bộ công nhân viên trong Công ty. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Hiệu quả
kinh doanh ở Công ty Bánh kẹo Hải Hà ” cho luận văn tốt nghiệp
của mình.
Hiệu quả kinh doanh là một khái niệm rộng, liên quan tới nhiều
yếu tố trong quá trình sản xuất. Do thời gian thực tập có hạn nên tôi
chỉ tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề chính dựa trên phân tích
kết quả kinh doanh và những tồn tại của Công ty trong những năm
qua để đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Luận văn tốt
nghiệp có 3 chương gồm:
Chương 1: Một số vấn đề chung về hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp .
Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh ở Công
ty Bánh kẹo Hải Hà .
Chương 3: Một số biện pháp cơ bản nâng cao hiệu quả kinh
doanh ở Công ty Bánh kẹo Hải Hà .
5
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH.
1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh:
Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn
của qúa trình từ đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lời. Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn
đề hiệu quả sản xuất. Sản xuất kinh doanh có hiệu quả sẽ giúp cho doanh
nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh
doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với
chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp phụ
thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường,
có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao
động, vốn, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nên doanh nghiệp chỉ có thể
đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh
có hiệu quả. Khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh các nhà kinh tế dựa vào từng
góc độ xem xét để đưa ra các định nghĩa khác nhau[1,2,3].
7
Ta có thể rút ra khái niệm về hiệu quả như sau: “Hiệu quả kinh doanh là
một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của phát triển kinh tế theo chiều
sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí chi phí
nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh
”. Hiệu quả kinh doanh ngày nay càng trở nên quan trọng đối với tăng trưởng
kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Tuy nhiên, cần hiểu hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện trên cả hai
mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế
có mối quan hệ khăng khít nhưng cũng có mâu thuẫn. Vì vậy, vấn đề ở đây là
tạo sự thống nhất giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của toàn xã hội.
Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp đạt được trong từng thời kỳ, từng giai
đoạn, điều đòi hỏi đặt ra ở đây cho doanh nghiệp là không được vì lợi ích
trước mắt mà làm tổn hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp phải được đặt trong mối quan hệ mật thiết chung của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Như vậy, có thể nói doanh nghiệp là một tế
bào, một bộ phận cấu thành của nền kinh tế.
Lợi ích của toàn xã hội, của doanh nghiệp bao giờ cũng phải phù hợp
nhau. Thực tế cho thấy có những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lợi cho
mình nhưng lại không cần thiết cho xã hội, cũng có thể gây tác hại cho xã hội
như ô nhiễm môi trường, thất nghiệp, các tệ nạn, Mâu thuẫn này cho thấy sự
không trùng hợp giữa tiêu chuẩn hiệu quả xã hội với hiệu quả của doanh
nghiệp.
2. Bản chất của hiệu quả kinh doanh.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả của lao động xã hội,
nó phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi
8
dụng các yếu tố đầu vào của quá trình kinh doanh để đạt được mục tiêu tối đa
hoá lợi nhuận. Song nó cũng là thước đo trình độ tiết kiệm các yếu tố đầu vào,
nguồn nhân lực xã hội. Tiêu chuẩn hoá hiệu quả đặt ra là tối đa hoá kết quả
hoặc tối thiểu hoá chi phí dựa trên nguồn lực sẵn có.
Ngoài ra, chúng ta cần phải phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ giữa
hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt
được sau một qúa trình kinh doanh nhất định. Trong kinh doanh thì kết quả
cần đạt được bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả
được phản ánh bằng chỉ tiêu định tính như số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh
thu, lợi nhuận, và cũng có thể phản ánh bằng chỉ tiêu định lượng như uy tín,
chất lượng sản phẩm.
Về hình thức hiệu quả kinh doanh luôn là phạm trù so sánh thể hiện mối
tương quan giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Kết quả chỉ là cái cần thiết
để tính toán và phân tích hiệu quả, muốn đánh giá được hiệu quả kinh doanh
phải dựa trên các kết quả đạt được của từng lĩnh vực. Vì vậy, hai khái niệm
này độc lập và khác nhau nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau.
3. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh .
Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện cho sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập
và tất cả các tổ chức kinh tế đều bình đẳng cạnh tranh để chiếm lĩnh thị phần
trên thị trường. Tăng khả năng cạnh tranh, đứng vững trong cơ chế thị trường
bắt buộc các doanh nghiệp phải làm ăn có hiệu quả. Hiệu quả càng cao thì sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp càng lớn. Ngược lại, nếu doanh nghiệp
9
không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh, làm ăn không có lãi thì doanh
nghiệp chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ bị chính thị trường đào thải.
Hơn nữa, nâng cao hiệu quả kinh doanh là yêu cầu thiết yếu của quy luật
tiết kiệm. Việc tiết kiệm và hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với
nhau, đó là hai mặt của vấn đề. Ngược lại, việc tiết kiệm càng lớn thì hiệu quả
kinh doanh càng cao. Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện quy
luật đó.
Nói tóm lại, đánh giá và phân tích hiệu quả được coi là một trong những
công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của mình. Việc xem xét và
tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho biết việc sản xuất
đạt được ở trình độ nào, mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích và đưa ra
các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí
kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.2. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Đối với nền kinh tế quốc dân: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù
kinh tế quan trọng, phản ánh yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, trình độ sản xuất và mức độ hoàn thiện
của quan hệ sản xuất trong cơ chế thị trường. Trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất ngày càng cao, quan hệ sản xuất càng hoàn thiện, càng nâng
cao hiệu quả. Càng nâng cao hiệu quả thì càng hoàn thiện quan hệ sản xuất và
trình độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất càng cao yêu cầu của quy luật kinh
tế ngày càng thoả mãn và điều kiện quản lý kinh tế cơ bản ngày càng được
phát huy đầy đủ hơn vai trò và tác dụng của nó. Tóm lại, càng nâng cao hiệu
quả kinh doanh đem lại cho quốc gia sự phân bố, sử dụng các nguồn lực càng
hợp lý và ngược lại sử dụng các nguồn lực càng hợp lý thì càng hiệu quả.
10
Đối với bản thân doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh xét về mặt tuyệt
đối chính là lợi nhuận thu được. Nó là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, cải thiện
đời sống cán bộ công nhân viên. Đối với mỗi doanh nghiệp đặc biệt là các
doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường thì việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại, phát triển của doanh
nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp bảo toàn và phát triển về vốn, qua đó
doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường, vừa giải
quyết tốt đời sống người lao động, vừa đầu tư mở rộng, cải tạo, hiện đại hoá
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh. Do vậy, hiệu
quả chính là căn cứ quan trọng và chính xác để doanh nghiệp đánh giá các
hoạt động của mình. Nhận thức đúng đắn về hiệu quả sẽ giúp cho doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn.
Đối với người lao động: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là động lực thúc
đẩy, kích thích người lao động hăng say sản xuất, luôn quan tâm tới kết quả
lao động của mình. Nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc nâng
cao đời sống người lao động trong doanh nghiệp. Nâng cao đời sống sẽ tạo
động lực trong sản xuất, làm tăng năng suất lao động, tăng năng suất lao động
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh.
II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH
DOANH :
Hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lượng
tổng hợp, nó liên quan tới các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó nó
chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Trong đó, chỉ tiêu về doanh số
bán hàng và tổng chi phí ảnh hưởng mạnh và trực tiếp tới hiệu quả kinh
doanh. Các nhân tố đó có thể tác động đến hai chỉ tiêu một cách tích cực hoặc
tiêu cực hoặc tác động có tính hai mặt tuỳ từng thời điểm. Vì vậy, các doanh
11
nghiệp cần nghiên cứu nhân tố này để phát huy hay hạn chế sự tác động của
nó đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ đó làm cơ sở để đề ra các đường lối,
chính sách thích hợp.
1. Nhân tố khách quan:
1.1.Giá cả và các mặt hàng cạnh tranh.
Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cùng ngành và cùng sản xuất một
ngành hàng hoặc một nhóm hàng có thể trở thành bạn hàng của nhau trong
kinh doanh, giúp nhau về vốn, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm. Nhưng ngược lại,
các doanh nghiệp này cũng có thể trở thành đối thủ của nhau trên thị trường
đầu vào và đầu ra.
Đối với thị trường đầu vào: Doanh nghiệp muốn tăng lợi nhuận, đồng
nghĩa với việc tăng hiệu quả buộc doanh nghiệp phải tìm mọi giải pháp để
giảm chi phi, nhất là chi phí vật tư, nguyên vật liệu bằng cách mua chúng trực
tiếp từ người sản xuất, tránh nhập qua nhiều khâu trung gian và thực hiện việc
so sánh giá cả cũng như chất lượng từ các nhà cung cấp để có quyết định
đúng đắn.
Đối với thị trường đầu ra: Trong nền kinh tế thị trường, giá cả sản phẩm
thuộc nhân tố khách quan, nó phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng. Do đó, các
doanh nghiệp phải xây dựng các chính sách giá cả hợp lý, linh hoạt, thúc đẩy
doanh số bán hàng, chiếm lĩnh thị trường và tăng hiệu quả. Nếu doanh nghiệp
định giá cao hơn thị trường tất yếu sức mua hàng hoá đó sẽ giảm vì còn vô số
kẻ cạnh tranh với doanh nghiệp đang bán những sản phẩm tương tự , có chất
lượng tương đương hoặc kém hơn một chút và cũng có thể là tốt hơn. Ngược
lại, nếu doanh nghiệp định giá quá thấp, hiệu quả kinh doanh sẽ ảnh hưởng.
12
1.2. Nhân tố sức mua và cấu thành sức mua
Nhân tố này chịu sự tác động của: giá cả, chất lượng sản phẩm, thu nhập,
thói quen và thị hiếu của người tiêu dùng. Nhưng bản thân nhân tố sức mua
và cấu thành sức mua chịu ảnh hưởng của nhân tố số lượng và cơ cấu mặt
hàng sản xuất. Mỗi một sản phẩm của doanh nghiệp có hiệu quả riêng nên
nhân tố sức mua và cấu thành sức mua cũng khác nhau, làm cho hiệu quả
chung của doanh nghiệp cũng thay đổi. Nếu sản xuất kinh doanh các mặt
hàng phù hợp với nhu cầu, có hiệu quả cao, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ
mặt hàng của doanh nghiệp thì hiệu quả của doanh nghiệp cũng tăng lên. Do
vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải ngiên cứu kỹ nhân tố này để có kế hoạch sản
xuất kinh doanh hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất.
1.3.Nhân tố thời vụ
Trong sản xuất và tiêu dùng luôn có nhân tố thời vụ. Thời vụ sản xuất và
thời vụ tiêu dùng có khi phù hợp nhau nhưng có khi lại mâu thuẫn nhau. Mâu
thuẫn này ảnh hưởng tới thời gian dự trữ, ảnh hưởng tới chi phí dự trữ, từ đó
tác động đến hiệu quả. Nhân tố này quyết định cơ cấu mặt hàng kinh doanh
của doanh nghiệp trong từng thời kỳ do đó ảnh hưởng tới công tác tổ chức sản
xuất kinh doanh. Nhưng nhân tố này rất phức tạp, không phải thời vụ sản xuất
và tiêu dùng cứ phù hợp nhau là giảm được thời gian dự trữ mà hiệu quả kinh
doanh tăng.
1.4. Nhân tố tài nguyên môi trường
Tài nguyên môi trường cũng có ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh rất
lớn đối với nền kinh tế. Nếu như nguồn tài nguyên dồi dào sẽ làm cho giá
nguyên vật liệu rẻ, chi phí sản xuất giảm dẫn đến giá thành sản phẩm giảm và
làm tăng lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả
13
kinh tế sẽ cao hơn. Bên cạnh những thuận lợi về tài nguyên môi trường mang
lại cũng có lúc nó lại ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp như chi phí khắc phục hậu quả thiên tai, chi phí an toàn lao động, giá
nguyên vật liệu tăng do tài nguyên thiên nhiên khan hiếm cũng làm cho hiệu
quả kém đi.
1.5. Nhân tố kinh tế vĩ mô và các chế độ, chính sách của Nhà nước
Từ khi Nhà nước thay đổi cơ chế, chuyển sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý, điều tiết của Nhà nước, phát triển đất nước theo định hướng Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá bộ mặt nền kinh tế có nhiều thay đổi. Các doanh
nghiệp trong nước có thể liên doanh, liên kết với nước ngoài mở rộng quy mô
sản xuất kinh doanh, các chính sách đầu tư thông thoáng hơn. Mục tiêu phát
triển của doanh nghiệp phải xuất phát từ định hướng phát triển của đất nước.
Lợi ích của doanh nghiệp gắn chặt với lợi ích kinh tế - xã hội của đất nước.
Một trong những công cụ chính của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế là
các chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng, luật pháp. Đó là hệ thống các nhân
tố tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nếu chính sách lãi suất tín dụng quy định mức lãi suất quá cao
sẽ gây cản trở cho việc vay vốn của doanh nghiệp và làm tăng chi phí vốn, lợi
nhuận giảm và hiệu quả kinh doanh cũng sẽ giảm.
2. Nhân tố chủ quan.
2.1.Nhân tố quản trị trong doanh nghiệp.
Quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp công nghiệp là việc tổ chức bộ
máy quản lý và tổ chức sản xuất sao cho hợp lý.
Nhân tố quản trị liên quan trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, tổ
chức thực hiện kinh doanh hay nói cách khác là liên quan đến toàn bộ quá
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét