoặc phong, hàn, thử, thấp tà hoá hỏa gây nên.
Đặc điểm: phát bệnh nhanh, cấp tính (sng, đỏ, nóng và đau). Ví dụ: nhiệt
vào huyết có thể gây đơn độc hỏa nhiệt độc nh bệnh: đinh, th, ung nhọt; tuỳ
theo vị trí mà gây chứng bệnh khác nhau nh: da là đơn độc, có biểu định nh ung
nhọt ở kinh mạch nh viêm hạch, ở trớc ngực là tiền bối ở sau lng là hậu bối.
Từ vị trí của bệnh có thể biết các nguyên nhân kết hợp với hỏa, cụ thể: nếu
phát bệnh ở phần trên cơ thể nh: đầu, mặt, cổ, chi trên là thờng kết hợp với
phong; nếu bệnh phát ở ngực, sờn, bụng là thờng hỏa ứ lâu gọi là hỏa uất vì
khí hoả thờng uất ở giữa cơ thể; nếu phát bệnh ở phần dới cơ thể nh hậu môn,
chi dới, sinh dục, tiết niệu thờng kết hợp với thấp vì tính chất của thấp là hạ
giáng. Tuy vậy khi chẩn đoán nguyên nhân cần phải kết hợp với triệu chứng toàn
thân tại chỗ và vị trí bệnh trên cơ thể để điều trị mới để lại kết quả tốt.
Thấp tà: thấp tà là âm tà, có tính chất nhớt, dính, bẩn đục Tuỳ theo sự
thiên lệch của hàn nhiệt trong cơ thể và của quý tiết khí trời mà hóa hàn,
hóa nhiệt; mà kết hợp thành thấp hàn, thấp nhiệt.
Đặc điểm: nếu ở cơ nhục thì da loét nát, chảy nớc hoặc chảy mủ; ở sâu thì
rò, da ẩm ớt.
Ví dụ: thấp nhiệt gặp ở trĩ loét nát, ung thũng; thấp hàn gặp ở chi dới thì
gặp các loét mụn, loét
Táo tà: táo là d
ơng tà, đặc điểm của táo là làm tổn hại tân dịch, huyết táo
sinh phong, phần nhiều bệnh phát ở tay - chân và da (bì phu)
Tính chất của táo là: bì phu khô, nẻ, ngứa, mẩn, bong vẩy, nứt kẽ Ví dụ:
nếu nhiệt táo xâm nhập vào huyết sinh huyết táo, huyết nhiệt có thể gặp ở
bệnh vẩy nến; nếu huyết táo có thể gặp bệnh thấp mạn tính, da mẩn ngứa.
Thử tà: thử là dơng tà, thờng hiệp (bức), thử thấp bị trùng đốt lâu hóa
nhiệt phần nhiều phát ra ở cơ - da - đầu - mặt.
Đặc điểm là: sng đỏ, nung mủ, đau, gặp lạnh đau giảm. Ví dụ: thử thấp
nung đốt bì phu thành rôm sẩy hoặc cảm phải thử độc thành vết thơng lở loét,
mụn nớc.
13
2.1.2. Nguyên nhân bên trong
Nguyên nhân bên trong gọi là nội thơng thất tình, đó là nhân tố tinh
thần, cụ thể là: hỷ (vui), nộ (giận), bi (buồn), ai (lo), kinh (hãi), khủng (sợ), u
(suy nghĩ) bị rối loạn làm cho âm dơng không điều hòa, khí huyết không hòa
hợp, công năng của các tạng phủ và kinh lạc bị hỗn loạn mà gây bệnh. Trong
bệnh ngoại khoa hay gặp lo nghĩ, tức giận quá độ. Ví dụ: tình chí không thông,
tức giận quá độ làm cho can khí uất kết, khí trệ đàm ngng hay gặp trên lâm
sàng là bệnh viêm hạch (loa lịch), viêm tuyến vú, tắc tia sữa, u giáp trạng, các
khối u Ngoài ra còn gặp các bệnh ngoài da nh: viêm da thần kinh, bệnh sẩn
ngứa cũng do yếu tố tinh thần gây nên.
2.1.3. Các nguyên nhân khác
ăn uống không điều độ: theo Hải Thợng Lãn Ông đã nói: Ăn uống là bồi
đắp những chất cho chỗ thiếu, ăn uống quá mức thì thơng tổn tới tỳ vị
đạo trờng, cho nên ăn uống không điều độ cũng là nguyên nhân gây
bệnh ngoại khoa. Ví dụ: ăn nhiều thứ cay, nóng, béo, ngọt gây vị trờng
tích nhiệt, hỏa độc nội sinh gây nên bệnh lở loét, đinh, nhọt, rôm sẩy;
hoặc ăn uống quá nhiều gây nên thực tích, sinh bệnh cấp tính ở bụng, ăn
thức ăn lạnh hoặc quá đói gây nên các bệnh giun: tắc ruột do giun, giun
chui ống mật
Phòng dục: trong tập Nội kinh yếu chỉ Hải Thợng Lãn Ông đã nói rõ:
Sinh hoạt là kỷ cơng của hành động say đắm về sắc gọi là phòng dục,
tửu sắc bừa bãi gọi là hao, say đắm sắc dục quá mức thì gọi là tinh cạn,
bừa bãi thì tinh khí tản mạn. Nh vậy nếu phòng dục quá độ gây thận
khí tổn thơng, phong tà, hàn thấp dễ xâm nhập mà sinh bệnh (ví dụ:
viêm tuỷ xơng, xơng gãy lâu liền).
Nơi ở: đây cũng là nhân tố gây bệnh vì nó có liên quan chặt chẽ tới lục dâm
và cũng là yếu tố sinh ra lục dâm. Vì vậy bệnh ngoại khoa do nơi ở gây nên
chính là do lục dâm gây nên.
Các nguyên nhân khác:
+ Chấn thơng.
+ Trùng thú cắn.
+ Hỏa thơng và đông thơng.
Các tổn thơng trên nếu bệnh nhẹ thì cơ da, gân, xơng bị tổn thơng; nếu
bệnh nặng thì các tạng phủ bị tổn thơng; nếu bệnh nghiêm trọng hơn thì biến
bệnh toàn thân.
2.2. Biện chứng và bệnh lý
Bệnh lý là một tri thức hiểu biết về bệnh, giải thích đợc nguyên nhân gây
bệnh trong cơ thể và phân tích đ
ợc sự biến hóa của bệnh, đánh giá tiên lợng
của bệnh cho nên nó hết sức quan trọng trên thực tế lâm sàng, nó có ý nghĩa
chỉ đạo trọng yếu trong chẩn đoán, điều trị, phòng và tiên lợng bệnh.
14
2.2.1. Biện chứng về khí huyết
Khí huyết trong cơ thể giúp đỡ lẫn nhau mà lu hành, tuần hoàn trong
kinh mạch ở trong thì nuôi dỡng tạng phủ, ở ngoài thì nuôi dỡng cơ da để
duy trì sự sống và có tác dụng chống ngoại tà. Vì vậy khí huyết vợng thịnh,
bảo vệ bên ngoài sẽ mạnh thì ngoại tà không dễ xâm nhập; khí huyết h yếu,
bảo vệ bên ngoài sẽ kém thì các nguyên nhân gây bệnh rất dễ xâm nhập cơ thể
mà gây nên bệnh. Trong sách Nội kinh nói: Khí thơng thì đau, hình (huyết)
thơng thì sng. Sng và đau là phản ứng bệnh lý không giống nhau của 2 loại
khí huyết bị ngng trệ. Vì vậy phát sinh ra tổn thơng bệnh lý ngoại khoa nhất
thiết phải do khí huyết ngng trệ gây nên. Ví dụ nh trong ngoại khoa, chấn
thơng khí huyết ngng trệ là bệnh lý chủ yếu phát sinh và hình thành bệnh
(nh bệnh lở loét, đinh, nhọt nếu khí huyết xung thịnh (đủ) ở thời kỳ đầu dễ
dàng khỏi, ở thời kỳ có mủ dễ thu nhỏ và vỡ mủ, ở thời kỳ vỡ mủ dễ thu nhỏ
miệng vết thơng và sinh cơ (liền sẹo).
Vì vậy khi biện chứng trong lâm sàng nhất thiết phải làm rõ quan hệ khí
huyết với bệnh nơi tổn thơng mới hiểu đợc bản chất của bệnh mà tiến hành
định ra phơng hớng điều trị. Các biểu hiện của tổn thơng khí huyết nh sau:
Khí trệ: khí tụ thì có hình, khí tán thì không có vết tích, khí gây bệnh thì
đau, khí đau thì bất thờng. Bệnh thờng gặp nh: ngực sờn đầy tức, khó
thở do chấn thơng vùng ngực sờn (không có triệu chứng gãy xơng, tràn
khí, tràn dịch màng phổi, không vỡ gan lách) hoặc lôi kéo gây đau; hoặc
đánh nhau vùng bụng gây tức bụng, trớng hơi; hoặc lún gãy cột sống gây
chớng bụng, bí đại tiểu tiện; hoặc cũng có thể do nội tạng bị rối loạn gây
khí trệ nh bệnh khí h hạ hãm (sa các phủ tạng)
Khí uất: khí uất trong ngoại khoa có thể sinh ra tích tụ hoặc uất hoá hoả, đốt
cháy thành dịch mà thành đờm, đờm tích lại thành khối. Nếu khí uất mà tích
tụ thì thành sng, thành khối màu sắc da không thay đổi, có thể thay đổi
theo tình chí (ví dụ: viêm tuyến vú, tắc tia sữa, u giáp trạng); nếu khí uất
thành đàm thì thành khối, sng nhng mềm (ví dụ: viêm hạch mạn).
Khí h: khí h tức là dơng khí không thể không đạt cơ biểu vào bên trong
cơ thể đợc. Nếu khí h toàn thân gây cử động khó khăn, hay gặp trong di
chứng của các chấn thơng thần kinh, cơ, xơng, khớp Nếu khí h tại
chỗ thì sức chống đỡ tại chỗ yếu, độc tà dễ xâm nhập gây ra lở loét, đinh,
nhọtgây cho các nơi bị tổn thơng khó hồi phục (ví dụ: bệnh khí h của
tạng phủ, tỳ khí h gây nên sa các phủ tạng). Nếu khí h tại chỗ và toàn
thân thì bệnh sng mủ khó phá mủ, khó thu miệng, thở yếu, ăn kém, chất
lỡi nhợt, mạch tế.
Huyết ứ: theo y học cổ truyền, trong ngoại khoa thơng khí tắc khí trệ,
thơng huyết tắc huyết ngng. Khí trệ khiến huyết ngng, huyết ngng
có thể cản trở khí hành, vì vậy huyết ứ là gây ra bệnh. Nếu huyết ứ ngng
ở cơ nhục, bì phu thì sng, đau, đỏ (ví dụ: tổn thơng cơ, da, dây chằng
(tổn thơng phần mềm)); nếu cản trở ở dinh vệ thì uất mà sinh nhiệt, có
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét