5
Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình
một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.
Nguyên tắc công bằng:
Nguyên tắc này đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia thị trường.
Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những quy
định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các
hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó
.
Nguyên tắc công khai:
Chứng khoán là các hàng hóa trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm tra
trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hóa thông thường mà phải dựa trên cơ
sở các thông tin có liên quan. Vì vậy TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống
công bố thông tin tốt. Theo luật định, các bên phát hành chứng khoán có nghĩa vụ
cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin có liên quan tới tổ chức phát
hành, tới đợt phát hành. Công bố thông tin được tiến hành khi phát hành lần đầu
cũng như theo các chế độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng, Sở Giao dịch Chứng khoán, các công ty chứng khoán và các tổ
chức có liên quan khác.
Nguyên tắc này nhằm bảo vệ người đầu tư, song đồng thời nó cũng hàm ý
rằng, một khi đã được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác thì người đầu
tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình.
Nguyên tắc trung gian:
Theo nguyên tắc này, trên TTCK, các giao dịch được thực hiện thông qua tổ
chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư
thường không mua trực tiếp của các nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát
hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh chứng
khoán, các công ty chứng khoán mua bán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các
khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài
khoản của mình.
Nguyên tắc tập trung:
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
6
TTTCK phải hoạt động trên nguyên tắc tập trung. Các giao dịch chứng
khoán chỉ diễn ra trên Sở Giao dịch Chứng khoán và trên thị trường OTC, có sự
kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức tự quản. Các chứng
khoán, hàng hóa của TTCK là các sản phẩm tài chính cao cấp nên việc giao dịch
chúng đòi hỏi thị trường phải có những cơ sở vật chất nhất định chứ không thể diễn
ra một cách tùy tiện.
1.1.1.5. Chức năng, vai trò của TTCK:
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn
rỗi được họ đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản
xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, TTCK đã có những
tác động quan trọng đối sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thông qua TTCK,
chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho
mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung
của xã hội.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các
cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về
tính chất, thời hạn rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại hàng hóa
phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. Chính vì vậy, TTCK góp phần
đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khóan mà họ
sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh
khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong những đặc tính hấp dẫn của
chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là một yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn
của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả
năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường.
Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
7
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh
một cách tổng hợp chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các
doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra được môi trường
cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công
nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ báo của TTCK phản ảnh động thái của nền kinh tế một cách nhạy
bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền
kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu
cực của nền kinh tế. Vì thế TTCK được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là
một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra
nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng
có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng
đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
1.1.1.6. Phân loại TTCK:
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn:
Căn cứ vào sự luân chuyển của các nguồn vốn thì TTCK được chia thành thị
trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
(i) Thị trường sơ cấp:
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.
Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua
việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành. Thị trường sơ cấp còn được
gọi là thị trường cấp một hay thị trường cạnh tranh.
(ii) Thị trường thứ cấp:
Thị trường là nơi giao dịch các chứng khoán đã đươc phát hành trên thị
trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán
đã phát hành.
Căn cứ vào tính chất tập trung của thị trường
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
8
Căn cứ vào tính chất tập trung của thị trường, TTCK được chia thành thị
trường tập trung và thị trường phi tập trung. Tính chất tập trung ở đây là muốn nói
đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung tại một địa điểm vật chất nào đó.
- Thị trường tập trung: là các Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm Giao
dịch chứng khoán. Tại đây các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, các
lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để
hình thành nên phiên giao dịch chứng khoán. Chỉ có các loại chứng khoán đủ
tiêu chuẩn niêm yết mới được giao dịch tại đây.
- Thị trường phi tập trung (hay còn gọi là thị trường OTC – Over The Counter):
là một thị trường có tổ chức, dành cho những chứng khoán không niêm yết
trên thị trường tập trung. Thị trường OTC không có địa điểm giao dịch chính
thức, thay vào đó các nhà môi giới kết nối các giao dịch qua mạng máy tính
diện rộng giữa các công ty chứng khoán và trung tâm quản lý hệ thống.
1.1.2 Lý thuyết về đầu tư:
Đầu tư chính là sự hi sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy giá
trị trong tương lai (khả năng không chắc chắn). Đầu tư có thể được tài trợ từ nguồn
vốn trong nước gọi là đầu tư trong nước hoặc nguồn vốn đầu tư nước ngoài gọi là
đầu tư nước ngoài (ĐTNN).
ĐTNN là hình thức di chuyển vốn từ nước này sang nước khác để thực hiện
dự án nào đó nhằm mục đích sinh lợi. Vốn đó có thể là vốn của một tổ chức tài
chính quốc tế như IMF, WB, ADB, hoặc là vốn của một chính phủ viện trợ phát
triển chính thức (ODA); vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO); vốn đầu tư tư
nhân (FDI và FII).
Vốn ĐTNN tồn tại ở nhiều dạng khác nhau và được đưa vào nước sở tại dưới
nhiều hình thức khác nhau. Có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức để phân loại ĐTNN
tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ phân loại ĐTNN
theo tiêu thức tính chất tham gia điều hành dự án, bao gồm: đầu tư trực tiếp và đầu
tư gián tiếp, trong đó đi sâu nghiên cứu về đầu tư gián tiếp.
(i) Đầu tư trực tiếp (Foreign Direct Investment – FDI):
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
9
Theo Luật Đầu tư do Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì đầu
tư trực tiếp là “hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý
hoạt động đầu tư”.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp:
- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định
đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lãi lỗ.
Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những
ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên
doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình. Đối với nhiều khu vực, chủ đầu tư chỉ
được thành lập 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ
được tham gia liên doanh với số cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc
bằng 49%; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ.
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được
công nghiệp, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…là những mục
tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được.
- Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư
dưới hình thức vốn pháp định và trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm
cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn
đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
(ii) Đầu tư gián tiếp (Foreign Indirect Investment –FII):
Luật Đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 định
nghĩa về đầu tư gián tiếp như sau: “ Ðầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua
việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng
khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực
tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài có những đặc điểm sau:
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
10
- Phạm vi đầu tư có giới hạn vì các chủ đầu tư nước ngoài chỉ quyết định mua
cổ phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát triển
trong tương lai.
- Số lượng cổ phần mà các nhà đầu tư nước ngoài được mua bị khống chế ở
mức độ nhất định tùy theo quy định của từng quốc gia.
- Chủ đầu tư nước ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh nghiệp, do
đó bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh.
- Tuy doanh nghiệp đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ, kỹ
thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng thay vào đó, doanh nghiệp có khả
năng phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp.
1.1.3 Các hình thức thu hút vốn ĐTNN trên TTCK
1.1.3.1. Phát hành chứng khoán trên TTCK trong nước:
Do tính chất chuyên môn hóa trong mua bán các loại chứng khoán, TTCK
được xem như là cơ sở hạ tầng tài chính để huy động các nguồn vốn đầu tư của các
tổ chức và cá nhân nước ngoài, tạo nên nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn cho nền
kinh tế. Trong vòng những năm gần đây, đầu tư vốn quốc tế đã không còn tập trung
xung quanh các công cụ truyền thống thông qua hệ thống tài chính trung gian nữa.
Thay vào đó, đầu tư vào TTCK đã chiếm tới 80% chu chuyển vốn trên thị trường tài
chính quốc tế, ĐTNN vào các nước đang phát triển thông qua TTCK đang tăng lên
mạnh mẽ.
Hiện nay, trên thế giới có hai xu hướng chủ yếu trong việc mở cửa cho các
NĐTNN tham gia vào TTCK trong nước, đó là:
Xu hướng thứ nhất, thu hút nhiều vốn đầu tư từ khắp nơi trên thế giới bằng
cách cho phép nhà đầu tư được hoạt động kinh doanh chứng khoán mà không có bất
cứ hạn chế nào nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Ở những nước này
người nước ngoài có thể tự do mua bán cổ phiếu và nắm giữ 100% cổ phiếu của các
công ty niêm yết. Luật pháp chứng khoán cũng không phân biệt người cư trú hay
người không cư trú, không yêu cầu dự trữ và không kiểm soát ngoại hối.
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
11
Xu hướng thứ hai, thu hút có kiểm soát luồng vốn đầu tư nước ngoài. Đây là
xu hướng phổ biến ở các nước đang phát triển ở châu Á. Lo ngại nền kinh tế có khả
năng bị chi phối bởi các luồng vốn mạnh, ồ ạt của các NĐTNN chuyên nghiệp, luật
pháp chứng khoán các nước này chỉ cho phép NĐTNN hoạt động hạn chế trên
TTCK bằng cách hạn chế tỷ lệ sở hữu cổ phần trong các các công ty niêm yết và các
công ty chưa niêm yết. Ngoài ra, giao dịch chứng khoán đối với NĐTNN còn bị ràng
buộc bởi các quy định về nơi cư trú, luật ngân hàng và thủ tục mở tài khoản tại các
công ty chứng khoán.
1.1.3.2. Phát hành chứng khoán trên thị trường tài chính quốc tế:
Ưu điểm của phương thức này là huy động vốn trực tiếp, không phải thông
qua các tổ chức tài chính trung gian nên chi phí sử dụng vốn thấp hơn các khoản vay
tín dụng. Người đi vay có thể là doanh nghiệp hoặc chính phủ. Tuy vậy, việc tìm
kiếm vốn trên thị trường tài chính quốc tế vẫn có nhiều khó khăn và thử thách, đặc
biệt là các tiêu chuẩn tín nhiệm của chứng khoán để được chấp nhận giao dịch tại
các thị trường tài chính quốc tế. Chứng khoán của các doanh nghiệp thường khó đạt
được các tiêu chuẩn tín nhiệm nên các loại chứng khoán lưu hành trên thị trường tài
chính quốc tế phổ biến là trái phiếu chính phủ. Ngoài ra, việc phát hành trái phiếu
quốc tế cũng có những hạn chế nhất định. Một mặt, phải tuân thủ các thông lệ quốc
tế, những thủ tục này rất phức tạp, đòi hỏi phải có những bước chuẩn bị kỹ càng;
mặt khác, vấn đề có tính chất bất khả kháng là khi đến hạn nhà phát hành không
được trì hoãn việc thanh toán nợ. Do đó, khi vay nợ, người đi vay phải xây dựng
phương án đầu tư có khả năng sinh lời, đủ sức chịu đựng chi phí sử dụng vốn vay và
tái tạo ngoại tệ, đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai.
1.2. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NĐTNN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
TTCK VIỆT NAM
Sự tham gia của NĐTNN vào thị trường có một ý nghĩa rất quan trọng đối
với sự phát triển của TTCK Việt Nam. Tác động của NĐTNN vào TTCK được thể
hiện rất phong phú ở nhiều khía cạnh, và nói chung đều có những mặt tích cực và
tiêu cực.
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
12
1.2.1. Những tác động tích cực:
- Các NĐTNN tạo ra sự vận động của các dòng vốn đầu tư gián tiếp trên các
TTCK, gắn liền với những biến động diễn ra trong nền kinh tế thế giới. Sự vận
động của các dòng vốn này sẽ góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển hội
nhập và quốc tế hóa TTCK Việt Nam.
- Sự tham gia tích cực của các nhà đầu tư bao gồm cả trong nước và nước
ngoài là nhân tố quan trọng hàng đầu để thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt
Nam. Trong cơ cấu nhà đầu tư thì sự tham gia của NĐTNN đóng vai trò hết sức
quan trọng, bởi vì các NĐTNN có nguồn lực tài chính rất lớn, có kỹ năng và kinh
nghiệm hơn nhà đầu tư trong nước. Giao dịch của NĐTNN trên thị trường sẽ làm
quy mô thị trường được mở rộng, bao gồm cả khối lượng giao dịch, giá trị giao
dịch và giá trị thị trường. Đặc biệt, các tổ chức đầu tư nước ngoài còn là những
nhà đầu tư rất chuyên nghiệp, bài bản, có chiến lược đầu tư dài hạn, giúp cho
TTCK có sự tăng trưởng ổn định. Các giao dịch hàng ngày trên TTCK không
phải lúc nào cũng có mặt các nhà ĐTNN, nhưng một khi các tổ chức đầu tư nước
ngoài vào cuộc thì khối lượng giao dịch của họ lại khá lớn. Với những lợi thế nổi
bật về kinh nghiệm và trình độ phân tích cũng như chính sách đầu tư bài bản, các
nhà ĐTNN tổ chức thường mua chứng khoán với chiến lược lâu dài, chứ không
phải mang tính chất buôn bán nhỏ lẻ kiếm lời thông thường.
- Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) có tác động tích cực đến sự phát triển
của các doanh nghiệp Việt Nam. Nếu như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
thường đưa vào các dự án 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh (trong đó bên
Việt Nam thường chỉ chiếm thiểu số, trung bình khoảng 30%), tuy đóng góp
nhiều cho tổng sản phẩm xã hội, làm tăng kim ngạch xuất khẩu và tạo nhiều việc
làm nhưng lại không có tác động tích cực đến sự phát triển của các doanh nghiệp
Việt Nam; thì vốn FII thường rót vào các doanh nghiệp do người Việt Nam nắm
quyền chi phối về quản lý, có thể giúp các doanh nghiệp trong nước tăng trưởng
nhanh, tiến tới hình thành các tập đoàn đa quốc gia mang thương hiệu Việt Nam
trong tương lai. Đã có nhiều điển hình thành công như Công ty Cổ phần Sữa Việt
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
13
Nam (Vinamilk), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Công ty
Cổ phần Kinh Đô, Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh (REE) - những doanh nghiệp
do người Việt Nam nắm quyền quản lý nhưng có sự tham gia của đông đảo công
chúng đầu tư trong nước và các tổ chức tài chính nước ngoài.
- Như là một tác động tương hỗ, sự hưởng ứng của các NĐTNN bước đầu cũng
có một tác dụng thúc đẩy sự tham gia của các nhà đầu tư trong nước vào TTCK
Việt Nam, một thị trường còn mới mẻ đối với họ. Các nhà đầu tư Việt Nam với
vốn hiểu biết về chứng khoán còn hạn chế hẳn sẽ tin tưởng hơn vào TTCK Việt
Nam khi thấy các NĐTNN tham gia bởi trong mắt họ đó chính là những người
có kinh nghiệm đầu tư chứng khoán, khả năng phân tích dự báo tốt, và rất nhạy
bén đối với các hoạt động đầu tư. Yếu tố tâm lý này rất quan trọng trong việc thu
hút sự chú ý của nhiều nhà đầu tư tiềm năng trong và ngoài nước. Chỉ khi TTCK
gây dựng được lòng tin đối với công chúng, các nhà đầu tư, các công ty trong và
ngoài nước thì TTCK mới có thể phát triển được bởi chính họ là nhân tố để phát
triển thị trường và là những người hưởng lợi từ sự phát triển ấy.
- Với các NĐTNN tham gia vào TTCK Việt Nam, hành trang mà họ mang theo
không chỉ là vốn mà còn cả kiến thức về chứng khoán, kinh nghiệm quản lý kinh
doanh, kỹ năng nghiệp vụ tài chính, kinh nghiệm đầu tư. Đó chính là cái mà các
công ty chứng khoán và các nhà đầu tư cá nhân có thể học hỏi tiếp thu để quản lý
tốt hơn hoạt động kinh doanh chứng khoán cũng như các khoản đầu tư trên thị
trường.
1.2.2. Những tác động tiêu cực:
- Khác với thị trường hàng hóa bình thường, TTCK có tính “lỏng” cao và di
chuyển vốn đầu tư nhanh chóng. Nếu như không có các quy định chế tài phù
hợp, nhạy bén và linh hoạt trong xử lý các vấn đề phát sinh thì sẽ dẫn đến việc
rút vốn ồ ạt ra khỏi thị trường, gây khủng hoảng trên TTCK dẫn đến khủng
hoảng tài chính, kinh tế.
- Mặt khác, cơ chế vận hành của TTCK đã tạo ra môi trường hết sức thuận lợi
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
14
cho hoạt động đầu cơ phát triển. Các nhà đầu cơ thường lợi dụng triệt để các yếu
tố tiêu cực của thị trường CK để khai thác các mặt trái của nó và dẫn đến các
giao dịch chứng khoán không công bằng. TTCK là nơi phản ánh nhanh nhất các
thông tin về kinh tế, một khi TTCK bị chi phối bởi các nhà đầu cơ thì kết quả
thông tin mà TTCK cung cấp sẽ bị xuyên tạc làm mất tính khách quan chính xác
dẫn đến các quyết định sai lầm của người đầu tư và chính điều này làm cho nền
kinh tế của một quốc gia sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Thực tế diễn
ra trên thế giới đã cho thấy, các nước nhỏ, tiềm lực kinh tế còn hạn chế đã trở
nên bất lực trước sự đầu cơ cá nhân của các nhà tài phiệt quốc tế. Các nhà đầu cơ
rất có thể nhảy vào các TTCK nhỏ, có hệ thống kiểm soát chưa cao để thực hiện
đầu cơ và thao túng giá cả trên thị trường, thậm chí làm cho TTCK sụp đổ. Ngoài
ra hoạt động đầu cơ còn dẫn đến khả năng mất giá đồng bản tệ gây ra các hiện
tượng lạm phát trong nền kinh tế mà Chính phủ không thể kiểm soát được.
Thông qua hoạt động đầu cơ, các nhà đầu cơ có thể tiến hành các cuộc thôn tính
công ty làm đảo lộn hoạt động của các công ty mà họ có đủ số phiếu cần thiết để
nắm quyền kiểm soát công ty khiến cho các công ty mất đi định hướng kinh
doanh ban đầu. Từ đó, các nhà đầu cơ có thể gây ra những thay đổi to lớn trong
cơ cấu kinh tế quốc gia làm cho nền kinh tế phát triển không đồng đều và không
toàn diện, có những khu vực kinh tế rất phát triển nhưng lại có các khu vực kinh
tế khác không phát triển, đặc biệt là ở khu vực kinh tế có lợi nhuận thấp, dẫn đến
nền kinh tế phát triển mất cân đối.
- TTCK Việt Nam mới hình thành, việc từng bước mở cửa thu hút các NĐTNN
là xu thế tất yếu của thời đại. Nhưng TTCK nước ta có quy mô rất nhỏ nên nếu
quản lý thị trường không tốt thì các nhà đầu cơ rất dễ thực hiện đầu cơ, lũng đoạn
thị trường, tác động xấu đến TTCK và nền kinh tế. Một trong những ảnh hưởng
nghiêm trọng, đó là sự trói buộc, ảnh hưởng về chính trị khi các nhà đầu cơ nước
ngoài thao túng nền kinh tế.
- Khi niềm tin của các NĐTNN lung lay thì một vài người trong số họ sẽ ngay
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét