Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty quản lý và sửa chữa đường bộ 232

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xem xét phân loại vốn kinh doanh theo nguồn hình thành để giúp
doanh nghiệp có định hướng trong việc lựa chọn hình thức tài trợ phù hợp với
loại hình sở hữu, ngành nghề kinh doanh cũng như quy mô và chiến lược phát
triển của doanh nghiệp.
1.1.2.1 Các nguồn hình thành vốn kinh doanh.
1.1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu.
 Vốn pháp định.
Khi quyết định thành lập doanh nghiệp, mỗi chủ doanh nghiệp cũng cần phải
có một lượng vốn nhất định, theo quy định của pháp luật. Tuỳ theo từng
ngành nghề mà lượng vốn bắt buộc phải có khi thành lập là khác nhau. Vốn
pháp đinh chính là số vốn tối thiểu phải có để thành lập một doanh nghiệp.
Riêng đối với doanh nghiệp Nhà nước thì vốn pháp định chính là vốn do ngân
sách Nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.
 Vốn tự bổ sung.
Lượng vốn này thường xuất phát từ quá trình kinh doanh có lãi, và lợi nhuận
được giữ lại bổ sung vào vốn mà không nộp vào ngân sách. Lợi nhuận sau khi
được phân chia vào các quỹ như quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài
chính… còn lại nộp vào ngân sách Nhà nước hoặc giữ lại bổ sung vào nguồn
vốn, hoặc cũng có thể rút từ các quỹ này bổ sung vào nguồn vốn. Đối với
doanh nghiệp Nhà nước còn được để lại toàn bộ số khấu hao cơ bản tài sản cố
định để đầu tư mới.
1.1.2.1.2 Vốn huy động của doanh nghiệp.
Vốn huy động là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng đối với doanh
nghiệp. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Do vốn chủ
sở hữu không đáp ứng đủ yêu cầu cho sản xuất kinh doanh, nên doanh nghiệp
luôn phải huy động thêm từ các nguồn khác theo các hình thức như vay nợ,
liên doanh, liên kết, phát hành các giấy tờ có giá…
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Vốn vay.
Đây là nguồn bổ sung vốn mà hầu hết các doanh nghiệp đều nghĩ đến
khi cần vốn cho các dự án, cho mở rộng sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp
có thể vay vốn từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế, cá
nhân.
Nguồn vốn vay từ ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập nguồn
vốn cho doanh nghiệp, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cả trong ngắn hạn và dài
hạn.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng cách phát hành
các chứng khoán, việc vay trên thị trường chứng khoán mang lại nhiều ưu
điểm hơn so với đi vay ngân hàng do chi phí thấp hơn. Tại những nền kinh tế
phát triển, thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh
nghiệp trong việc tạo lập nguồn vốn cho doanh nghiệp. Công cụ này đóng vai
trò quan trọng đối với cả nền kinh tế nói chung. Việc phát hành trái phiếu
giúp doanh nghiệp huy động được vốn cho sản xuất kinh doanh, thu hút lượng
tiền nhàn rỗi trong dân cư vào phát triển kinh tế.
 Vốn liên doanh, liên kết.
Hợp tác liên doanh, liên kết cũng là một hình thức giúp doanh nghiệp
tăng cường vốn. Bên liên doanh có thể góp vốn bằng tiền hoặc hiện vật, cả hai
hình thức đều làm tăng vốn cho doanh nghiệp. Việc liên doanh liên kết với
nước ngoài thường gắn với vịêc chuyển giao công nghệ, máy móc thiết bị
nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
 Vốn tín dụng thương mại.
Trong quá trình kinh doanh, hợp tác làm ăn với các đối tác, doanh nghiệp có
thể nhận trước từ khách hàng những khoản tiền trả cho lượng hàng hoá mà họ
mua trong tương lai, hoặc mua chịu từ người bán, do đó khoản tiền đó doanh
nghiệp tạm thời chiếm dụng, và đó chính là tín dụng thương mại. Các khoản
tín dụng này thường có thời gian rất ngắn, và luôn gắn với một luồng hàng
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoá cụ thể, một quan hệ thanh toán cụ thể nên chịu tác động của cơ chế thanh
toán, của chính sách tín dụng khách hàng mà doanh nghiệp được hưởng.
 Thuê vận hành và thuê tài chính.
Bên cạnh vốn tín dụng thương mại, tín dụng thuê mua cũng là hình thức đang
rất phổ biến, đây là phương thức tài trợ mà người mua sẽ trả tiền thuê theo
thời hạn hai bên thoả thuận và được sử dụng tài sản của bên cho thuê. Hình
thức này thường được áp dụng với tài sản là máy móc, thiết bị… có hai
phương thức chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính.
Thuê vận hành là hình thức thuê tài sản ngắn hạn, thời gian thuê tài sản rất
ngắn so với tuổi thọ của tài sản được thuê, và kết thúc thời gian thuê, người
thuê không nhất thiết phải mua lại tài sản. Việc chấm dứt thuê chỉ cần báo
trước trong một thời gian ngắn. Do vậy, các tài sản được đem cho thuê này
thường là những tài sản mà cần thiết đối với nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành
nghề, ví dụ như máy bay, ô tô…Khi thuê vận hành, người thuê chỉ việc trả
tiền theo thoả thuận còn mọi chi phí vận hành tài sản như chi phí bảo hành,
sửa chữa…và mọi rủi ro về hao mòn vô hình tài sản. Hình thức này rất phù
hợp với doanh nghiệp hoạt động mang tính thời vụ.
Ngược lại với thuê vận hành, thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín
dụng trung và dài hạn. Với hình thức này, các điều kiện thuê mua được thoả
thuận ngay từ đầu, và bên cho thuê tài sản sẽ bỏ tiền ra mua tài sản đó và cho
thuê, khi kết thúc hợp đồng, bên thuê sẽ mua lại tài sản đó với giá tượng
trưng. Khác với thuê vận hành, hình thức này thời gian thuê chiếm phần lớn
tuổi thọ của tài sản, các chi phí liên quan đến tài sản như bảo hành, chi phí
sửa chữa, hao mòn đều do bên đi thuê chịu, và bền đi thuê không được phép
tự ý bỏ hợp đồng.
1.1.2.2 Các hình thức biểu hiện của vốn kinh doanh.
Trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vốn kinh doanh
luôn vận động, từ trạng thái này sang trạng thái khác và mục đích vận động
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của vốn kinh doanh là sinh lời. Nghĩa là số vốn kinh doanh được ứng trước
phải được thu hồi một cách đầy đủ và nhiều hơn lượng vốn đã bỏ ra. Vì vậy
xem xét sự vận động của các hình thái tài sản, hiệu quả của vòng quay vốn
kinh doanh để thấy được tầm quan trọng của vốn kinh doanh. Trên cơ sở đó,
vốn kinh doanh được biểu hiện thành vốn cố định và vốn lưu động.
1.1.2.2.1 Vốn cố định
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn cố định được tồn tại dưới
hình thái vật chất là tài sản cố định. Muốn xem xét sự vận động của vốn cố
định ta xem xét sự vận động của tài sản cố định. Mà khi xem xét đến tài sản
cố định ta nên xem xét hai yếu tố cấu thành là tư liệu lao động và đối tượng
lao động. Tư liệu lao động có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào chu kỳ
sản xuất kinh doanh, và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Tài sản cố định
là tư liệu lao động chủ yếu của doanh nghiệp, khi tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh, tài sản cố định vẫn giữ nguyên hình thái vật chất đúng như
tính chất của tư liệu lao động. Tư liệu lao động dù có bị hao mòn nhưng vẫn
giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Các tư liệu này có thể thay thế, đổi mới
khi hỏng hoặc không còn giá trị sử dụng.
Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, giá trị của nó
chuyển dần vào giá trị của sản phẩm theo mức độ hao mòn vật chất của tài
sản cố định. Phần hao mòn này được chuyển dịch vào sản phẩm tạo nên bộ
phận chi phí sản xuất, và sẽ được thu hồi khi tiêu thụ sản phẩm. Tài sản cố
định được sử dụng thường là những tài sản có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên và
có thời hạn sử dụng trên một năm. Để dễ dàng quản lý, người ta thường phân
chia tài sản cố định thành các loại sau:
 Loại tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh:
- Tài sản cố định hữu hình là các tài sản có biểu hiện hình thái vật chất
cụ thể. Gồm các loại như:
+ Nhà cửa, vật kiến trúc.
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất kinh doanh.
+ Phương tiện vận tải truyền dẫn.
+ Thiết bị, dụng cụ quản lý.
+ Vườn cây lâu năm, gia súc làm việc và cho sản phẩm.
+ Các loại tài sản cố định khác.
- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không biểu hiện hình thái vật
chất cụ thể như bản quyền công nghệ, thương hiệu, nhãn mác thương
mại, uy tín… Tuy không thể tính toán ra giá trị cụ thể nhưng tài sản cố
định vô hình giữ vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp.
 Loại tài sản cố định dùng cho an ninh quốc phòng, và các mục đích phúc
lợi.
 Tài sản cố định do doanh nghiệp giữ hộ hoặc bảo quản hộ Nhà nước.
Theo cách phân loại này doanh nghiệp có thể thấy được tầm quan trọng của
các tài sản cố định và có phương hướng đầu tư đúng mục đích, vị trí của nó.
Nếu căn cứ theo tình hình sử dụng, thì tài sản cố định có thể được chia
thành: Tài sản cố định đang sử dụng là loại tài sản cố định đang tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được trích khấu hao. Và loại
tài sản cố định chưa sử dụng là loại tài sản không tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà chỉ nằm trong kho dự trữ.
1.1.2.2.2 Vốn lưu động.
Vốn lưu động chính là số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm
bảo cho quá trình sản xuất được liên tục.
Vốn lưu động có nhiều hình thái khác nhau, có thể là tiền tệ, hoặc hàng hoá
vật tư dự trữ. Tuy nhiên các hình thái này có thể chuyển hoá lẫn nhau, và vốn
lưu động luôn luân chuyển tạo ra vòng quay vốn lưu động.
Để đạt hiệu quả cao nhất cần có chiến lược quản lý vốn lưu động tốt nhất. Do
vậy, doanh nghiệp cần nắm bắt được các thành phần cấu thành vốn lưu động
để đưa ra chiến lược quản lý hiệu quả.
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Căn cứ theo công dụng của tài sản lưu động thì vốn lưu động gồm:
Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất như vật tư, nguyên liệu.
Lượng vốn này chiếm tỷ lệ nhất định trong tổng vốn lưu động, và cũng
luôn biến động theo từng thời điểm. Tùy theo kế hoạch sản xuất kinh
doanh từng giai đoạn mà doanh nghiệp cần có kế hoạch dự trữ khác nhau
để mang lại hiệu quả cao, tránh dự trữ quá nhiều gây ứ đọng vốn, hoặc dự
trữ quá ít để ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh luôn tồn tại một lượng bán thành
phẩm và sản phẩm dở dang, do đó có một lượng vốn lưu động nằm trong
qúa trình sản xuất dưới dạng bán thành phẩm, sản phẩm dở dang.
Căn cứ theo hình thái biểu hiện, vốn lưu động gồm có:
Tiền mặt và chứng khoán có thể bán được. Trong quá trình sản xuất
kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải dự trữ một lượng tiền mặt nhất định
hoặc chứng khoán có tính thanh khoản cao để phục vụ cho nhu cầu thanh
toán.
Bên cạnh đó còn có các khoản phải thu. Các khoản phải thu thường
chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng vốn lưu động, nhất là đối với các doanh
nghiệp trong lĩnh vực xây dựng. Nếu như các khoản phải thu quá lớn, có
thể doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn, vì vậy doanh nghiệp cần cân
đối các khoản này.
Một hình thái biểu hiện khác của vốn lưu động là các khoản dự trữ:
vật tư, hàng hoá…
1.1.3 Vai trò của vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp.
Các yếu tố trên cho thấy tầm quan trọng của vốn kinh doanh đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bất kỳ hoạt động sản xuất
kinh doanh nào của doanh nghiệp cũng cần phải có vốn, tuỳ thuộc vào chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp là lớn hay nhỏ.
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vốn kinh doanh quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh được cung ứng ra để đầu tư tài sản cố định, tài sản lưu động
cho doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh. Nó không chỉ cần cho hình
thành mà còn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của liên tục của
doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh là yếu tố quyết định đến năng suất hoạt động của doanh
nghiệp và ưu thế của doanh nghiệp trên thương trường. Vì vốn kinh doanh có
lớn thì doanh nghiệp mới có khả năng đầu tư cho kế hoạch lâu dài và chiến
lược, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh trên thị trường.
Trong cơ chế thị trường, với sự cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp cần
không ngừng hiện đại hóa công nghệ để theo kịp sự phát triển của khoa học
kỹ thuật. Muốn vậy, doanh nghiệp cần có một lượng vốn đủ lớn. Để thay đổi
một dây chuyền sản xuất, mua mới một công nghệ cho quá trình sản xuất, thì
yêu cầu đầu tiên vẫn là vốn. Doanh nghiệp muốn đầu tư vào một dự án, vốn
vẫn là yêu cầu đầu tiên. Ngay trong sản xuất kinh doanh, để đảm bảo cho việc
tái sản xuất mở rộng thì doanh nghiệp cũng cần phải có vốn, mà lượng vốn đó
chính là lấy từ hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Do đó, vốn để duy
trì hoạt động sản xuất kinh doanh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả để bảo
toàn và phát triển vốn.
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.2.1 Những quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là thước đo độ điều hành, quản lý
hoạt động của doanh nghiệp, được đánh giá bằng hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội. Đối với các doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả xã hội hoặc các
doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế đạt hiệu quả xã hội sẽ là cơ hội
tốt cho doanh nghiệp phát triển, chính điều đó cũng bảo trợ cho các hoạt động
của doanh nghiệp. Có đạt hiệu quả kinh tế mới đảm bảo cho hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lực của doanh nghiệp để tạo ra kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Và
nguồn vốn là nguồn lực kinh tế lớn nhất của doanh nghiệp nên có tác động rất
lớn đến hiệu quả của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu
cầu bắt buộc nếu muốn nâng cao hiệu quả kinh tế. Trên cơ sở đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cao chính là khả năng khai thác vốn kinh
doanh đảm bảo sinh lời lãi cao, đạt được mục đích tăng giá trị chủ sở hữu. Để
lượng hóa hiệu quả sử dụng vốn, người ta sử dụng hệ thống các chỉ tiêu về
khả năng hoạt động và khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn. Nó phản
ánh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
thông qua thước đo tiền tệ, đo chênh lệch giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu
được. kết quả thu được mà càng cao so với chi phí bỏ ra thì có nghĩa là hiệu
quả sản xuất kinh doanh càng cao. Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là
điều kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững mạnh.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cần đảm bảo các điều kiện như:
Phải khai thác nguồn vốn một cách triệt để, không để vốn bị nhàn rỗi và bị
chết. Điều này có nghĩa là tốc độ quay vòng vốn kinh doanh càng cao thì càng
đạt hiệu quả, việc dự trữ hàng hóa, vật tư, nguyên nhiên vật liệu cần lên kế
hoạch cụ thể để có một tỷ lệ hợp lý thì vốn sẽ không bị ứ đọng tại hàng dự
trữ, hoặc tiền mặt tại quỹ.
Quản lý chặt chẽ, tránh thất thoát, hoặc sử dụng sai mục đích. Để quản lý chặt
chẽ, doanh nghiệp cần lên kế hoạch sử dụng cụ thể đối với từng khoản mục,
theo dõi quá trình sử dụng chúng và kết quả đạt được.
Sử dụng vốn kinh doanh một cách có hiệu quả nhất. Đây là vấn đề mà bất cứ
doanh nghiệp nào cũng quan tâm và tìm biện pháp quản lý sử dụng vốn theo
những cách tốt nhất có thể.
Doanh nghiệp luôn phải xem xét hiệu quả sử dụng vốn bằng cách phân
tích đánh giá tình hình một cách thường xuyên để phát hiện những hạn chế và
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
có biện pháp khắc phục kịp thời, đảm bảo cho quản lý, sử dụng vốn đạt hiệu
quả cao.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả vốn kinh doanh
Các chỉ tiêu đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
trong một năm vì vậy chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lời tổng tài sản =
Tổng tài sản
Dùng chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư.
Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu và trình độ
quản lý vốn chủ sở hữu của công ty. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Trên đây là ba chỉ tiêu đánh giá tổng quan về hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh trong doanh nghiệp, những chỉ tiêu này được sử dụng để đầu tư cho các
loại tài sản khác nhau là tài sản cố định và tài sản lưu động. Từ đó khi phân
tích cần xem xét từ các chỉ tiêu tổng quan đến các chỉ tiêu bộ phận.
1.2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ:
Điểm xuất phát để tiến hành kinh doanh là phải có một lượng vốn nhất
định với nguồn tài trợ tương ứng song việc sử dụng vốn như thế nào để có
hiệu quả mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp.
Một số chỉ tiêu được dùng để đánh giá trong phương pháp phân tích tỷ lệ:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng nguyên giá tài sản cố định tham gia vào hoạt
động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu bán hàng. Công thức
tính:
Doanh thu thuần
_Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
NG bình quân TSCĐ cần tính KH

Mức sinh lợi VCĐ, hay mức sinh lợi tài sản cố định:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn cố định bình quân tham gia vào hoạt
động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hay trung bình
một đồng tài sản cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Công thức tính:
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh trước thuế
_Mức sinh lợi TSCĐ =
nguyên giá bình quân TSCĐ
Chỉ tiêu suất hao phí TSCĐ là chỉ tiêu đánh giá về mức tài sản cố định
hao phí để tạo ra một đồng doanh thu thuần.
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Suất hao phí TSCĐ =
Doanh thu thuần
Nếu như mức hao phí càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
Tuy nhiên để theo kịp sự thay đổi không ngừng của thị trường trên mọi
phương diện và tránh lạc hậu, doanh nghiệp cũng phải đổi mới các tài sản cố
định để theo kịp sự thay đổi của khoa học kỹ thuật. Trên cơ sở đó cũng cần
đánh giá tình trạng của tài sản cố định để có biện pháp cho phù hợp. Do đó,
có chỉ tiêu sau:
Giá trị TSCĐ tăng trong kỳ
Hệ số đổi mới TSCĐ =
Giá trị TSCĐ cuối kỳ
Và:
Giá trị tài sản lạc hậu giảm trong kỳ
Hệ số loại bỏ TSCĐ =
Giá trị TSCĐ đầu kỳ
Vũ Diệu Hương – TCDN 44C Khoa Ngân hàng – Tài chính
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét