MrKiênhx
Copyright of this doccument
Chương V 120
Khương Tăng Hội 120
Khương Tăng Hội ở Việt Nam [^] 124
Khương Tăng Hội ở Trung Quốc [^] 133
Sư nghiệp phiên dịch và trước tác [^] 139
Chương VI 148
Đạo Thanh, Chi Cương Lương Tiếp 148
và Pháp Hoa Tam Muội Kinh 148
Thủy hưng lục và Trúc Đạo Tổ [^] 149
Tình hình chính trị [^] 149
Về Đạo Thanh [^] 152
Về Đào Hoàng [^] 153
Về Cương Lương Tiếp [^] 153
Nội dung Pháp Hoa tam muội [^] 155
Chương VII 156
Tình trạng Phật giáo Việt Nam thế kỷ thứ IV 156
Về Vu Pháp Lan và Vu Đạo Thúy [^] 157
Về Kỳ Vực [^] 160
Quan hệ giữa Kỳ Vực Vu Pháp Lan và Vu Đạo Thúy [^] 162
Xu hướng Phật Giáo quyền năng [^] 164
Chương VIII 165
Sáu lá thư và cuộc khủng hoảng 165
của nền Phật gia
́
o thế kỷ thứ V 165
Sáu lá thư [^] 167
Lá thư thứ nhất: 167
Lý Miễu của Giao Châu viết cho Cao pháp sư 167
Lá thư thứ hai: 167
Đáp lại thư của Lý Giao Châu 167
Lá thư thứ ba: 168
Thư của Lý Miễu viết cho Pháp sư Đạo Cao 168
Lá thư thứ tư: 169
Lại đáp thư của Lý Giao Châu 169
Lá thư thứ năm: 169
5
MrKiênhx
Copyright of this doccument
Thư của Lý Miễu viết cho Pháp sư Đạo Cao 169
Lá thư thứ sáu: 170
Đáp lại thư của Lý ở Giao Châu 170
Nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố lịch sử [^] 172
Nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố thư tịch [^] 178
Ve
͊
tác giả và soạn niên của Sáu lá thư [^] 188
Về Thích Đạo Cao [^] 188
Về Pháp Minh [^] 196
Về Lý Miễu [^] 198
Chương VIII-B 203
Sáu lá thư và cuộc khủng hoảng 203
của nền Phật gia'o thế kỷ thứ V 203
Huệ Lâm và lý do ra đời của sáu lá thư [^] 203
Niên đại của Đạo cao Pháp Minh và Lý Miễu [^] 210
Về Hiền pháp sư [^] 211
Nội dung cuộc khủng hoảng [^] 214
Những đóng góp của sáu lá thư [^] 228
1. Về nghệ thuật [^] 228
2. Về âm nhạc [^] 229
3. Về văn học [^] 236
4. Về lịch sử Phật giáo [^] 238
5. Về lịch sử chính trị [^] 240
6. Về lịch sử tư tưởng 243
Chương IX 246
Sơ Thám về Huệ Lâm và Quán Thiện Luận 246
Về cuộc đời Huệ Lâm [^] 247
Chương IX-B 267
Sơ Thám về Huệ Lâm và Quán Thiện Luận 267
Về Quân Thiện Luận [^] 267
Phản ứng trí thức đương thời với Quân thiện luận [^] 283
Thư Hà viết cho Tôn 283
Thư đáp Hà Hoạnh Dương 284
Thư đáp Tôn cư sĩ 286
6
MrKiênhx
Copyright of this doccument
Thư đáp Hà Hoạnh Dương 289
Thư đáp Tôn Cư sĩ 292
Như 宧 vấn đề tranh cãi [^] 292
Chương X 296
Sáu lá thư và cái chết của Đàm Hoàng 296
Cuộc đời Đàm Hoằng [^] 297
Tiên Sơn và chùa Tiên Sơn [^] 298
Đàm Hoằng và Quán Thiện Luận [^] 303
Chương XI 306
Những Ngọn đèn Cuối Cùng: Huệ Thắng và Đạo Thiền 306
Về Huệ Thắng [^] 306
Về Đạo Thiền [^] 311
Về Nền nghệ thuật tiên sơn [^] 315
Chương XII 318
Về Trí Bân và Giải Hàn thực Tán Phương 318
Về Trí Bân [^] 318
Về Hàn Thực Tán Phương [^] 321
7
MrKiênhx
Copyright of this doccument
Chương I
Phật Giáo Thời Hùng Vương
Sau khi đức Thế Tôn thành đạo dưới gốc cây Bồ-đề vào năm 533 tdl, tư trào tư tưởng Phật
giáo hình thành và phát triển từ Ấn Độ lan dần ra các nước xung quanh và cả thế giới.
Trong quá trình phát triển và lan dần này, Phật giáo đã đến nước ta, và tạo nên Phật giáo
Việt Nam. Thế thì, Phật giáo đã truyền vào nước ta từ lúc nào?
Đây là một câu hỏi, không phải đợi đến thời chúng ta mới đặt ra, mà đã xuất hiện từ
hàng ngàn năm trước. Tối thiểu vào năm 1096, Hoàng thái hậu Ỷ Lan đã nêu lên và được
Thông Biện Quốc sư trả lời như sau, dẫn lời của Đàm Thiên, trong Thiền uyển tập anh tờ
20b7-21a7:
[Một phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang
Đông chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn hai mươi ngôi, độ Tăng hơn 500 người, dịch
kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy. Vào lúc ấy, thì đã có Khâu ni danh, Ma Ha Kỳ Vực,
Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó. Nay lại có Pháp Hiển thượng sĩ,
đắc pháp với Tì-ni-đa-lưu-chi, truyền tông phái của tam tố, là người trong làng Bồ-Tát,
đang ở chùa Chúng Thiện dạy dỗ học trò. Trong lớp học đó không dưới 300 người, cùng
với Trung Quốc không khác. Bệ hạ là cha lành của thiên hạ, muốn bố thí một cách bình
đẳng, thì chỉ riêng khiến sứ đưa Xá lợi đến, vì nơi ấy đã có người, không cần đến dạy dỗ.
Lại bài tựa truyện pháp của tướng quốc Quyền Đức Dư_1 đời Đường, nói: "Sau khi
Tào Khê_2 mất đi, thiền sư_3 dùng tâm ấn của Mã Tổ hành hóa ở Ngô, Việt, Vô Ngôn
Thông đại sĩ, đem tôn chỉ của Bách Trượng khai ngộ tại Giao Châu". Đó là những chứng
cứ vậy].
Cứ câu trả lời này, thì trước khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, Việt Nam đã có
một nền Phật giáo tương đối hoàn chỉnh, tức bao gồm chùa chiền, một đoàn thể Tăng sĩ và
kinh sách đầy đủ. Theo Thông Biện, thì ở nước ta lúc bấy giờ "có chùa hơn 20 ngôi, độ
Tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển". Điều đáng tiếc là Thông Biện không cho ta nền
Phật giáo hoàn chỉnh này, với số chùa chiền kinh sách và Tăng sĩ như vậy, xuất hiện vào
lúc nào. Ông chỉ bằng lòng lập lại lời của Đàm Thiên_1, bảo rằng đó là vào lúc "Giang
Đông chưa có" Phật giáo. Giang Đông chưa có Phật giáo, thì ngay bản tiểu sử của Khương
Tăng Hội (?-280) trong sách Xuất Tam Tạng Ký Tập tập 13, Đại Tạng Kinh 2145, tờ 96a-
97a17 và trong Cao Tăng Truyện quyển I, Đại Tạng Kinh 2059 tờ 325a13-326b13, cũng
bảo "bấy giờ Tôn Quyền" xưng đế Giang Tả (năm 222) sdl) mà Phật Giáo chưa lưu hành".
Thế cũng có nghĩa ngay vào những năm 220sdl, Phật giáo chưa có mặt ở Giang Đông. Vậy
phải chăng nền Phật giáo hoàn chỉnh vừa chỉ tồn tại vào thế kỷ thứ II-thứ III sdl?
Sư Phật Quang & di tích đầu tiên của Phật Giáo VN [^]
Trả lời câu hỏi này, ta may mắn có một tài liệu viết gần cùng thời với Thiện Uyển Tập
Anh là Lĩnh Nam Trích Quái. Truyện Nhất Dạ Trạch của Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại việc
Chữ Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (cũng có bản viết là Quỳnh
Vi) truyền dạy giáo lý Phật giáo. Xưa nay Lĩnh Nam Trích Quái thường được xếp vào loại
truyện thần thoại hay huyền sử. Thậm chí bộ Việt Nam Hán văn Tiểu Thuyết Tùng san_1,
tập I, mới xuất bản gần đây cũng làm thế. Tuy nhiên, khi đi sâu vào nghiên cứu nội dung
của Lĩnh Nam Trích Quái, ta mới thấy rõ Lĩnh Nam Trích Quái không chỉ đơn thuần là tập
hợp những chuyện thần thoại, thậm chí những chuyện thần thoại hoang đường. Trái lại, nó
chứa đựng nhiều sự kiện có thực, mà trường hợp núi Quỳnh Viên của chúng ta đây là một
thí dụ cụ thể.
8
MrKiênhx
Copyright of this doccument
Núi Quỳnh Viên này, những người chủ biên Thơ văn Lý Trần đã chú thích là: "Một
quả núi trong truyện thần thoại". Dẫu thế, nếu chịu khó đọc Minh lương cẩm tú do Lê
Thánh Tông viết về 13 cửa biển của đất nước ta trong khi tiến quân chinh phạt Chiêm
Thành vào năm 1470, thì ta gặp bài thơ thứ 7, nói về Nam giới hải môn lữ thứ, trong đó có
2 câu:
Di miếu man truyền kim Vũ Mục
Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên.
Dịch: Di miếu còn truyền nay Vũ Mục.
Danh sơn vẫn nhắc cổ Quỳnh Viên
Vũ Mục đây tức chỉ tướng Lê Khôi, cháu ruột của Lê Lợi. Năm Thái Hòa thứ 2 (1444)
đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Bí Cai, khi trở về đến cửa biển Nam Giới thì
mất. Dân thương nhớ, lập đền thờ tại cửa biển này. Cửa biển này còn được gọi nôm na là
cửa Sót. Còn núi Quỳnh Viên thì nằm ở phía Nam cửa bể này và từ thời Lê Thánh Tôn đã
được xác nhận là một danh sơn, tức một hòn núi có tiếng tăm của đất nước. Và tiếng tăm
này là có từ xưa, chứ không phải đợi đến thời Lê Thánh Tôn, tức từ năm 1460 trở đi mới
có. Ngay cả khi ta đồng ý với Lê Quí Tôn trong Toàn Việt thi lục và Bùi Huy Bích trong
Hoàng Việt thi tuyển và xếp các bài thơ về 13 cửa biển này vào loại "vô danh thị", thì việc
nói "ông Vũ Mục ngày nay" (kim Vũ Mục) và "núi Quỳnh Viên thưở xưa" (cổ Quỳnh
Viên) vẫn không đánh mất ý nghĩa thời điểm của bài thơ. Lý do nằm ở chỗ nếu đã nói Lê
Khôi là ông Vũ Mục thời nay, và Lê Khôi mất vào năm 1444, thì rõ ràng tác giả nó cũng
phải sống vào thời của Lê Khôi này, tức khoảng từ 1444 trở đi hay không lâu sau đó.
Nói thẳng ra, vào thế kỷ thứ XV, khi Kiều Phú và Vũ Quỳnh hiệu đính và cho ra đời
hai bản Lĩnh Nam Trích Quái khác nhau, Quỳnh Viên đã thật sự là một danh sơn, một
ngọn núi nổi tiếng đối với dân ta thời đó và trước kia. Nó dứt khoát không phải là một
ngọn núi thần thoại, càng không phải là một ngọn núi không có địa điểm cụ thể tại đất
nước ta. Nó quả là một ngọn núi nằm tại cửa Sót. Và trên núi Quỳnh Viên này còn có ngôi
chùa cổ. Bản Lĩnh Nam Trích Quái mà ta có ngày nay thì hoặc do Kiều Phú kiểu chính lại
vào năm 1490, hoặc do Vũ Quỳnh san định vài năm sau đó, vào năm 1493, từ một bản
Lĩnh Nam Trích Quái của Trần Thế Pháp đời Trần. Như vậy, nếu Lĩnh Nam Trích Quái mà
ta có ngày nay nói tới núi Quỳnh Viên, thì dứt khoát núi Quỳnh Viên này phải có một địa
chỉ cụ thể. Vì thế, khi Chữ Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang truyền dạy đạo Phật tại
núi Quỳnh Viên, ta có thể chắc chắn sự việc này đã xảy ra tại cửa biển Nam Giới hay cửa
Sót.
Ta có thể đặt vấn đề là nếu quả có ngọn núi Quỳnh Viên tại cửa Sót, thì việc truyền
dạy giáo lý của nhà sư Phật Quang cho Chữ Đồng Tử chắc gì đã xảy ra ở đó, bởi vì việc
truyền dạy đó xảy ra quá xa cách thời điểm nó ghi lại trong Lĩnh Nam Trích Quái. Nói cụ
thể ra, Lĩnh Nam Trích Quái đã ghi lại một sự việc xảy ra cách nó gần tới cả ngàn rưỡi
năm. Tất nhiên, trừ phi ta thực hiện một cuộc khai quật khảo cổ học tại núi Quỳnh Viên ở
cửa Sót và tìm thấy di vật liên hệ với Chữ Đồng Tử, thì vấn đề mới được giải quyết một
cách dứt điểm. Nhưng trước mắt, nếu chưa làm được, song qua phân tích những truyện
khác trong Lĩnh Nam Trích Quái, ta thấy dù Lĩnh Nam Trích Quái có được Trần Thế Pháp
biên tập lại vào hậu bán thế kỷ thứ 14, thì những dữ kiện trong đó vẫn có một tính cổ sơ
đáng muốn.
Chẳng hạn, khi nghiên cứu về truyền thuyết Trăm ứng trong truyện họ Hồng Bàng, ta
thấy truyền thuyết này đã xuất hiện trong Lục độ tập kinh 3 ĐTK152 tờ 14a26-cl8 truỵện
23 do Khương Tăng Hội dịch ra chữ Hán vào khoảng những năm 220-250_1. Cũng một
9
MrKiênhx
Copyright of this doccument
cách, truyện Tây Qua của Lĩnh Nam Trích Quái là một dị bản của truyện 7 trong Cựu Tạp
Thí Dụ Kinh, ĐTK206 tờ 512a16-b7, cũng do Khương Tăng Hội phiên dịch v.v Nói khác
đi, dù những truyện do Trần Thế Pháp tập hợp lại trong Lĩnh Nam Trích Quái xảy ra tương
đối muộn, nhưng có những dữ kiện đã được chứng minh là xuất hiện rất sớm trong lịch sử
văn học nước ta. Do thế, truyền thuyết về Chữ Đồng Tử được nhà sư Phật Quang dạy đạo
Phật cũng có khả năng xảy ra rất sớm trong lịch sử dân tộc, chứ không phải vì sự xuất hiện
muộn màng trong Lĩnh Nam Trích Quái mà mất đi tính chân thực và cổ sơ của nó.
Vậy nhà sư Phật Quang này xuất hiện ở cửa Sót vào thời nào? Qua những chứng cớ
ngoại tại, gián tiếp vừa kể trên, tối thiểu ta biết là những gì Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại
chưa hẳn là không xảy ra, hay không có từ xưa. Cụ thể là truyện về truyền thuyết Trăm
Trứng. Không kể các dã sử hay những thông tin bên ngoài, cứ theo chính sử Trung Quốc
cũng đã ghi là có các chính quyền phương nam đi thông qua nước ta để đến phương Bắc,
đó là chính quyền nước Hoàng Chi. Bình Đế Ký trong Tiền Hán thư 12 tờ 3a3 ghi:
"Nguyên thủy thứ 2 (năm thứ 2 sdl), mùa xuân, nước Hoàng Chi dâng tê giác và bò". Rồi
đến quyển 28 hạ, Tiền Hán Thư tờ 32b2-3, nơi chuyện Vương Mãng, cũng ghi: "Trong
khoảng Nguyên thủy (1-6sdl) của Bình đế, Vương Măng phụ chính, muốn làm rạng rỡ uy
đức của mình đã gửi biếu hậu hỷ vua Hoànt Chi khiến cho gửi sứ cống tê giác và bò sống".
Nước Hoàng Chi này, cứ Tiên Hán thư 28 hạ, tờ 32b5-5, còn ghi tiếp: "Từ Hoàng Chi đi
thuyền có thể tám tháng đến Bì Tôn, rồi đi thuyền hai tháng có thể đến biên giới Tượng
Lâm của Nhật Nam. Phía Nam Hoàng Chi có nước Dĩ Trình Phất. Dịch sứ của Hàn từ đó
về"
Thế rõ ràng Hoàng Chi là một nước rất xa nước Hán, đi thuyền đến mười tháng mới
đến. Ghi nhận đầu tiên của chính sử Trung Quốc về sự liên hệ giữa chính quyền Trung
Quốc và chính quyền Hoàng Chi là Hoàng Chi ở phía Tây nước ta và phải đi thông qua
nước ta mới đến Trung Quốc được. Hoàng Chi là nước nào? Có khả năng Hoàng Chi đây
là một trong những nước ở Ấn Độ. Cho nên, nói cách khác, từ những năm đầu Dương lịch,
quan hệ chính thức giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã có vè đường biển và đã được chính sử
Trung Quốc ghi lại. Sau đó, từ thế kỷ thứ hai trở đi thì quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc
đã được ghi rất rõ, cho nên khả năng trước khi có quan hệ chính thức trên bình diện chính
quyền thì phải có quan hệ nhân dân; tức quan hệ giữa hai dân tộc phải đi với nhau rồi hai
chính quyền mới đi theo, hoặc để bảo trợ quyền lợi của dân tộc mình hoặc để thiết lập
quan hệ liên lạc ngoại giao. Cho nên khả năng những thương thuyền buôn bán của người
Ấn Dộ đã đến Trung Quốc trước thời Vương Mãng từ lâu là một sự thật.
Thực tế thì ngay trong Sử ký ta đã tìm thấy những từ tiếng Phạn được phiên âm ra
tiếng Trung Quốc, cụ thể là từ lưu ly, vaidurya. Tức là nước Trung Quốc đã biết nước Ấn
Độ từ lâu. Nói cách khác, từ những thế kỷ đầu Dương lịch, quan hệ giữa Ấn Độ và Trung
Quốc đã thiết lập và có quan hệ buôn bán giữa thương nhân hai nước_1. Tiền Hàn thứ 9, tờ
3a3-6 (truyện Tây nam di, lưỡng Việt Triều tiên đã nói tới việc thương nhân đất Thục đem
vải và gậy trúc Thân độc về Trung Quốc bán vào năm Nguyên thú thứ nhất (120tdl). Và
chuyện Vương Mãng ghi vì "Muốn làm rạng rỡ uy đức của mình, [ông] đã hậu hỹ vua
nước Hoàng Chi và khiến dâng tê giác và bò sống", có nghĩa là hai chính quyền đã có quan
hệ bang giao từ lâu. Mà trước khi Vương Mãng biết đến nước này thì người nước này đã
có quan hệ với Trung Quốc rồi, cho nên Vương Mãng mới biết để khiến dâng vật cống với
nhau. Nói cách khác là vào những thế kỷ trước và sau Dương Lịch, đã có những quan hệ
giữa Trung Quốc và các nước khác về đường biển thông qua Việt Nam. Cho nên giả thiết
sự tồn tại của nhà sư Phật Quang giữa thế kỷ thứ III hay thứ II tdl có thể chứng thực được.
10
MrKiênhx
Copyright of this doccument
Về nhà sư Phật Quang
Truyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh Nam Trích Quái kể lại việc Chữ Đồng Tử học được
đạo Phật như sau:
"Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán kính thờ Tiên Dung (và) Đồng Tử làm
chúa. Có một khách buôn lớn đến bảo Tiên Dung rằng: "Quí nhân hãy bỏ ra một dật vàng
năm nay cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí, đến sang năm được lãi mười dật".
Tiên Dung vui mừng bảo Đồng Tử: "Vợ chồng ta là bởi Trời mà nên. Nhưng cái ăn cái
mặc là do người làm lấy. Nay nên đem một dật vàng cùng thương nhân ra nước ngoài mua
vật quí để sinh sống". Đồng Tử bèn cùng thương nhân đi buôn án lênh đênh ra khắp nước
ngoài. Có núi Quỳnh Viên trên núi có am nhỏ. Thương nhân ghé thuyền vào lấy nước.
Đồng Tử lên am dạo chơi. Trong am có một tiểu Tăng tên Phật Quang truyền pháp cho
Đồng Tử. Đồng Tử ở lại để nghe pháp, đưa vàng cho thương nhân đi mua hàng. Đến lúc
thương nhân trở về lại tới am đó chở Đồng Tử trở về nhà. Nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử
một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: "Các việc linh thông đều ở đó rồi!. Đồng Tử trở về,
đem đạo Phật nói hết với Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, bèn bỏ cả quán chợ nghề buôn
để cùng Đồng Tử du phương tìm thấy học đạo".
Việc Chữ Đồng Tử và Tiên Dung, những người Việt Nam đầu tiên mà ta biết tên tiếp
thu đạo Phật là như thế. Có hai đặc điểm mà ta cần lưu ý. Thứ nhất, việc tiếp thu này đã
xảy ra tại núi Quỳnh Viên. Núi Quỳnh Viên từ thời Lê Thánh Tôn ta đã biết là nằm tại cửa
Nam Giới, hay cửa Sót. Ngày nay, tại bờ nam của cửa Sót, còn có một hòn núi gọi là Nam
Giới sơn_1. Phải chăng đây là địa điểm cần tìm hiểu khảo cổ học để khai quật xem có vết
tích gì của Chữ Đồng Tử và Phật Quang chăng? Trước mắt, ít nhất ta đã xác định được là
Quỳnh Viên không phải là một ngọn núi thần thoại, mà thật sự là một hòn núi có tên tuổi
tại cửa Sót. Do những dấu vết của Chiêm Thành còn tồn tại đến ngày nay, ta cũng hiểu
thêm từ cửa Sót về nam là miền đất thuộc vương quốc Chiêm Thành. Như thế, đất nước
Việt Nam thời Hùng Vương phải chăng đã lấy cửa Sót làm một địa điểm ở miền nam của
tổ quốc ta?
Cần lưu ý, từ vùng cửa Sót, trở ra miền Bắc, ta không tìm thấy có bất cứ di chỉ nào
liên hệ với nền văn hóa của Chiêm Thành. Ngược lại, từ cửa Sót trở về nam, cụ thể là các
vùng phía nam tỉnh Nghệ An, tức từ Vinh trở về Nam và các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Tĩnh,
Quảng Trị và Thừa Thiên, cho đến ngày nay, vẫn còn những vết tích của nền văn hóa
Chiêm Thành. Nói thế, tức là muốn nói Phật giáo truyền vào nước ta căn cứ vào Lĩnh Nam
Trích Quái là từ phía Nam, qua trung gian nhà sư Phật Quang ở núi Quỳnh Viên, tại Nam
Giới hay cửa Sót, giáp giới với Chiêm Thành. Nhà sư này chắc hẳn không phải là ngưòi
Việt, vì rằng truyện Chữ Đồng Tử nói: "Đồng Tử linh đinh ra khắp nước ngoài (phù du
xuất hải ngoại)". Vùng núi Quỳnh Viên này có khả năng vào thời Chữ Đồng Tử chưa
thuộc vào bản đồ của nước ta. Nhà sư Phật Quang này có thể là một người Chiêm Thành,
hoặc là người Ấn Độ, đang tìm cách truyền bá Phật giáo vào Việt Nam. Và Chữ Đồng Tử
là ngưòi Việt Nam đầu tiên đã đến tiếp xúc với ông, để rồi sau đó, trở thành người Phật Sư
Việt Nam đầu tiên có tên tuổi. Truyện Chữ Đồng Tử này sau đó được Thiên Nam Vân
Lục_1 của một tác giả vô danh chép lại.
Thế thì Chữ Đồng Tử đã tiếp thu đạo Phật như thế nào? Đây là đặc điểm thứ hai mà ta
cần lưu ý. Truyện Chữ Đồng Tử chỉ nói khi Đồng Tử trở về quê "Nhà sư bèn tặng cho
Đồng Tử một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: mọi việc linh thông đều đã ở đấy cả". Nói
vậy, Lĩnh Nam Trích Quái báo cho ta biết là truyền thống Phật Giáo mà Chữ Đồng Tử tiếp
thu là một truyền thống Phật giáo quyền năng, đề cập đến những vấn đề linh dị và thần
11
MrKiênhx
Copyright of this doccument
thông (linh thông). Truyền thống Phật giáo này, như ta sẽ thấy, xuất hiện trong Mâu Tử
cũng như trong Khương Tăng Hội, và tồn tại cho đến thời một truyền thống Phật giáo mới
ra đời, đó là truyền thống Phật giáo Thiền của Pháp Vân. Cần nhấn mạnh truyền thống
Phật giáo quyền năng này cho đến thế kỷ thứ VI được bổ sung bởi truyền hưởng cơ bản
của nó. Nó vẫn tồn tại như một lớp truyền thống Phật giáo mới, bổ sung cho nó qua lịch sử
phát triển của Phật giáo ở Việt Nam. Nhận thức điều này, ta sẽ dễ dàng hiểu được những
hiện tượng đặc thù của những truyền thống khác nhau của Phật giáo Việt Nam trong lịch
sử. Ta sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới đây.
Chữ Đồng Tử, người Phật tử Việt Nam đầu tiên
Trước mắt, nếu Chữ Đồng Tử là người Phật tử Việt Nam đầu tiên, thì vấn đề người
Phật tử đầu tiên này đã sống vào lúc nào? Truyện Nhất Dạ Trạch chỉ viết một câu hết sức
mơ hồ, là: "Vua Hùng truyền đến cháu đời thứ 3" (Hùng Vương truyền chí tam thế tôn). Ta
biết lịch sử nước ta, tên hiệu Hùng Vương được dùng để gọi cho nhiều đời vua thời cổ đại.
Đại Việt sử ký toàn thư ngoại kỷ I, tờ 2b9-5b, ghi nhận Hùng Vương là triều đại đầu tiên
của họ Hồng Bàng, và bảo: "Họ Hồng Bàng từ Kinh Dương Vương năm Nhâm Tuất thụ
phong cùng với Đế Nghi cùng thời, truyền đến đời Hùng Vương cuối cùng gặp năm 257
tdl của Noãn Vương nhà Chu, là năm Quí Mão thì chấm dứt, gồm 2622 năm". Nhưng trong
phần phàm lệ, tờ 2a1-2, Ngô Sĩ Liên đã nhận xét: "Hoặc có người nói (Hùng Vương) có 18
đời, sợ chưa phải là thế".
Đi sâu vào vấn đề này, ta biết hiện có 3 bản ngọc phả khác nhau liên hệ đến triều đại
Hùng Vương. Bản thứ nhất là một bản chép của thời Lê Hồng Đức bắt đầu từ năm 1470,
rồi được chép lại vào thời Lê Kính Tôn (ở ngôi 1600-1618), niên đại Hoằng Định. Bản thứ
hai là bản chép tay đời Khải Định được bảo là chép lại từ một bản thuộc niên đại Thiên
Phúc (980-988) của Lê Đại Hành (ở ngôi 980-1005). Cả hai bản này hiện tàng trữ tại đền
Hùng ở Vĩnh Phú, Phú Thọ. Bản thứ ba hiện tàng trữ tại chùa Tây Thiên trên núi Tam Đảo,
không có ghi ngày tháng. Vấn đề văn bản học của các ngọc phả này ta chưa cần đề cập tới
ở đây. Chỉ cứ vào chúng, ta biết tối thiểu mỗi triều đại Hùng Vương có thể có nhiều người
cùng mang một tên hiệu. Chẳng hạn, đời Hùng Vương cuối cùng là Hùng Duệ Vương thì
ta có Duệ Vương thứ nhất, thứ hai, thứ ba v.v Vì thế, mười tám đời Hùng Vương trải dài
trên hai ngàn năm là có thể hiểu được. Riêng đối với vấn đề quan tâm cuả chúng ta ở đây
là cháu đời thứ ba của Hùng Vương là cháu của đời Hùng Vương nào?
Nếu Phật giáo xuất hiện vào năm 528 (hoặc 529?) tdl ở Ấn Độ và bắt đầu truyền bá
qua các nước xung quanh vào những năm 247-232tdl vào thời của vua A Dục khi vua này
lịnh cho các phái đoàn Tăng lữ đi khắp nơi để truyền bá đạo Phật, trong đó đặc biệt là phái
đoàn Tăng lữ đi khắp nơi để truyền bá đạo Phật, trong đó đặc biệt là phái đoàn của Sona đi
về vùng Đất vàng (Suvanabhumi). Vùng Đất vàng này có phải là vùng Đông Nam Á hay
không, có phải là vùng Đông Dương hay không? Đây là một vấn đề đang còn tranh cãi.
Tuy nhiên cứ vào những sử liệu cổ sơ của Trung Quốc, cụ thể là Sử Ký và Tiền Hán thư
cùng Hậu Hán thư cũng như các di liệu khảo cổ học, như di liệu khảo cổ học Óc Eo, thì
vào những thế kỷ đầu dl, vùng biển phía Nam nước ta đã rộn rịp những thương thuyền
không những của các quốc gia thuộc nền văn minh Ấn Độ, mà cả những quốc gia xa xôi
của nền văn minh La-mã. Cho nên, truyền bá Phật giáo vào những vùng đất này là một sự
kiện chắc chắn đã xảy ra.
Hơn nữa, vùng đất miền nam nước ta từ phía nam cửa Sót trở vào đã mang nặng
những vết tích của nền văn hóa Ấn Độ. Chiếc bia Võ Cảnh tìm thấy tại làng Võ Cảnh ở
Nha Trang, thường được các nhà nghiên cứu xác định là xuất hiện vào thế kỷ II sdl viết
12
MrKiênhx
Copyright of this doccument
bằng Phạn văn. Để cho Phạn văn trở thành một ngôn ngữ được khắc trên đá vào thế kỷ ấy,
nền văn minh Ấn Độ vào thời điểm ấy chủ đạo là Phật giáo, phải truyền bá tại vùng đất
này qua một thời gian tương đối dài, tối thiểu cũng phải mất một vài ba trăm năm. Nói
thẳng ra, văn minh Ấn Độ phải tồn tại ở phía nam nước ta vào những thế kỷ trước và sau
Dương lịch. Cho nên, vị Hùng Vương của thời Chữ Đồng Tử ta cũng có thể xác định vào
những thế kỷ tđl, có khả năng là Hùng Nghị Vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế
kỷ II-III tđl.
Đoán định này của ta về niên đại của việc Chữ Đồng Tử tiếp thu Phật giáo là hoàn
toàn phù hợp với quan điểm của thiền sư Chân Nguyên (1647-1728) trong Thiên Nam Ngữ
Lục_1. Sau khi kể chuyện Lữ Gia bị quân của Hán Vũ đế đánh bại, Chân Nguyên viết:
"Gia bỏ cửa mốc nhà rêu
Hang thần trật lối, hồn phiêu đường nào
Nước nên thấy những đồng dao
Cõi bờ tất đất vào chầu Hán gia
Non Sài tuyệt chẳng vào ra
Thấy còn một dấu vườn là Trúc Viên
Đìu hiu ngoài cảnh thiền thiên
Thuở trưa quyên khóc, thuở đêm hạc sầu"
Viết thế, Chân Nguyên muốn nói rằng ngôi chùa Trúc Viên đã có từ thời Lữ Gia, tức
khoảng năm 110 tới tại núi Thầy (Sài Sơn), ở Sơn Tây. Điều này cũng có nghĩa Phật giáo
đã tồn tại ở nước ta vào thế kỷ thứ II tdl. Đây là một điểm khá lôi cuốn. Bởi vì nó cho thấy
đã từ lâu lưu hành quan điểm cho rằng Phật giáo đã du nhập vào nước ta từ rất sớm. Đến
thời An Thiền viết Đạo Giáo Nguyên Lưu_1 vào năm 1845, ở quyển thượng, tờ 9a11-b5
dưới mục Đại Nam thiền học sơ khởi, ông đã để lại truyện tích Chữ Đồng Tử như đã ghi
lại trong Lĩnh Nam Trích Quái:
"Thời Hùng Vương, núi Quỳnh Vi, có Đồng Tử lên thảo am. Trong am có nhà sư tên
Phật Quang. Đó là người Thiền Trúc, tuổi hơn 40, truyền pháp cho Đồng Tử một cái nón
và một cây gậy, nói rằng: "Linh dị và thần thông ở đây cả". Đồng Tử đem đạo Phật truyền
cho Tiên Dung. Vợ chồng Tiên Dung bèn học đạo. Đến buổi chiều ngày trở về, giữa đường
cần làm nơi tá túc, bèn dựng gậy che nón, đến canh ba thì thành quách lâu đài, màn gấm
màn the, kim đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ đầy cả sân chầu "
An Thiền cũng đề ra mục Hùng Vương Phạn Tăng, tức các nhà sư Ấn Độ thời Hùng
Vương, ở tờ 9b6-9, và kể tên nhà sư Khâu Đà La đến thành Luy Lâu của Sĩ Nhiếp vào thời
cuối Hán Linh Đế (168-189 sdl). Xác định Khâu Đà La vào thời Hán Linh đế dĩ nhiên
không thể xếp Khâu Đà La vào loại các nhà sư vào thời Hùng Vương được.
Ngoài ra, trong các loại thần tích cuả các xã ta biết trong số các tướng tá của Hai Bà
Trưng, sau khi bị Mã Viện đánh bại, một số đã mai danh ẩn tích trong các giáo đoàn Phật
giáo. Một trong những vị này được biết tên là Bát Nàn phu nhơn đã xuất gia. Như sẽ thấy,
chính những vị này cùng người kế nghiệp họ đã tập hợp những văn bản kinh điển Phật giáo
lưu hành lúc ấy, những bộ kinh đầu tiên hiện còn và được biết mà sau này Khương Tăng
Hội đã dịch thành Hán văn dưới nhan đề Lục độ tập kinh và Cựu Tạp Thí Dụ Kinh.
Uất Kim Hương, hoa cúng Phật
Như vậy, qua lịch sử nước ta đã tồn tại và lưu hành tương đối phổ biến trong giới sử
học Phật giáo Việt Nam một quan điểm cho rằng Phật giáo đã truyền vào nước ta từ thời
Hùng Vương. Vấn đề bây giờ là thử xem xét quan điểm này có một giá trị hay không. Ta
phải xem xét, bởi vì tất cả các sử liệu đề cập đến vấn đề này đều xuất hiện khá muộn
13
MrKiênhx
Copyright of this doccument
màng, cách xa sự việc được ghi lại tới cả hàng nghìn năm, từ Thiền Uyển Tập Anh, Lĩnh
Nam Trích Quái,Thiên Nam Vân Lục cho đến Thiên Nam Ngữ Lục và Đạo Giáo Nguyên
Lưu, những văn bản này đều ra đời vào thế kỷ thứ VIV trở về sau. Vậy, ta có thể tìm ra
những chứng cứ nào xuất hiện trong những văn bản sớm hơn, gần gũi hơn, với những sự
kiện đã xảy ra hay không? Trả lời câu hỏi này, ta hiện có tối thiểu hai cứ liệu.
Thứ nhất, là một câu trích dẫn của Lý Thời Trân (1518-1593) trong Bản Thảo Cương
Mục 14, tờ 69b4-5 dưới mục Uất Kim Hương: "Dương Phù Nam Châu Dị vật ký vân: Uất
kim xuất Quyết Tân quốc, nhận chủng chi, tiên hoàng, dự phù dung hoa lý nộn liên giả
tương tự, khả dĩ hương tửu" (Nam Châu dị vật chí của Dương Phù nói: Uất Kim đến từ
nước Quyết Tân, người ta trồng trước để cúng Phật, vài ngày thì héo, sau đó giữ lại, màu
nó vàng rộm, cùng với nhụy hoa phù dung và sen non tương tự, có thể dùng để ướp rượu).
Dương Phù, cứ Quảng Châu tiên hiền chí, của Hoàng Tá (1490-1560) và Bách Việt
tiên hiền chí do Âu Đại Nhiệm viết năm 1554, ghi rằng: "(Dương Phù) tên tự Hiểu
Nguyên, người Nam Hải. Triều vua Chương đế tìm người tài giỏi, ông đối đáp trúng cách,
nên phong làm Nghị ăn Hòa Đế tức vị, dùng quân đánh Hung Nô, Phù tâu rằng: "Gầy dựng
cơ nghiệp thì dùng võ, giữ lấy cơ nghiệp thì dùng văn, nên khi nhà Châu thắng nhà Ân thì
có việc ca ngợi sự chấm dứt chiến tranh ( ), vậy xin bệ hạ hãy noi theo nếp đẹp của tổ
tông, đừng khinh dùng việc võ". Năm Vĩnh nguyên thứ 12 (100 sdl) có hạn, vua gọi Phù
đến triều đình bàn việc được mất của chính lịnh ( ). Lúc bấy giờ, Nam Hải thuộc Giao Chỉ
bộ. Thứ sử Hà Tắc đi tuần bộ của mình. Mùa đông Tắc trở về, tâu rằng: Chính quyền trung
ương chọn thứ sử không đúng phép, nên họ sau đó đã tranh dành nhau tôn thờ việc người
khác, dâng tặng đồ trân quí. Phù bèn lựa những đặc tính của sự vật, chỉ cho hiểu tính khác
lạ của chúng; nhằm nói rõ ra, ông viết sách Nam Duệ dị vật chi ( ). Sau đó ông làm thái
thú quận Lâm Hải, lại làm sách Lâm Hải thủy thổ ký. Người đời phục ông cao thứ và
không khinh thường sự dạy dỗ".
Bản tiểu sử vừa được dịch là lấy từ Bách việt tiên hiền chí, quyển 2, tờ 5b9-6b10.
Nhưng tất cả các cuốn sử về nhà Hậu Hán như Hậu Hán ký của Viên Hoằng (328-376) và
Hậu Hán thư của Phạm Việp (398-445) đều không thấy nhắc tới tên Dương Phù. Chỉ đến
Lệ Đạo Nguyên viết Thủy kinh chú trước năm 529, quyển 36 tờ 30a6 và quyển 37 tờ 6a8
mới dẫn một Dương thị Nam Duệ dị vật chí. Rồi đến Tùy thư kinh tịch chí 33 tờ 133a4-5
mới ghi tên Dương Phù soạn "Giao Châu dị vật chí" một quyển và "Hán nghị lang Dương
Phù soạn "Dị vật chí" một quyển. Sau đó, Nghệ văn loại tụ do Âu Dương Tuần soạn năm
624, quyển 84 và quyển 95 và Sơ học ký do Từ Kiên chủ biên năm 659, quyển 9, cũng như
Thái bình ngự lãm quyển 395, quyển 890, v.v do Lý Phưởng (926-996) biên soạn, mới
bắt đầu trích dẫn Nam Châu dị vật chí hay Nam Duệ dị vật chí và Giao Châu dị vật chí.
Như vậy Nam Châu, Nam Duệ hoặc Giao Châu đều chỉ chung cho một vùng đất thuộc
miền bắc nước ta hiện nay. Vì thế, nếu Nam Châu dị vật chí của Dương Phù bảo rằng
"người ta" trồng Uất Kim hương để cúng Phật, thì "người ta" đây chính là người nước ta.
Đây là chứng cớ đầu tiên, xuất hiện tương đối sớm nhất, tức khoảng năm 100 sdl, xác nhận
có một bộ phận ngưòi Việt đã theo Phật giáo, đã biết trồng hoa Uất kim hương để cúng
Phật, thì "người ta" đây chính là người nước ta. Đây là chứng cớ đầu tiên, xuất hiện tương
đối sớm nhất, tức khoảng năm 100 adl, xác nhận có một bộ phận người Việt đã theo Phật
giáo, đã biết trồng hoa Uất kim hương để cúng Phật.
Thành Nê Lê và đoàn thuyền đạo thời Vua A Dục
Thứ hai, là một câu viết của Lưu Hân Kỳ trong Giao Châu ký, nói rằng: "Thành Nê Lê
ở phía đông nam huyện Định An, cách sông bảy dặom, tháp và giảng đường do vua A Dục
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét