ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người dược hưởng bảo hộ quốc tế, bao
gồm viên chức ngoại giao.
Không chỉ các điều ước quốc tế mà các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
về các biện pháp phòng, chống khủng bố cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể nào về khủng
bố. Ngay cả Nghị quyết số 1373 ngày 28/9/2001 làm cơ sở ra đời Uỷ ban chống khủng bố
thuộc Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mặc dù kêu gọi “các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm
phòng và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực hiện đầy
đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố” cũng không đưa ra định nghĩa
khủng bố.
Bên cạnh các điều ước quốc tế, để ngăn chặn hoạt động khủng bố, trừng trị hành vi xâm
hại tới hòa bình, an ninh, các quốc gia đã có nhiều nỗ lực trong việc đưa ra khái niệm khủng
bố. Nhìn chung, mỗi quốc gia có phương thức quy định khác nhau, quy định cụ thể mang tính
liệt kê hoặc quy định chung mang tính định hướng và đều đưa ra quy định xác định một số
dấu hiệu cơ bản nhận biết hoạt động khủng bố. Tuy nhiên, những dấu hiệu này theo pháp luật
của các nước khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định.
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam do Nhà xuất bản Công an nhân
dân xuất bản năm 2000 thì:
“Khủng bố là hành động dùng bạo lực của cá nhân, của một tổ chức, một nhà nước
hoặc liên minh nhà nước để đe dọa, cưỡng bức đối phương, khiến họ vì khiếp sợ mà phải
chịu khuất phục. Các hình thức khủng bố thường là bắt cóc, ám sát, đánh bom ”.
“Khủng bố quốc tế là khủng bố nhằm vào cá nhân, tổ chức hoặc mục tiêu được pháp
luật quốc tế bảo vệ: giết người đứng đầu nhà nước, Chính phủ, đại diện ngoại giao và các
đại diện khác, phá hủy tấn công đại sứ quan, trụ sở của phái đoàn đại diện của các tổ chức
giải phóng dân tộc, các tổ chức quốc tế; phá hoại hệ thống giao thông quốc tế… với mục
đích gây sức ép đối với chính sách đối nội, đối ngoại của các quốc gia”.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2006 thì
“Khủng bố là dùng biện pháp tàn bạo làm cho khiếp sợ để cai trị”.
Chỉ thị số 25/2007/CT-TTg ngày 15/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về công tác
phòng, chống khủng bố trong tình hình mới đã đưa ra khái niệm: “… Khủng bố là hoạt động
có tổ chức do cơ quan tình báo nước ngoài chỉ đạo hoặc do tổ chức khủng bố quốc tế, tổ chức
“tôn giáo cực đoan”, lực lượng phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài, bọn phản động
trong nước hoặc bọn tội phạm hình sự hoạt động có tổ chức sử dụng vũ khí, chất nổ, chất độc
hại, lợi dụng công nghệ thông tin, tấn công vào các cơ quan nhà nước, cơ quan nước ngoài tại
Việt Nam, nơi công cộng, ám sát, bắt cóc con tin, khống chế người hoặc phương tiện giao
thông phá hủy các công trình công cộng, công trình quan trọng về an ninh quốc gia, xâm
phạm hoặc đe dọa xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tính mạng, tài sản, uy hiếp tinh thần của
cán bộ, công chức, công dân, lợi ích của nước ngoài ở Việt Nam, nhằm chống lại chính quyền
nhân dân, gây nguy hại cho an ninh quốc gia, gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự Việt Nam (19/6/2009) không đưa
ra định nghĩa về khủng bố, mà trong luật chỉ liệt kê các hành vi phạm tội khủng bố và các
khung hình phạt đối với các hành vi đó.
Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại, cộng đồng quốc tế vẫn chưa đưa ra được định nghĩa
chung hoàn chỉnh về khủng bố mà mới chỉ ghi nhận một số hành vi nhất định là khủng bố và
các biện pháp để hợp tác đấu tranh chống lại các hành vi này. Song, những hành vi được ghi
nhận này đã ít nhiều phản ánh được bản chất của hiện tượng khủng bố. Chúng ta có thể nhận
biết hành động khủng bố dựa trên một số dấu hiệu như: dấu hiệu về động cơ chính trị của
hành vi bạo lực; dấu hiệu về mục đích của hành vi bạo lực, các yếu tố chủ thể, khách thể của
hoạt động khủng bố…
Qua nghiên cứu các văn bản pháp lý quốc tế, quy định pháp luật một số quốc gia về
khủng bố, theo quan điểm của tác giả, khủng bố là hành vi bạo lực hoặc đe dọa bạo lực do
các cá nhân hoặc tổ chức thực hiện tác động đến tính mạng, sức khoẻ (tinh thần và thể chất),
tài sản của người dân và các mục tiêu dân sự khác nhằm đạt được mục đích chính trị (ép buộc
Chính phủ, tổ chức, cá nhân hành động hoặc không được thực hiện hành động nào đó vì lí do
tôn giáo, sắc tộc…).
1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến hành động khủng bố quốc tế
Hoạt động khủng bố được thực hiện dưới nhiều hình thức, do nhiều lực lượng, thế lực
khác nhau thực hiện. Chúng ta có thể lý giải một số nguyên nhân dẫn đến hành động khủng
bố như sau:
- Về khía cạnh chính trị của những hành động khủng bố: Các mâu thuẫn dân tộc và xung
đột sắc tộc, tôn giáo là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những hành động khủng
bố quốc tế.
- Về khía cạnh kinh tế: Tình trạng đói nghèo, phân cực giàu nghèo quá lớn, thất nghiệp là
những lý do thúc đẩy một bộ phận của xã hội gia nhập lực lượng khủng bố.
1.2. Đặc điểm của khủng bố quốc tế
1.2.1. Đặc điểm của hoạt động khủng bố
Qua nghiên cứu một số khái niệm khủng bố trong các văn bản pháp luật quốc tế và pháp
luật của một số quốc gia và thực tiễn quá trình phát triển của chủ nghĩa khủng bố trong những
năm trở lại đây, có thể nhận diện hoạt động khủng bố qua một số đặc điểm sau:
- Hoạt động khủng bố thường nhắm đến mục tiêu là cộng đồng dân cư với mục đích gieo
rắc sự sợ hãi, nỗi kinh hoàng trong một bộ phận nhân dân. Những kẻ khủng bố muốn thông
qua các hành động đó để gây ra ảnh hưởng xấu đến ổn định xã hội, đến phát triển kinh tế của
quốc gia, qua đó thực hiện cho được mục đích chính trị của chúng.
- Hoạt động khủng bố quốc tế thường được thực hiện dưới nhiều hình thức, đó là những
hành vi sử dụng bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực; hành vi phá hoại, phá hủy hoặc đe dọa
phá hoại, phá hủy… Việc sử dụng bạo lực đối với con người được thực hiện dưới nhiều hành
vi như bắt cóc, giết người, hành hung, gây thương tích… Việc phá hủy, phá hoại các mục tiêu
vật chất khác được thực hiện dưới hình thức như đặt bom mìn, gây nổ, thiêu hủy hoặc sử
dụng các loại vũ khí hết sức nguy hiểm khác.
- Hoạt động khủng bố luôn gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng đối với một quốc gia
hoặc một chính phủ.
1.2.2. Đặc điểm pháp lý của tội khủng bố
1.2.2.1. Chủ thể của tội phạm khủng bố quốc tế
Xác định chủ thể của tội phạm khủng bố quốc tế hiện nay vẫn đang là vấn đề tranh cãi.
Theo các Công ước quốc tế về phòng, chống khủng bố, chủ thể của tội phạm khủng bố
chủ yếu là các cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, vấn đề đang cần làm rõ hiện nay là liệu quốc gia
có thể coi là chủ thể của tội phạm khủng bố?
Khoa học pháp lý Xô viết đã từng ghi nhận khả năng quốc gia là chủ thể chủ yếu thực
hiện các hành vi khủng bố, theo đó, khủng bố quốc tế là hành vi được tổ chức bởi các quốc
gia nước ngoài nhằm mục đích tạo ra ảnh hưởng đến chính sách đối nội hoặc đối ngoại của
quốc gia khác, gây ra sự căng thẳng, xung đột quốc tế hoặc chiến tranh. Còn theo quan điểm
của một số nước A-rập trên diễn đàn của Ủy ban Adhoc của Liên hợp quốc về các vấn đề
khủng bố cũng nhấn mạnh đến "khủng bố nhà nước", tới các hành vi bất hợp pháp bằng vũ
lực của nước này trên lãnh thổ nước khác hoặc các trường hợp nhượng bộ, che giấu hay giúp
đỡ của quốc gia đối với các nhóm, tổ chức khủng bố tiến hành hoạt động chống lại nước
khác.
Tuy vậy, quan điểm này chưa được tất cả các quốc gia tán đồng. Nhiều quốc gia cho rằng
không nên đưa quốc gia hoặc chính phủ vào nhóm chủ thể của tội phạm khủng bố quốc tế. Vì
quy định hiện hành của luật quốc tế nghiêm cấm các quốc gia sử dụng vũ lực trong quan hệ
quốc tế ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ được xác định cụ thể. Luật quốc tế nghiêm cấm
các hành vi như xâm lược, diệt chủng, tội ác chống nhân loại, chống hòa bình và trong chừng
mực nào đó, khủng bố quốc gia lại nằm trong khuôn khổ các hoạt động ủng hộ các hình thức
xâm lược, mà xâm lược là hành vi hoàn toàn trái với các quy định hiện hành của pháp luật
quốc tế.
Một số Công ước quốc tế về phòng, chống khủng bố cũng xác định hành động
quân sự của quốc gia không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Ví dụ: Công ước quốc
tế về trừng trị việc khủng bố bằng bom tại phần mở đầu có nêu: “Lưu ý rằng các hoạt động
quân sự của các quốc gia được điều chỉnh theo các quy tắc của luật pháp quốc tế nằm ngoài
khuôn khổ của Công ước này và việc loại trừ một số hành động của nhất định ra ngoài phạm
vi điều chỉnh của Công ước này không có nghĩa là bỏ qua hoặc hợp pháp hóa các hành vi bất
hợp pháp, hoặc loại trừ việc truy tố theo các luật khác”.
Từ phân tích trên, có thể khẳng định theo quan điểm được thừa nhận chung hiện nay, chủ
thể thực hiện tội phạm khủng bố quốc tế là chủ thể phi quốc gia, đó là các cá nhân hoạt động
dưới hình thức băng nhóm, tổ chức có kỷ luật chặt chẽ, có tôn chỉ mục đích, có thế lực vững
mạnh và có quy mô toàn cầu hoặc khu vực. Vấn đề quốc gia có được coi là chủ thể tội phạm
khủng bố không đến nay vẫn đang còn nhiều tranh luận và chưa đi đến kết luận cuối cùng.
Tuy nhiên, những hành động mang tính chất khủng bố do các quốc gia thực hiện cũng
cần được xem xét, nghiên cứu để xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh nhằm
ngăn ngừa, trừng trị kịp thời những hành vi bất hợp pháp do quốc gia tiến hành.
1.2.2.2. Khách thể của tội phạm khủng bố quốc tế
Khách thể của tội phạm khủng bố quốc tế là các quan hệ xã hội được các điều ước quốc
tế đa phương về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế bảo vệ và bị tội phạm khủng bố
quốc tế xâm hại. Tội phạm khủng bố xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội do vậy khách thể của
tội phạm này rất đa dạng bao gồm: quyền, tự do cơ bản của con người, trật tự an toàn công
cộng, hoà bình và an ninh quốc tế, mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc giav.v Tuy xâm
phạm đến nhiều quan hệ xã hội nhưng khách thể trực tiếp, thể hiện đầy đủ nhất tính chất nguy
hiểm cho xã hội của hành vi khủng bố quốc tế chính là hoà bình và an ninh quốc tế. Cho đến
thời điểm hiện tại, chúng ta có thể khẳng định tội phạm khủng bố là tội phạm có "tính quốc
tế" nên khách thể của tội phạm khủng bố không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà trên
phạm vi toàn cầu, đó là hòa bình, an ninh quốc tế, lợi ích của nhân loại, là quan hệ bình
thường ổn định giữa các quốc gia hoặc là tính mạng, tài sản, sức khỏe, tự do, danh dự và các
quyền con người cơ bản của các công dân thuộc quốc gia đó.
1.2.2.3. Mặt khách quan của tội phạm khủng bố quốc tế
Mặt khách quan của tội phạm khủng bố quốc tế là mặt biểu hiện bên ngoài của tội phạm
khủng bố quốc tế, diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.
Trong mặt khách quan của tội phạm khủng bố quốc tế, hành vi là biểu hiện cơ bản nhất.
Hành vi của tội phạm khủng bố quốc tế là những hành vi mang tính bạo lực hoặc đe dọa bạo
lực, gây nguy hiểm xâm hại đến loài người, gây hậu quả và thiệt hại nghiêm trọng cho các
quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm khủng bố quốc tế. Đó là thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe, tinh thần của con người, an ninh của quốc gia và quốc tế. Những hành vi này có thể
bằng hành động hay không hành động.
Có thể nhận thấy đa phần hành vi khủng bố là các hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử
dụng vũ lực, tuy nhiên hiện nay, với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, hành vi khủng bố
đã mang tính chất đa dạng hơn. Tội phạm khủng bố có thể tiến hành khủng bố bằng các
phương không mang tính vũ lực như chống phá bằng công nghệ thông tin (tin tặc); làm ô
nhiễm nguồn nước, phát tán mầm bệnh
1.2.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm khủng bố quốc tế
Tội phạm khủng bố quốc tế được thực hiện một cách cố ý trực tiếp, thủ phạm thực hiện
các hành vi khủng bố này nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi của mình, thấy trước
hậu quả nghiêm trọng của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Mục đích của tội phạm khủng bố quốc tế là kết quả trong ý thức chủ quan mà người
phạm tội phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội. Mục đích của tội phạm khủng bố
quốc tế không chỉ là thực hiện tội phạm mà còn là tạo ra sự bất ổn trong xã hội, gây thiệt hại
cho các quốc gia và các tổ chức quốc tế, gây sự chú ý đến các vấn đề đang tồn tại và chưa
được giải quyết, buộc các quốc gia và các chủ thể khác phải nhượng bộ và đáp ứng yêu cầu
của chúng.
1.2.2.5. Tính quốc tế của tội phạm khủng bố quốc tế
Ở tội phạm khủng bố quốc tế, "tính quốc tế" là dấu hiệu đặc biệt quan trọng. "Tính quốc tế"
của tội phạm khủng bố quốc tế được thể hiện ở nhiều yếu tố khác nhau.
Trước hết, "tính quốc tế" thể hiện ở địa bàn hoạt động của tội phạm khủng bố quốc tế.
Tội phạm khủng bố quốc tế hoạt động vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ của một quốc gia,
xuyên quốc gia, xuyên lục địa và có thể trên phạm vi toàn cầu.
"Tính quốc tế" còn thể hiện ở chủ thể thực hiện tội phạm bao gồm nhiều người có quốc
tịch khác nhau hoặc một người có nhiều quốc tịch, cũng có thể dựa vào nạn nhân của hành vi
khủng bố quốc tế - nạn nhân của hành vi khủng bố quốc tế có nhiều quốc tịch khác nhau.
"Tính quốc tế" còn thể hiện ở chỗ việc đấu tranh phòng, chống tội phạm khủng bố quốc
tế muốn có hiệu quả phải có sự nỗ lực chung thống nhất của loài người, sự hợp tác tích cực
của các quốc gia và các tổ chức quốc tế. Bởi hậu quả của tội phạm khủng bố quốc tế là làm
phát sinh các mối quan hệ tố tụng hình sự phức tạp giữa các quốc gia, đó là vấn đề thẩm
quyền xét xử và dẫn độ tội phạm.
1.2.3. Đặc điểm chủ yếu của hoạt động khủng bố quốc tế hiện nay
Hoạt động khủng bố quốc tế hiện nay mang một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, các phần tử còn sót lại của tổ chức khủng bố Al Qaeda và thế lực Hồi giáo
cực đoan khác vẫn là lực lượng nòng cốt của khủng bố quốc tế.
Thứ hai, các vụ khủng bố xảy ra ở Nam Á, Trung Đông, châu Phi, Đông Nam Á… cho
thấy khủng bố đã mở rộng mục tiêu tấn công của mình ra ngoài phạm vi các nước phương
Tây.
Thứ ba, khuynh hướng tiến hành các vụ tấn công khủng bố ở các quốc gia đang phát
triển ngày càng nổi bật.
Thứ tư, "Đánh bom tự sát" trở thành thủ đoạn tấn công quan trọng của các thế lực khủng
bố quốc tế.
Thứ năm, mục tiêu có xu hướng mở rộng.
Trước kia, khi tiến hành hoạt động khủng bố, các phần tử khủng bố đều có mục tiêu
chính trị rõ ràng: khi thì để đạt được mục đích “chính đáng” của bản thân, khi thì để thực hiện
mục tiêu thay đổi xã hội… nhưng nhìn chung mục tiêu mà các phần tử khủng bố tấn công
thường có ý nghĩa tượng trưng nhất định như các đại sứ quán, căn cứ quân sự, các công trình
quan trọng… Nhưng thời gian gần đây, mục tiêu mà các phần tử khủng bố nhằm vào thường
không mang ý nghĩa tượng trưng rõ ràng mà mở rộng tấn công vào các mục tiêu dân sự như
tàu chở dầu, khách du lịch.
Thứ sáu, kết cấu của các tổ chức khủng bố quốc tế có xu hướng lỏng lẻo, tản mát hơn.
Sau sự kiện 11-9, dưới sự truy lùng ráo riết của các quốc gia, các tổ chức khủng bố quốc
tế đã thay đổi quy mô, chiến lược và cơ cấu tổ chức để phù hợp với bối cảnh. Lực lượng
khủng bố của các tổ chức không tập trung mà phân chia rải rác, liên kết lỏng lẻo với nhau
hơn. Hàng loạt các vụ khủng bố được tiến hành đa phần là do các tổ chức quy mô nhỏ thực
hiện, thậm chí do một số cá nhân không thuộc tổ chức nào thực hiện.
Thứ bảy, hình thức khủng bố biến hóa đa dạng.
Thời gian đầu khi chủ nghĩa khủng bố mới xuất hiện, các phần tử khủng bố thường dùng
các phương thức như ám sát, bắt cóc, đặt bom… Nhưng đến nay, cùng với sự phát triển của
khoa học công nghệ, phương thức tiến hành khủng bố cũng không ngừng được biến hóa, thay
đổi. Bên cạnh các phương thức truyền thống, đã xuất hiện tội phạm khủng bố sử dụng công
nghệ cao.
Kết luận chương 1
Hiện nay, mặc dù, hệ thống văn bản pháp lý quốc tế về chống khủng bố tương đối lớn,
tuy nhiên chưa văn bản nào đưa ra được định nghĩa rõ ràng, toàn diện, được thừa nhận chung
về khủng bố mà mới chỉ ghi nhận một số hành vi nhất định là khủng bố và các biện pháp để
hợp tác đấu tranh chống lại các hành vi này. Song, những hành vi được ghi nhận này đã ít
nhiều phản ánh được bản chất của hiện tượng khủng bố. Chúng ta có thể nhận biết hành động
khủng bố dựa trên một số dấu hiệu như: dấu hiệu về động cơ chính trị của hành vi bạo lực;
dấu hiệu về mục đích của hành vi bạo lực, các yếu tố chủ thể, khách thể của hoạt động khủng
bố…
Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm về khủng bố của cộng đồng quốc tế và của một số quốc
gia trên thế giới, phân tích nguyên nhân dẫn đến hoạt động khủng bố, đặc điểm của hoạt động
khủng bố, đặc điểm pháp lý của hoạt động khủng bố, có thể nhận định: khủng bố là hành vi
bạo lực hoặc đe dọa bạo lực do các cá nhân hoặc tổ chức thực hiện tác động đến tính mạng,
sức khoẻ (tinh thần và thể chất), tài sản của người dân và các mục tiêu dân sự khác nhằm đạt
được mục đích chính trị (ép buộc Chính phủ, tổ chức, cá nhân hành động hoặc không được
thực hiện hành động nào đó vì lí do tôn giáo, sắc tộc…).
Chương 2
KHÁI QUÁT KHUNG PHÁP LÝ QUỐC TẾ
VỀ PHÕNG, CHỐNG KHỦNG BỐ
2.1. Khái quát khung pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố
Trước sự đe dọa của hoạt động khủng bố tới hòa bình, an ninh quốc tế, cộng đồng quốc
tế đã chung tay xây dựng hệ thống quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh vấn đề khủng bố. Có
thể khái quát hệ thống pháp luật quốc tế về phòng, chống khủng bố gồm: Các điều ước quốc
tế (Điều ước quốc tế đa phương, điều ước quốc tế song phương, điều ước quốc tế toàn cầu,
điều ước quốc tế khu vực…), Nghị quyết của Liên hợp quốc liên quan đến việc phòng, chống
khủng bố…
2.1.1. Điều ước quốc tế
2.1.1.1. Điều ước quốc tế đa phương
Hiện nay, cộng đồng quốc tế đã xây dựng được 14 điều ước đa phương về chống khủng
bố quốc tế:
- Công ước Tokyo năm 1963 về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu
bay;
- Công ước Lahay 1970 về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay;
- Công ước Montreal năm 1971 về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an
toàn hàng không dân dụng;
- Công ước về phòng ngừa và trấn áp các tội phạm chống lại người được hưởng sự bảo
hộ quốc tế, kể cả viên chức ngoại giao năm 1973;
- Công ước quốc tế bảo vệ về mặt vật lý vật liệu hạt nhân năm 1979;
- Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin năm 1979;
- Nghị định thư Montreal năm 1988 về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các
cảng hàng không phục vụ hàng không dân dụng quốc tế;
- Công ước về trấn áp các hành vi bất hợp pháp xâm phạm an toàn hành trình hàng hải
năm 1988;
- Nghị định thư về trấn áp các hành vi bất hợp pháp xâm phạm an toàn các công trình
cố định trên thềm lục địa năm 1988;
- Công ước về đánh dấu vật liệu nổ dẻo nhằm mục đích phát hiện năm 1991;
- Công ước quốc tế về trấn áp hành vi khủng bố bằng bom năm 1997;
- Công ước quốc tế về trấn áp hành vi tài trợ cho khủng bố năm 1999;
- Công ước New York năm 2005 về ngăn chặn hoạt động khủng bố hạt nhân;
- Công ước về ngăn ngừa những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hàng không
dân dụng quốc tế năm 2010.
Đây là những văn bản pháp lý quan trọng về tăng cường hợp tác giữa các quốc gia để
ngăn ngừa và trừng trị tội phạm khủng bố quốc tế, lên án mạnh mẽ các hoạt động khủng bố,
và khẳng định sự cần thiết phải đấu tranh chống lại các hành vi khủng bố dưới mọi hình thức.
2.1.1.2. Điều ước quốc tế khu vực
Vấn đề chống khủng bố là mối quan tâm của toàn nhân loại. Bên cạnh điều ước quốc tế
đa phương mang tính toàn cầu thì trong khuôn khổ của khu vực (châu Âu, Châu Á, Châu Phi,
Châu Mỹ…), các quốc gia, tổ chức quốc tế khu vực cũng ký kết những điều ước quốc tế để
ngăn ngừa và đấu tranh chống tội phạm khủng bố trong phạm vi khu vực của mình.
2.1.1.3. Điều ước quốc tế song phương
Nhằm ngăn ngừa tội phạm khủng bố, tăng cường hợp tác trong đấu tranh chống khủng
bố, bên cạnh việc tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương, khu vực, các quốc gia cũng
đã ký kết các hiệp định song phương với nhau. Có thể kể đến một số hiệp định song phương
về phòng, chống khủng bố như: Hiệp định Hợp tác và Đối tác (PCA) giữa Indonesia và Liên
minh châu Âu (EU) ký ngày 9/11/20009 tại thủ đô Jakarta, Indonesia; Hiệp định hợp tác
Trung Quốc-Nga về chống khủng bố, ly khai và cực đoan; Thỏa thuận hợp tác chống khủng
bố Mỹ - Ấn Độ năm 2010 (CTCA); Thỏa thuận giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Iran về chống khủng bố
năm 2007; Bản ghi nhớ về hợp tác chống khủng bố quốc tế giữa Bangladesh và Autralia 2008
(ký ngày 24/12/2008 tại Dhaka)…
2.1.2. Nghị quyết chống khủng bố của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
Là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an được thành lập
nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Theo Điều 39 của Hiến chương Liên hợp quốc, Hội
đồng Bảo an là cơ quan duy nhất của Liên hợp quốc có quyền quyết định đánh giá thực tại
của các mối đe dọa đối với hoà bình, phá hoại hoà bình hoặc hành động xâm lược, và sẽ
khuyến nghị hoặc quyết định các biện pháp cần được tiến hành phù hợp với các Điều 41 và
42, để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế. Trong khi thực thi chức năng này,
Hội đồng Bảo an được coi là hành động với tư cách thay mặt cho tất cả các thành viên Liên
hợp quốc. Trên thực tế, những chức năng mà Hội đồng Bảo an được trao có thể được coi là
để nhằm 3 mục tiêu: gìn giữ hoà bình, vãn hồi hoà bình và kiến tạo hoà bình.
Trong lĩnh vực chống khủng bố, để thực hiện nhiệm vụ của mình, Hội đồng Bảo an Liên
hợp quốc đã cho ban hành nhiều Nghị quyết về chống khủng bố như: Nghị quyết số 1267
năm 1999 (Nghị quyết được Hội đồng Bảo an thông qua tại phiên họp thứ 4051 ngày 15
tháng 10 năm 1999) về tình hình khủng bố ở Afghanistan; Nghị quyết số 1333 (2000) ngày
19 tháng 12 năm 2000; Nghị quyết số 1363 (2001) ngày 30 tháng 7 năm 2001; Nghị quyết số
1373 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về phong tỏa, tịch thu tài sản của các phần tử
khủng bố và tài trợ cho khủng bố ngày 28/9/2001; Nghị quyết số 1390 (2002) ngày 16 tháng
01 năm 2002; Nghị quyết số 1452 ngày 20 tháng 12 năm 2002. Trong năm 2003: Hội đồng
Bảo an đã thông qua 04 nghị quyết liên quan trực tiếp đến chủ nghĩa khủng bố. Nghị quyết
1456 được các Ngoại trưởng của Hội đồng Bảo an soạn thảo vào tháng 01/2003 đã củng cố
thêm cam kết của Hội đồng trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố và Nghị quyết 1455
(được Hội đồng bảo an thông qua tại phiên họp thứ 4686 ngày 17 tháng 1 năm 2003) nhấn
mạnh nhiệm vụ của Uỷ ban Các lệnh Trừng phạt (do Hội đồng Bảo an thành lập, quản lý
danh sách các cá nhân và các tổ chức có liên quan đến al-Qaeda, Taliban, và/hoặc Osama Bin
Laden bị trừng phạt theo các lệnh trừng phạt quốc tế như phong tỏa tài sản, cấm đi lại và cấm
vận vũ khí, mà các nước thành viên có nghĩa vụ phải thực hiện) Các Nghị quyết 1465 và
1516 đã lên án những hành động khủng bố cụ thể là ở Bogota, Columbia và ở Istanbul, Thổ
Nhĩ Kỳ.
Tiếp đó, năm 2005, Hội đồng Bảo an Nghị quyết số 1624 năm 2005 về các biện pháp bổ
sung chống các hành vi kích động khủng bố.Trong bản Nghị quyết 1624 được thông qua năm
2005, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã kêu gọi tất cả 191 nước thành viên "dùng luật pháp
cấm hành động xúi giục thực hiện các hành động khủng bố" và "không cung cấp nơi ẩn náu
an toàn" cho bất kỳ kẻ nào dù chỉ mới bị nghi là xúi giục khủng bố.
Không chỉ ban hành nhiều Nghị quyết về phòng, chống khủng bố, Hội đồng Bảo an còn
có nhiều cơ chế để giám sát việc thực hiện các Nghị quyết, trong đó có việc thành lập các Ủy
ban và thiết lập cơ chế báo cáo quốc gia. Với những động thái này, Hội đồng Bảo an đã phản
ứng kịp thời trước những diễn biến mới của khủng bố quốc tế và đang dần khẳng định vị trí
của mình trong tiến trình chống khủng bố nói riêng và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế nói
chung.
2.2. Một số điểm hạn chế của pháp luật quốc tế về phòng, chống khủng bố hiện nay
và phương hướng hoàn thiện
Tuy hệ thống các công ước quốc tế làm cơ sở cho hoạt động chống khủng bố đã tương
đối đầy đủ nhưng hiện nay chưa có một công ước toàn diện về chống khủng bố cũng như
chưa có một định nghĩa pháp lý chính xác, đầy đủ về khủng bố quốc tế. Vì vậy, trong thời
gian tới cộng đồng quốc tế cần sớm hoàn thiện và thông qua công ước toàn diện về chống
khủng bố, trong đó xây dựng thành công định nghĩa pháp lí về khủng bố quốc tế; từng bước
hoàn thiện cơ chế riêng, thống nhất về chống khủng bố, bảo đảm sự phối hợp tốt giữa các cơ
quan của Liên hợp quốc (như Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc).
Thứ nhất, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc
tế. Đó là việc xúc tiến xây dựng điều ước quốc tế đa phương toàn cầu có tính tổng thể về
chống khủng bố quốc tế (Công ước Châu Âu năm 1977 về chống khủng bố là điều ước điển
hình tuy nhiên chỉ có tính khu vực), trong đó chú trọng xây dựng một định nghĩa được thừa
nhận chung về khủng bố quốc tế.
Thứ hai, cần sửa đổi điều khoản về dẫn độ trong các điều ước quốc tế đa phương về
chống khủng bố quốc tế với nội dung: quy định nghĩa vụ dẫn độ bắt buộc của các quốc gia
thành viên khi tham gia điều ước với khẳng định dẫn độ là công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu
tranh với mối nguy cơ này.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức quốc tế Liên hợp quốc với vai trò đứng
ra khuyến cáo, tổ chức các quốc gia thành viên, phối hợp chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu
tranh chống khủng bố quốc tế. Tăng cường thành lập Interpol khu vực, nâng cao chất lượng
của Interpol quốc tế với việc thành lập một ban chuyên trách về khủng bố quốc tế.
Thứ tư, tất cả các nước cần tuyệt đối bãi bỏ việc cấp quy chế cư trú chính trị cho tội
phạm khủng bố cũng như cho những người dung túng, ủng hộ chúng, nếu không, điều này sẽ
phá vỡ tính thống nhất và sự tin cậy lẫn nhau trong liên minh chống khủng bố, đồng thời là
sự biện hộ cho các hoạt động khủng bố tiếp tục thực hiện những hành vi tội ác tại nhiều nơi
trên thế giới.
Trong nỗ lực hoàn thiện hệ thống khung pháp lý về phòng, chống khủng bố quốc tế,
hiện nay, các quốc gia thành viên đang đàm phán một điều ước quốc tế bổ sung, một dự thảo
Công ước quốc tế toàn diện về chống khủng bố. Công ước này sẽ bổ sung và hoàn thiện
khung pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố và sẽ xây dựng, phát triển những nguyên
tắc cơ bản mang tính định hướng đã hiện diện trong các công ước về phòng, chống khủng bố
gần đây: tầm quan trọng của việc hình sự hóa tội phạm khủng bố, trừng phạt theo pháp luật
và truy tố hoặc dẫn độ kẻ phạm tội; sự cần thiết loại trừ sự lập pháp mà thiết lập những ngoại
lệ để hình sự hóa trên phương diện chính sách, triết học, hệ tư tưởng (ý thức hệ), mang tính
chủng tộc (đặc trưng cho chủng tộc), dân tộc, tôn giáo hay những nền tảng tương tự; một sự
kêu gọi mạnh mẽ các quốc gia thành viên hành động ngăn ngừa khủng bố; và nhấn mạnh sự
cần thiết của việc các quốc gia hợp tác, trao đổi thông tin và cung cấp cho nhau những giải
pháp hỗ trợ nhau trong việc kết nối ngăn ngừa, điều tra và truy tố những hành vi khủng bố.
Kết luận chương 2
Đấu tranh phòng, chống tội phạm khủng bố là một trong những hoạt động được cộng
đồng quốc tế quan tâm. Cho đến nay, cộng đồng quốc tế đã xây dựng được 14 công ước và
nghị định thư về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố, đồng thời, nhiều Nghị quyết của Hội đồng
Bảo an Liên hợp quốc về phòng, chống khủng bố đã được thông qua, nhiều điều ước quốc tế
khu vực, điều ước quốc tế song phương giữa các quốc gia đã được ký kết. Điều này đã tạo lập
cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu tranh chống khủng bố. Tuy nhiên, do chưa có được một định
nghĩa thống nhất về khủng bố, tội phạm khủng bố nên hiệu quả hợp tác quốc tế giữa các quốc
gia và hiệu quả đấu tranh chung chống khủng bố quốc tế bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, qua việc
phân tích nội dung cơ bản của các công ước quốc tế về phòng, chống khủng bố; các quy định
cụ thể về những hành vi được điều chỉnh theo các điều ước quốc tế đa phương về ngăn ngừa
và trừng trị khủng bố; việc xác định thẩm quyền xét xử đối với tội phạm khủng bố quốc tế
theo các điều ước quốc tế đa phương; quy định về dẫn độ tội phạm trong các điều ước quốc tế
đa phương về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế, cho thấy nhiều điểm chưa hoàn thiện
trong hệ thống pháp luật quốc tế về phòng, chống khủng bố hiện nay.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả đấu tranh chống khủng bố, khắc phục những hạn chế
của hệ thống pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội phạm khủng bố hiện hành, trong
thời gian tới cộng đồng quốc tế cần chung tay trong việc xây dựng và hoàn thiện Công ước
chung về ngăn ngừa và trừng trị tội phạm khủng bố.
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÕNG, CHỐNG KHỦNG BỐ
Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về phòng, chống khủng bố
3.1.1. Các quy định của pháp luật hình sự về tội khủng bố
Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam được ban hành năm 1985 đã quy
định tội khủng bố tại Điều 78 nằm trong chương Những tội xâm phạm an ninh quốc gia. Quy
định của tội danh này vẫn được giữ nguyên trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Điều 84.
Tuy nhiên, các hành vi chỉ cấu thành tội phạm khủng bố theo quy định của Bộ luật Hình
sự Việt Nam nếu được thực hiện nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân hoặc nhằm gây
khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xuất phát từ
yêu cầu của thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm nói
riêng, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung vào ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thứ
5 Quốc hội khóa XII, theo đó, trong Bộ luật Hình sự hiện hành quy định ba tội danh về khủng
bố, đó là Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (điều 84), Tội khủng bố (Điều
230a) và Tội tài trợ cho khủng bố (Điều 230b).
3.1.2. Các quy định của pháp luật hình sự về các tội liên quan đến khủng bố
Bên cạnh việc quy định các tội phạm về khủng bố, Bộ luật Hình sự Việt Nam còn có các
điều luật quy định về các tội phạm khác có liên quan như các hành vi xâm phạm an toàn hàng
không, hàng hải; sử dụng, mua bán trái phép các vũ khí, vật liệu nổ…
Các hành vi trong lĩnh vực an toàn và an ninh hàng không dân dụng
Bộ luật Hình sự có ba điều quy định về tội cản trở giao thông đường không (Điều 217),
tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221) và tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về
hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 222) nhằm đảm bảo an
toàn về tính mạng và tài sản trong lĩnh vực giao thông đường không.
Các hành vi trong lĩnh vực an toàn và an ninh hàng hải
Bộ luật Hình sự có 04 điều luật quy định về các tội phạm có liên quan đến lĩnh vực này,
đó là tội cản trở giao thông đường thủy (Điều 213), tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều
221), tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam (Điều 223) và tội phá hủy công trình, phương tiện
quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231). Đây là những hành vi xâm phạm đến trật tự an
toàn công cộng, gây thiệt hại về người và tài sản trong lĩnh vực giao thông hàng hải. Người
phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt tù cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, ngoài ra còn
có thể bị áp dụng hình phạt tiền đến tám trăm triệu đồng.
Các hành vi trong lĩnh vực quản lý vũ khí, vật liệu nổ
Bộ luật Hình sự có 09 điều luật quy định về các tội phạm có liên quan đến lĩnh vực này,
bao gồm tội chế tạo, vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân
dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230), tội chế tạo vận chuyển, sử dụng, tàng trữ,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 232), tội chế tạo vận chuyển, sử dụng,
tàng trữ, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ và công cụ hỗ trợ (Điều 233), tội
vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (Điều 234), tội thiếu trách
nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng (Điều
235), tội chế tạo vận chuyển, sử dụng, tàng trữ, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất
phóng xạ (Điều 236), tội vi phạm quy định vê quản lý chất phóng xạ (Điều 237), tội chế tạo
vận chuyển, sử dụng, tàng trữ, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất cháy, chất độc (Điều
238) và tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc (Điều 239). Các điều này được
xây dựng nhằm mục đích trừng trị các hành vi vi phạm chế độ quản lý các loại vũ khí, vũ
khí thô sơ, vật liệu nổ - đây là những phương tiện mà bọn tội phạm thường sử dụng để thực
hiện hành vi phạm tội nói chung và hành vi phạm tội khủng bố nói riêng.
Các hành vi khác được sử dụng cho mục đích khủng bố
Bộ luật Hình sự có 05 điều quy định trong lĩnh vực này, đó là tội chứa chấp hoặc tiêu thụ
tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250), tội rửa tiền (Điều 251), tội sửa chữa, sử
dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 266), tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 267), tội xuất cảnh nhập cảnh trái phép, tội ở lại Việt Nam
trái phép (Điều 274) và tội che giấu tội phạm (Điều 313). Theo quy định của các điều luật này
thì người áp dụng hình phạt tù cao nhất là 15 năm (đối với hành vi rửa tiền với các tình tiết
tăng nặng) và có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, tịch thu tài sản và quản chế.
3.1.3. Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra các tội phạm
liên quan đến tội khủng bố
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 của Việt Nam quy định tại Điều 110 về thẩm quyền
điều tra các vụ án hình sự, theo đó, cơ quan điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả
các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra trong Quân đội nhân dân và cơ
quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 còn quy
định về tài phán của Việt Nam tại các Điều 171 và Điều 172.
Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về chống khủng bố, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
của Việt Nam dành một phần riêng (phần thứ 8) để quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực tố tụng hình sự, trong đó có hai chương: Chương 36 quy định về vấn đề tương trợ tư
pháp và Chương 37 quy định về vấn đề dẫn độ tội phạm.
3.1.4. Các quy định pháp luật khác về phòng, chống khủng bố
Ngoài các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về tội phạm khủng bố và các
tội phạm có liên quan đến khủng bố, luật pháp Việt Nam còn có các quy phạm pháp luật
nhằm giám sát các giao dịch về tài chính, quản lý tiền tệ và các hoạt động gây quỹ liên quan
đến yếu tố nước ngoài; chống tài trợ cho các hoạt động khủng bố, chống rửa tiền; quản lý vũ
khí và vật liệu nổ; quản lý hoạt động xuất, nhập cảnh.
3.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về phòng, chống khủng bố
Hệ thống các văn bản pháp luật về phòng, chống khủng bố Việt Nam về cơ bản đã đáp
ứng được yêu cầu của công tác phòng, chống khủng bố ở nước ta trong một thời gian dài.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mạng mẽ như hiện nay,
thực tiễn hoạt động phòng, chống khủng bố đã nảy sinh nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập về
khía cạnh pháp lý cần được nghiên cứu và giải quyết. Dù các quy định về tội phạm khủng bố
được sửa đổi, bổ sung đã đáp ứng được một số yêu cầu về mặt pháp lý nhưng vẫn còn nhiều
vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện như:
- Khái niệm về hành vi khủng bố vẫn chưa được quy định một cách rõ ràng, thống nhất trong
các điều luật về các tội phạm khủng bố, do đó cùng một hành vi có thể bị truy tố theo hai tội danh
trong trường hợp dấu hiệu về mục đích không rõ ràng.
- Hành vi khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân theo quy định tại Điều 84 BLHS
năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có đối tượng tác động là con người, tuy nhiên, thực
tiễn cho thấy hoạt động khủng bố còn nhằm tấn công vào các mục tiêu vật chất khác với mục
đích chống chính quyền nhân dân. Do đó, cần có sự nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để điều luật
được chặt chẽ hơn.
- Thực tiễn thi hành pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự đối với tội phạm khủng bố
còn có những hạn chế, vướng mắc do sự khác biệt giữa quan niệm khủng bố của Việt Nam và
các quốc gia cũng như việc gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng bố của Việt Nam
còn chưa kịp thời.
- Hệ thống các văn bản pháp luật về phòng, chống khủng bố còn thiếu đồng bộ và chưa
thống nhất do chưa có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao để điều chỉnh các quan hệ
xã hội trong lĩnh vực phòng, chống khủng bố.
3.3. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố ở Việt Nam hiện nay
Việc hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố ở Việt Nam trong tình hình hiện
nay xuất phát từ những nhu cầu khách quan sau:
- Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố là một yêu cầu khách quan trong bối
cảnh các hoạt động khủng bố quốc tế đang gia tăng mạnh cả về số lượng lẫn quy mô hoạt
động và trở thành mối đe dọa an ninh của các quốc gia và cộng đồng quốc tế.
- Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố là một yêu cầu tất yếu trong chiến lược
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét