Cùng với sự phát triển của con người, sự thay đổi trong thị hiếu thẩm mỹ và
lý tưởng thẩm mỹ, áo dài Việt Nam cũng có nhiều nét cách tân và đổi mới. Nhưng
nó vẫn bảo lưu nhiều đặc trưng cơ bản nhất, những đặc điểm mà chỉ "Thoáng thấy
áo dài bay trên đường phố, đã thấy tâm hồn quê hương ở đó" như lời bài hát được
cất lên trong đêm tôn vinh hoa hậu Việt Nam. Áo dài thân thuộc với mỗi người
Việt Nam chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, trong mổi trang thơ, trang văn,
trong âm nhạc, trong hội hoạ, trong điêu khắc… Và có thể thấy trong Mỹ học, điều
đó không có gì là khó hiểu bởi áo dài mang trong đó cái Đẹp, làm thăng hoa cái
Đẹp.
II. Bản chất của cái Đẹp
Cái Đẹp giữ vị trí trung tâm trong đời sống thẩm mỹ, vì vậy, nó là phạm trù
cơ bản của mỹ học.Phạm trù cái đẹp đựoc hình thành và phát triển cùng với sự hình
thành và phát triển tình cảm và ý thức của con người. Điều đó đồng nghĩa với việc
quan niệm về cái đẹp cũng là một qúa trình nhận thức, không ngừng vận động đi
5
lên.Cái đẹp vì thế là một sản phẩm của lịch sử của bản thân năng lực thẩm mỹ, vừa
sự phát triển tư tưởng thẩm mỹ của chính loài người.
Bao thế kỷ nay con người nói chung và các nhà mỹ học nói riêng đều cố
gắng tìm ra được một định nghĩa minh xác nhất về cái đẹp: "cái đẹp là gì và cái gì
là đẹp? ", " bản chất cái đẹp là gì?". Nhưng tất cả các định nghĩa đều mang tính
tương đối và đều mang tính lịch sử, gắn liền với lịch sử phát triển tư tưởng, quan
niệm về cái đẹp của loài người.
Triết học Mác Lênin tạo nên bước ngoặt vĩ đại trong nhận thức , nó cũng là
bước ngoặt lớn lao trong quan niệm về cái đẹp. Tiếp thu, kế thừa tinh hoa âc quan
điểm thẩm mỹ trong lịch sử tư tưởng với phương pháp duy vật biện chứng, cái đẹp
được các nhà duy vật macxit nhìng nhận một cách toàn diện từ các phía : Khách
quan - chủ quan, tự nhiên – xã hội, lịch sử - cụ thể, vận động – phát triển…
Cái đẹp có thể là một sự vật, một hiện tượng, một hành vi, một ý tưởng. một
thực thể đơn lẻ hay một quần thể phức hợp.
Từ góc độ bản thể luận, cái đẹp có đưọc trước hết là do các yếu tố kết cấu
khách quan của đối tượng (sự vật, hiên tượng …) có tính cân đối, mực thước, tỷ lệ
vừa phải… tính nhịp điệu, nhạc tính…đem lại. Các yếu tố đó chuyển động thăng
giáng theo những số lượng và chất lượng, kích thước hết sức linh hoạt theo những
điều kiện như khoảnh và khắc của không gian và thời gian, gam và nhịp của màu
sắc và âm thanh… Cái tạo nên một tỉ lệ vừa phải với thị giác, thính giác mà mỹ học
gọi là " độ" gây nên cảm xúc thẩm mỹ .Từ góc độ đó chúng ta phát hiện ra các quy
luật của cái đẹp.
Yếu tố tập trung quan trọng nhất tạo nên cái đẹp được thừa nhận từ xưa đến
nay là hài hoà. Tính cân đối, tỷ lệ, mức độ, nhịp nhàng là những yếu tố tạo nên
cảm giác hài hoà. Nhưng chỉ thế thì chưa đủ, cái đẹp còn là một chỉnh thể toàn vẹn,
nó mang tính thống nhất các đặc trưng về nội dung và hình thức.
Từ quan hệ chủ thể - khách thể, cái đẹp có tính khách quan của nó. Nhưng
con người lại là chủ thể thẩm định thẩm mỹ. Do đó cái đẹp được thể hên trong quan
6
hệ hai chiều: chủ quan – khách quan. Cái đẹp vừa mang tính chất tự nhiên, vừa
mang tính chất xã hội, vừa có tính lịch sử vừa có tính nhân loại.
"Phạm vi biểu hiện cái đẹp hết sức rộng lớn , phong phú và sinh động: cái
đẹp tự nhiên, cái đẹp sản xuất vật chất và tinh thần, cái đẹp xã hội và cái đẹp nghệ
thuật" . Cái đẹp nghệ thuật là hình thức sáng tạo độc đáo nhất cái đẹp tinh thần con
người. Không ở đâu , lý tưởng, khát vọng , ý chí vươn lên của con người lại được
tập trung cao đọ như trong cái đẹp nghệ thuật, nó mang tính chất là một tín hiệu
thẩm mỹ đặc biệt.
Trong cuốn Mỹ học đại cương, chúng ta có một định nghĩa vắn tắt về cái
đẹp: “Cái đẹp là một hiện tượng thẩm mỹ vô cùng đa dạng và phức tạp. Nó là lĩnh
vực vừa có tính bản thể vừa có tính định hướng. Có tính bản thể là vì cái đẹp có
theer là một hiện tượng, một sự vật hay một ý nghĩa, một hành vi, là tinh thần hay
vật chất nó tồn tại như những chỉnh thể độc lập. Có tính định hướng là vì cái đẹp
còn là chuẩn mực do con người xác định lý tưởng sống sao cho đạt tới độ Chân -
Thiện - Mỹ.
- Đẹp là một lĩnh vực tinh thần, tình cảm. Dù có thể tồn tại dưới dạng vật
chất, cái đẹp cũng liên quan đến đời sống tinh thần, tình cảm. đồng thời cái
đẹp là giá trị: nó là sự đánh giá, thẩm định của con người về bản thân
mình. Trong sự cảm nhận, vì cái đẹp có yếu tố khách quan, nên sự đánh giá
cái đẹp mang tính vô tư chú không phải vô dịnh .
- Đẹp vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan. Nó vừa được tạo thành
bởi các kết cấu hài hoà – toàn vẹn tự thân, vừa chịu sự đánh giá của chủ thể
thẩm mỹ.
- Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp của mọi cái đẹp ( của cả tự nhiên lẫn xã
hội ), mà chủ thể nghệ sĩ đã kết tinh lại bằng những sáng tạo độc đáo của
mình , đồng thời đêm cống hiến cho xã hội, cho sự hoàn thiện , hòn mỹ vô
tận của con người.
7
- Tiêu chí cơ bản để đánh giá , cảm thụ cái đẹp là Chân - Thiện - Mỹ, trong
biểu hiện phong phú của nó qua tính dân tộc, tính nhân dân, tính giai cấp và
tính nhân loại.”
Tóm lại, Cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm của mỹ học dùng để chỉ
thực tại thẩm mỹ khách quan. Thực tại này chúng ta biết được nhờ hệ thống cảm
nhận phổ biến có tính xã hội sâu sắc. Dưới ánh sáng của lý tưởng thẩm mỹ chân
chính, hệ thống cảm nhận thẩm mỹ phản ánh lại thực tại cái đẹp. Đặc trưng ngôn
ngữ của sự phản áh đó là hình thượng. Thành tựu cao nhất của sự phản ánh đó là
nghệ thuật. Cái đẹp bắt nguồn từ cái chân thật, và cái tốt; nó toả chiếu bằng những
xung động thẩm mỹ có sức cuốn hút, giúp cho con người định hướng đời sống theo
luật hoàn thiện, hoàn mỹ. Tác độn của cái đẹp mang tính thanh cao, hài hoà biện
chứng, ở tự thân bên trong tâm hồn con người , bên trong xã hội loài người.
III. Áo dài Việt Nam dưới cái nhìn Mỹ học
8
1. Lich sử áo dài
Dân tộc Việt Nam có một chiều dài lịch sử trên bốn ngàn năm theo như sử
sách đã ghi, trong đó có một ngàn năm bị Bắc thuộc, tám mươi hai năm bị Pháp đô
hộ, tiếp theo là cuộc kháng chiến kiến quốc lâu dài! Một dân tộc mà bị dân tộc
khác đô hộ trên ngàn năm quả là quá lâu. Bao nhiêu tài sản của quốc gia, sử sách
quí giá, tài liệu về lịch-sử v.v đã cướp đi hoặc tiêu hủy hết. Mục đích của kẻ
thống thị là triệt tiêu nền văn hóa của ta để đồng hóa. Mặc dầu bị ngoại xâm, chiến
tranh li ên mi ên nh ưng ch úng ta vẫn trường tồn. Sử gia Ðào Duy Anh chép: "Theo
sách Sử-ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo dài về bên tả (tả
nhiệm). Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Ðiên dạy cho dân quận Cửu
Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu. Theo những lời sách chép đó thì ta có thể
đoán rằng trước hồi Bắc thuộc thì dân ta gài áo về tay trái, mà sau bắt chước người
Trung Quốc mới mặc áo gài về tay phải." (Việt Nam Văn-Hóa Sử, Ðào Duy Anh,
trang 172). Mặc dầu cuộc sống chung đụng và bắt chước theo người ngoại quốc,
nhưng tổ tiên ta vẫn khôn khéo duy trì nét đặc thù của nền văn hóa, không đánh
mất bản sắc dân tộc.
Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra
sao, vì thiếu tài liệu kiểm chứng. Mới đây, nhân đọc cuốn kể chuyện "Chín Chúa ,
Mười Ba Vua Triều Nguyễn" của ông Tôn Thất Bình, (Nhà Xuất Bản Ðà Nẵng,
1997) có bài "Những Trang Ðầu của Lịch-Sử Áo Dài" tác-giả chép như sau:
"Chiếc áo dài tha-thướt xinh đẹp hiện nay phải qua một quá-trình phát-triển.
Nó được hình-thành từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nguyên chúa Nguyễn Phúc
Khoát nghe người Nghệ-an truyền câu sấm: "Bát đại thời hoàn trung nguyên" (tám
đời trở về trung nguyên), thấy từ Ðoan Quốc Công đến nay vừa đúng tám đời bèn
xưng hiệu lấy thể-chế áo mũ trong Tam tài đồ hội làm kiểu lại hạ lệnh cho trai gái
hai xứ đổi dùng áo quần Bắc quốc để tỏ sự biến đổi, khiến phụ-nữ bận áo ngắn hẹp
tay như áo đàn ông thì Bắc quốc không có thế.
9
Thế là do tinh-thần độc-lập, muốn dân chúng trong địa-phận mình cai-tri.
mang y-phục riêng để phân-biệt với miền Bắc, Nguyễn Phúc Khoát hiểu dụ:
"Y-phục bản quốc vốn có chế độ, địa-phương này từ trước cũng chỉ tuân theo
quốc-tục, nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cõi biên, trong ngoài như nhau,
chính-tri. và phong-tu.c cũng nên thống-nhất. Nếu còn có người mặc quần áo kiểu
người khách ( Người Hoa) thì nên đổi theo thể chế của nước nhà. Ðổi may y phục
thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa, duy có quan chức thì mới cho dùng xen
the, là, trừu, đoạn, còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng thì nhất thiết không
được quen thói cũ dùng càn. Thường ph ục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng
ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy-tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống
phải khâu kín liền không cho xẻ mớ. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và
hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được. Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải
xanh chàm hoặc vải đen, hay vải trắng tùy nghi. Còn các bức viền cổ và kết lót thì
đều theo như điều hiểu dụ năm trước mà chế dùng."
Như vậy từ thế kỷ XVIII, chiếc áo dài đã được ra đời, dù ban đầu còn thô-sơ,
nhưng kín đáo. Nó là sản-phẩm mang màu sắc dung-hòa Bắc Nam. Cũng ở thời
Nguyễn Phúc Khoát, phụ-nữ đã biết trang điểm, thêu-thùa hoa lá quanh cổ áo để
tăng vẻ đẹp, hàng vải khá tốt và tinh xảo. Các loại áo đoạn hoa bát ty, sa, lương,
địa, the là hàng hoa được mặc vào ngày thường, áo vải, áo mộc bị chê là vải xấu.
Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang lịch-sử đầu cho chiếc áo dài
vậy." (Theo Lê Quý Ðôn-Phủ biên tạp lục, trong cuốn "Kể chuyện Chín Chúa -
Mười Ba Vua Triều Nguyễn, của Tôn Thất Bình, trang 29.)
Chúa Nguyễn Phúc Khoát hùng cứ ở xứ Ðàng Trong, sau khi chiếm trọn
nước Chiêm thành, mở mang bờ cõi về phương Nam, theo Lê Quý Ðôn, đã có được
thời kỳ thịnh vượng bình yên. Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu là Vũ
Vương, có triều nghi xây hai điện Kim Hoa, Quang Hoa, có các nhà Tụ Lạc, Chính
Quang, Trung Hoà, Di Nhiên, đài Sướng Xuân, các Dao Trì, các Triều Ðương, các
Quan Thiên, đình Thụy Vân, hiên Ðồng Lạc, an Nội Viên, đình Giáng Hương, điện
10
Trường Lạc, hiên Duyệt Võ v.v., có cơ chế chính trị, hành chính, xã hội có kỷ
cương, nhưng chưa có quốc hiệu. Tuy nhiên, người ngoại quốc tới lui buôn bán tại
cửa Hội An thường gọi là "Quảng Nam quốc". Ðể chứng tỏ tinhthần độc lập, Chúa
Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã chú trọng đến vấn đề cải cách xã hội, phong tục
mà điều quan trọng là sự cải cách về y phục.
Nếu căn cứ theo tài liệu kể trên thì chiếc áo dài Việt Nam đã ra đời vào thế
kỷ XVIII, trong thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765) (?).
Từ đó đến nay chắc chắn chiếc áo dài Việt Nam cũng đã thay hình đổi dạng
để thích nghi với trào lưu tiến hóa và sự trường tồn của dân tộc. Sách Ðại Nam thực
lục tiền biên cũng có chép: "Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương Nam
bắt dân gian cải cách y phục". Có lẽ vào thời xa xưa đàn bà Việt Nam mặc áo thắt
vạt và mặc váy. Ta đọc đoạn sử sau đây: "Ðến đời Minh Mệnh có lệnh cho đàn bà
đường ngoài phải mặc quần, nhưng chỉ những người giàu sang ở thành thị tuân
theo,chứ ở nhà quê thì đến nay đàn bà cũng vẫn mặc váy." (Việt-Nam Văn-Hóa Sử,
Ðào Duy Anh, trang 173).
Mặc dầu bị ngoại xâm và bị đô hộ lâu dài, nhưng tổ tiên ta vẫn khôn khéo
duy trì một xã hội có kỷ cương, tôn ti trật tự. Cứ nhìn vào trang ph ục và màu sắc
để phân biệt giai tầng trong xã hội. Sách Vũ Trung Tùy Bút chép: "Ðời xưa học trò
và người thường, khi có việc công thì mặc áo xanh lam (thanh cát), lúc thường thì
mặc áo mùi thâm (chuy y), người làm lụng thì mặc áo mùi sừng (quì sắc). Từ đời
Lê về sau thì sắc trắng ít dùng. Cứ trạng thái y phục gần nhất của người nưóc ta thì
các quan hay mặc áo xanh lam, học trò cùng những chức viên, tổng lý và hạ lại
thường dùng mùi sừng và mùi đen, người nhà quê và người làm lụng thì thường
dùng mùi nâu. Người giàu sang thì mặc the lụa gấm vóc, còn người nghèo hèn thì
chỉ dùng vải to vua quan thì có phẩm phục, quân lính thì có nhung phục, thường
dân thì có lễ phục".
Qua các đoạn sử vừa trích dẫn ở trên, ta thấy y phục là một biểu-tượng của
quốc gia dân tộc. Trải qua bao biến thiên của đất nước, chiếc áo dài cũng đã được
11
cải tiến. Vào khoảng thập niên 1930, nhóm văn sĩ trong Tự Lực Văn Ðoàn đã chủ
xướng cuộc cải cách văn hóa, tư tưởng mới cho thế hệ trẻ. Trong nhóm này có hai
họa sĩ du học từ Pháp về, đó là các ông Nguyễn Cát Tường và Lê Phổ, dùng hai tờ
báo Ngày Nay và Phong Hóa. Hai họa-sĩ đã vẽ và chỉnh trang kiểu áo dài phụ nữ
gọi là áo "Le Mur Cát Tường" cổ cao, không có eo. Ông Nguyễn Cát Tường viết
trong tờ Phong Hóa, có đoạn: "Muốn biết nước nào có tiến bộ, có kỷ thuật hay
không? Cứ xem y phục người nước của họ, ta cũng đủ hiểu." (Phong-Hóa số 86,
tháng 2-1934).
Kiểu Le mur được vẽ theo kiểu áo đầm Tây Phương với nối vai và tay
phồng, cổ lá xen, cài khuy trên vai, mặc với quần trắng, đeo bóp, che dù, v. v Sau
đó, họa sĩ Lê Phổ cải tiến áo Le mur và mẫu áo dài này đã được hoan nghênh trong
Hội Chợ Nữ Công Ðà Nẵng. Ðây là một kết hợp giữa áo Le mur và áo tứ thân, rất
gần với chiếc áo dài tân thời ngày nay: nối vai và tay không phồng lên, cổ kín, cài
nút bên phải, thân ôm sát người, hai tà áo mềm mại bay lượn. Áo dài Lê Phổ được
may bằng vải màu, mặc với quần trắng, tóc búi lỏng hay vấn trần hoặc vấn khăn
nhung. Trong suốt gần 30 năm sau đó, chiếc áo dài Việt Nam không thay đổi bao
nhiêu, ngoại trừ cổ áo, gấu áo, và eo áo: cổ áo thì lúc cao, lúc thấp, lúc rộng, lúc
hẹp; gấu áo thì lúc vén cao, lúc hạ thấp; eo áo thì lúc nhỏ, lúc to. Những thay đổi
này đi đôi với những thay đổi nho nhỏ của chiếc quần phụ nữ: chân què qua đáy
giữa, lưng quần thắt giải rút rồi tới giây thung, gài nút, và sau cùng là phẹc-mơ-tuya
(fermeture). Ống quần thì lúc rộng lúc hẹp theo thị hiếu thẩm mỹ của từng giai đoạn
một.
Mãi đến đầu thập niên 1960, nhà may Dung Ðakao ở Sài Gòn đưa ra một
kiểu áo dài mới: áo dài tay raglan mặc với quần xéo. Vì tay áo và thân áo được nối
xéo góc khoảng 45 độ, kiểu áo dài raglan này tránh được những đường nhăn hai
bên nách và vai (so với kiểu áo Lê Phổ). Chiếc quần xéo may bằng vải mềm, được
xếp xéo góc khi cắt, có hông ôm sát người và hai ống lòa xòa dài quá mắt cá chân
12
giúp cho nữ giới có được những bước đi tha thước qua đôi guốc ẩn hiện dưới hai
ống quần.
Sau áo dài raglan là áo dài mini-raglan, vốn là áo raglan may với tà áo cao
gọn ghẽ. Kiểu mini-raglan này được các nữ sinh Sài Gòn ưa chuộng mãi cho đến
ngày 30-4-1975.
Ngày nay áo dài hiện diện trong đời sống thường ngày như một phần tất yếu
của cuộc sống. Chúng ta có thể thấy thấp thoáng áo dài nữ sinh trên đường đi học,
áo dài trong mỗt dịp tết đến xuân về, áo dài của các mẹ, các chị đi chùa, áo dài theo
những người đệp thăng hoa trong những đêm festival hay thi hoa hậu Ở đâu áo
dài cũng mang một hơi thở riêng, một sức sống riêng và một sự quyến rũ riêng.
13
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét