Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 5
Giá trị ĐTTC trong chỉ tiêu trên bao gồm đầu tư tài chính, góp vốn liên doanh,
đầu tư bất động sản và đầu tư khác. Nếu phân loai theo tính thanh khoản của các
khoản đầu tư thì chia thành: đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn. Nếu phân loại
theo quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với các khoản đầu tư thì đầu tư tài chính
chia thành: đầu tư với tư cách là chủ sở hữu(cổ phiếu, góp vốn), chủ nợ(trái phiếu,
phiếu nợ).
Chỉ tiêu này thể hiện mức độ liên kết tài chính giữa doanh nghiệp với các
doanh nghiệp và tổ chức khác, đánh giá mức độ ảnh hưởng của doanh nghiệp đối
với các doanh nghiệp và tổ chức khác, và cơ hội của các hoạt động tăng trưởng từ
bên ngoài. Mặt khác, chỉ tiêu này phản ảnh trong 100đ tài sản tại doanh nghịêp thì
có bao nhiêu đồng đầu tư ra bên ngoài. Do không phải tát cả các doanh nghiệp đều
có điều kiện tài chính vững mạnh nên việc đầu tư ra bên ngoài thường rất thấp, do
đó mà giá trị chỉ tiêu này thường nhỏ.
- Tỷ trọng hàng tồn kho
Hàng tồn kho
Tỷ trọng hàng tồn kho = x100%
Tổng tài sản
Hàng tồn kho trong chỉ tiêu trên là một khái niệm rộng bao gồm: các loại dữ
trữ cho sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ,
thành phẩm, hàng hoá, sản phẩm dở dang. Hàng tồn kho là một bộ phận tài sản đảm
bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp được tiến hành liên tục. Dự
trữ hàng tồn kho hợp lý là mục tiêu của nhiều doanh nghiệp. Do vậy, mà phân tích
hàng tồn kho qua nhiều kỳ sẽ đánh giá tính hợp lý trong công tác dự trữ của đơn vị.
- Tỷ trọng khoản phải thu khách hàng
Khoản phải thu khách hàng
Tỷ trọng PTKH = X100%
Tổng tài sản
Khoản phải thu khách hàng là một bộ phận tài sản thuộc tài sản lưu động của
doanh nghiệp phát sinh do doanh nghiệp bán chịu hàng hoá, dịch vụ cho khách
hàng. Chỉ tiêu này phản ảnh số vốn kinh doanh của doanh nghiệp đang bị các tổ
chức khác chiếm dụng, số vốn này không có khả năng sinh lời mà còn phát sinh chi
phí nếu không đòi được nợ.
Việc phân tích cấu trúc tài sản bằng các chỉ tiêu cơ bản như trên chỉ cho phép
đánh giá tình hình phân bố tài sản của doanh nghiệp, mặt khác việc sử dụng các tỷ
số trên có những hạn chế: chưa chỉ ra yếu tố nào ảnh hưởng đến sự thay đổi của cấu
trúc tài sản. Cho nên, chúng ta cần thiết kế thêm bảng cân đối kế toán dạng so sánh
Svth: Liên Văn Choang
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 6
để có thể thấy được những biến động bất thường của các tỷ số. Từ đó có bức tranh
đầy đủ, toàn diện về cấu trúc tài sản của doanh nghiệp.
3.3. Một số đề cần chú ý khi phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
- Do đặc điểm của tài sản cố định là tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực sản xuất kinh
doanh nên để đánh giá tính hợp lý trong đầu tư TSCĐ cần xem xét các vấn đề sau:
+ Giá trị tỷ trọng TSCĐ của trung bình nghành.
+ Chính sách và chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đang
trong thời kỳ đầu tư thì giá trị chỉ tiêu này thường cao và ngược lại. Vì thế cần xem
xét chỉ tiêu này trong mối liên hệ với giá trị đầu tư xây dựng cơ bản hoặc các khoản
thanh lí tài sản cố định trong nhiều kì.
+ Do giá trị còn lại của tài sản cố định dùng dể tính toán, nên phương pháp
tính toán có thể ảnh hưởng đến giá trị chỉ tiêu này.
+ Giá trị tài sản cố định trong chỉ tiêu này bao gồm:TSCĐHH, TSCĐVH,
thuê tài chính. Cho nên cần tách riêng từng loại tài sản để đánh giá bởi vì trong nền
kinh tế thị trường giá trị các loại TSCĐVH thường có xu hướng gia tăng.
- Hàng tồn kho tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của
từng loại hình doanh nghiệp. Cho nên, cần xem xét kĩ đặc điểm của từng loại hình
doanh nghiệp để có đánh giá chính xác hơn.
+ Giá trị chỉ tiêu này còn phụ thuộc chính sách dự trữ và tính thời vụ trong
hoạt động kinh doanh. Chẳn hạn do xuất hiện tình trạng khan hiếm vật tư, hàng hoá
nên các quyết định đầu cơ có thể dẫn đến giá trị chỉ tiêu này cao.
+ Giá trị chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào thời kỳ tăng trưởng của
doanh nghiệp. Một doanh nghiệp hoạt động ở thị trường mới bùng nổ và doanh thu
tăng liên tục qua nhiều kỳ, có thể gia tăng dự trữ để đáp ứng nhu cầu nên chỉ tiêu
này có thể cao.
- Khi phân tích giá trị chỉ tiêu tỷ trọng phải thu khách hàng cần chú ý :
+ Phương thức bán hàng của doanh nghiệp. Thông thường, các doanh
nghiệp bán lẻ thu tiền ngay thì giá trị chỉ tiêu này rất thấp. Ngược lại, các doanh
nghiệp bán buôn thì tỷ trọng chỉ tiêu này thường cao.
+ Chính sách tín dụng bán hàng thể hiện qua thời hạn tín dụng và mức
tín dụng cho phép dối với từng khách hàng. Đối với các doanh nghiệp mà kỳ hạn tín
dụng dài và số dư nợ định mức cao thì giá trị chỉ tiêu này cũng cao. Mặt khác, do
phương thức bán hàng là phương thức kích thích tiêu thụ. Vì thế để đánh giá tính
hợp lý của chỉ tiêu này cần đặt nó trong mối liên hệ với doanh thu tiêu thụ trong kỳ.
Svth: Liên Văn Choang
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 7
+ Khả năng quản lý nợ của doanh nghiệp và khả năng thanh toán của
khách hàng cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến giá trị chỉ tiêu này.
4. Phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp
4.1. Khái quát về cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ giữa nợ phải trả
và nguồn vốn chủ sở hữu hay tỷ trọng của nợ phải trả trong tổng nguồn vốn. Cấu
trúc nguồn vốn thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp, liên quan đến nhiều
khía cạnh trong công tác quản trị tài chính của doanh nghiệp. Cấu trúc nguồn vốn
phản ảnh quá trình huy động các nguồn vốn gắn liền với chính sách tài trợ của
doanh nghiệp nhằm đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
4.2. Phân tích tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
Khi phân tích tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, thường sử dụng các
chỉ tiêu cơ bản sau:
-Tỷ suất nợ
Nợ phải trả
Tỷ suất nợ = x100%
Tổng tài sản
Trong chỉ tiêu trên nợ phải trả bao gồm: nợ ngắn hạn, dài hạn và nợ khác. Tỷ
suất nợ phản ảnh mức độ tài trợ các tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ.
Tỷ suất nợ càng cao thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các chủ nợ
càg lớn, tính tự chủ trong việc sử dụng nguồn vốn càng thấp, và khả năng tiếp cận
các khoản nợ vay càng khó một khi doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các
khoản nợ đến hạn và hiệu quả kinh doanh kém.
- Tỷ suất tự tài trợ
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ = x100%
Tổng tài sản
Tỷ suất tự tài trợ thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ
suất này càng cao thể hiện doanh nghiệp có tính tự chủ rất cao về tài chính, ít bị sức
ép của các chủ nợ. Doanh nghiệp càng có cơ hội tiếp cận các khoản tín dụng từ nhà
cung cấp, ngân hàng, nhà đầu tư Đây cũng là một chỉ tiêu để các nhà đầu tư đánh
giá rủi ro và cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này càng cao thì khả năng
thu hồi nợ cao, ít rủi ro và ngược lại. Ngoài hai chỉ tiêu trên, phân tích tính tự chủ
về tài chính còn sử dụng chỉ tiêu tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu.
Svth: Liên Văn Choang
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 8
- Tỷ suất nợ trên VCSH
Nợ phải trả
Tỷ suất nợ trên VCSH = x100%
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này thể hiện mức độ bảo đảm nợ bằng vốn chủ sở hữu. Nếu chỉ tiêu
này càng lớn thì khả năng đảm bảo của vốn chủ sở hữu đối với các khoản nợ càng
thấp, các chủ nợ dễ gặp rủi ro trong việc thu hồi nợ. Tuy nhiên, khi phân tích tính tự
chủ về tài chính cần sử dụng thêm số liệu trung bình nghành hoặc số liệu định mức
của các ngân hàng để đánh giá tính tự chủ về tài chính.
4.3. phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ của doanh nghiệp
Phân tích tính tự chủ về tài chính mới chỉ thể hiện mối quan hệ giữa nợ và
vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp lại quan
tâm đến thời hạn sử dụng từng loại nguồn vốn(tính ổn định của nguồn) và chi phí sử
dụng của nguồn đó. Sự ổn định của nguồn vốn là mối quan tâm khi sử dụng một
loại nguồn tài trợ nào đó. Theo thời hạn sử dụng thì nguồn vốn của doanh nghiệp
chia thành: nguồn vốn thường xuyên(NVTX) và nguồn vốn tạm thời (NVTT).
Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn được doanh nghiệp sử dụng lâu
dài, ổn định vào hoạt động sản xuất kinh doanh, có thời gian sử dụng trên một năm.
Theo cách phân loại này thì nguồn vốn thường xuyên tại một thời điểm bao gồm:
NVCSH và các koản vay nợ trung dài hạn.
Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời gian ngắn, thường là một chu kỳ kinh
doanh hoặc một năm. Theo cách phân loại này thì nguồn vốn tạm thời tại một thời
điểm bao gồm: các khoản phải trả tạm thời, các khoản nợ tín dụng người bán, các
khoản nợ vay ngắn hạn ngân hàng.
Để tiến hành phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ, thường sử dụng các
chỉ tiêu cơ bản sau:
- Tỷ suất nguồn vốn thường xuyên
NVTX
Tỷ suất NVTX = x100%
Tổng nguồn vốn
Hoặc: Tỷ suất nguồn vốn tạm thời
NVTT
Tỷ suất NVTT = x100%
Svth: Liên Văn Choang
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 9
Tổng nguồn vốn
Hai chỉ tiêu này cùng phản ảnh tính ổn định của nguồn tài trợ của doanh
nghiệp, hay trong tổng nguồn vốn thì NVTX chiếm bao nhiêu phần trăm. Tỷ suất
này càng cao chứng tỏ nguồn tài trợ của doanh nghiệp có tính ổn định càng lớn
trong một thời gian dài, và chưa chịu áp lực thanh toán trong ngắn hạn. Ngược lại,
nếu tỷ suất này càng thấp chứng tỏ nguồn tài trợ của doanh nghiệp chủ yếu là nguồn
ngắn hạn và doanh nghiệp chịu áp lực rất lớn trong thanh toán nợ ngắn hạn. Nếu
doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ thì có nguy cơ bị phá sản.
Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hơn về tính ổn định của nguồn tài trợ, chúng ta cần
xem xét thêm chỉ tiêu tỷ suất NVCSH trên NVTX.
Tỷ suất NVCSH/NVTX = NVCSH/ NVTX
Chỉ tiêu này thể hiện trong nguồn vốn thường xuyên mà doanh nghiệp đang sử
dụng thì nguồn vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm. Nếu NVCSH chiếm tỷ
trọng lớn thì cùng với tính ổn định cao thì doanh nghiệp có tính tự chủ rất cao trong
việc sử dụng nguồn này.
5. Phân tích cân bằng tài chính doanh nghiệp
5.1. Khái quát chung về cân bằng tài chính doanh nghiệp
Như ta đã biết cấu trúc tài sản của doanh nghiệp chỉ ra tài sản gồm hai bộ
phận đó là: bộ phận TSCĐ có thời gian chu chuyển trên một năm hay một chu kỳ
sản xuất kinh doanh, và bộ phận TSLĐ có thời gian chu chuyển trong vòng một
năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Cấu trúc nguồn vốn thể hiện tính tự chủ
và tính ổn định của nguồn tài trợ. Mặt khác, do sự vận động của tài sản tách rời với
trách nhiệm pháp lý về thời hạn sử dụng, và gắn liền với chi phí sử dụng vốn. Nên
các nguồn vốn phải được huy động và sử dụng sao cho hợp lý hay nói cách khác
mối quan hệ này thể hiện tính an toàn, bền vững, cân đối trong tài trợ và sử dụng
nguồn vốn của doanh nghiệp. Mối quan hệ này thể hiện cân bằng tài chính doanh
nghiệp. Do đó, cân bằng tài chính là một yêu cầu hết sức cấp bách và thường xuyên
và doanh nghiệp cần phải duy trì cân bằng tài chính để đảm bảo khả năng thanh
toán an toàn và việc sử dụng vốn được hiệu quả hơn.
5.2. Các chỉ tiêu dùng để phân tích cân bằng tài chính doanh nghiệp
5.2.1. Vốn lưu động ròng và phân tích cân bằng tài chính
Vốn lưu động ròng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ TSLĐ & ĐTNH tại
thời điểm lập bảng cân đối kế toán. Có hai phương pháp tính giá trị của VLĐR của
doanh nghiệp.
Svth: Liên Văn Choang
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 10
+Vốn lưu động ròng là chênh lệch giữa NVTX và TSCĐ & ĐTDH
VLĐR = NVTX -TSCĐ& ĐTDH (1)
+ Ngoài ra, vốn lưu động ròng còn được tình là phần chênh lệch giữa giá trị
TSLĐ& ĐTNH với nợ ngắn hạn.
VLĐR =TSLĐ& ĐTNH - Nợ ngắn hạn (2)
Chỉ số cân bằng thứ nhất thể hiện cân bằng giữa nguồn vốn ổn định với
những tài sản có thời gian chu chuyển trên một chu kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này thể
hiện nguồn gốc của vốn lưu dộng hay còn gọi là phân tích bên ngoài về VLĐ. ở
một khía cạnh khác VLĐ thể hiện phương thức tài trợ TSCĐ, tác động lên cân bằng
tài chính tổng thể.
Khác với chỉ số cân bằng thứ nhất, chỉ số cân bằng thứ hai thể hiện rõ cách
thức sử dụng VLĐ. Vốn lưu động phân bổ vào các khoản phải thu, hàng tồn kho,
hay các khoản có tính thanh khoản cao. Nó nhấn mạnh đến tính linh hoạt trong
việc sử dụng vốn ở doanh nghiệp. Chính vì thế mà phân tích cân bằng tài chính theo
hướng này nhấn mạnh đến phân tích bên trong.
Dựa vào cách thức xác định VLĐR là chênh lệch giữa NVTX và TSCĐ
&ĐTDH, có các trường hợp cân bằng tài chính dài hạn sau đây:
Trường hợp một:
VLĐR= NVTX- TSCĐ&ĐTDH<0
Hay
Trong trường hợp này, nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài trợ cho
TSCĐ&ĐTDH, phần thiếu hụt này phải được bù đắp bằng nguồn vốn tạm thời. Cân
bằng tài chính trong trường hợp này là không tốt vì doanh nghiệp luôn phải chịu
Svth: Liên Văn Choang
TSCĐ NVTX
&ĐTDH
TSLĐ
&ĐTNH Nợ ngắn
hạn
NVTX
<1
TSCĐ&ĐTDH
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 11
những áp lực thanh toán trong ngắn hạn. Đây là một cân bằng có độ rủi ro mất khả
năng thanh toán, doanh nghiệp cần có những sự điều chỉnh để tạo ra một sự cân
bằng mới bền vững hơn, an toàn hơn.
Trường hợp hai:
VLĐR=NVTX- TSCĐ&ĐTDH=0
Hay
Trong trường hợp cân bằng này, toàn bộ các khoản TSCĐ&ĐTDH được tài
trợ vừa đủ bằng NVTX. Cân bằng tài chính trong trường hợp tuy có tiến triển hơn
trường hợp trên nhưng độ an toàn chưa cao, vẫn có nguy cơ mất cân bằng.
Trường hợp ba:
VLĐR= NVTX-TSCĐ&ĐTDH>0
Hay
Trong trường hợp này, NVTX không chỉ tài trợ đủ cho TSCĐ& ĐTDH mà
còn một phần dôi ra để tài trợ cho TSLĐ&ĐTNH. Cân bằng tài chính trong trường
hợp này được xem là rất tốt, rất an toàn. Các trường cân bằnh tài chính ở trên chỉ
xem xét VLĐR tại một thời điểm. Nên để đánh giá cân bằng tài chính, chúng ta cần
xem xét nó trong một chuỗi thời gian, nhiều kỳ thì mới có dự đoán đúng về triển
vọng tài chính tương lai. Mặt khác, nghiên cứu VLĐR qua nhiều thời điểm cho
phép loại trừ những sai lệch về số liệu do tính thời vụ trong kinh doanh.
Svth: Liên Văn Choang
TSCĐ NVTX
&ĐTDH
TSLĐ Nợ ngắn
&ĐTNH hạn
NVTX
=1
TSCĐ & ĐTDH
TSCĐ NVTX
&ĐTDH
TSLĐ Nợ ngắn
&ĐTNH hạn
NVTX
>1
TSCĐ & ĐTDH
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 12
Phân tích VLĐR qua nhiều kỳ, có những trường hợp như sau:
+ Nếu VLĐR dương và tăng qua nhiều kỳ, chứng tỏ cân bằng tài chính dài
hạn của công ty rất tốt và rất an toàn. Vì không chỉ TSCĐ &ĐTDH được tài trợ
bằng NVTX mà còn có một phần TSLĐ&ĐTNH cũng được tài trợ bằng NVTX.
Tuy nhiên, chúng ta cần chú ý một điều: Nếu VLĐR dương và tăng liên tục do
thanh lý, nhượng bán TSCĐ làm giảm qui mô TSCĐ, thì chưa thể kết luận gì về
tính an toàn về cân bằng tài chính.
+ Nếu VLĐR âm và giảm qua nhiều kỳ, chứng tỏ cân bằng tài chính dài hạn
của doanh nghiệp rất kém an toàn. Nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài trợ
cho TSCĐ mà phải huy động NVT. Điều này sẽ làm cho doanh nghiệp gặp áp lực
thanh toán trong ngắn hạn và có nguy cơ bị phá sản nếu không thanh toán đúng hạn
và hiệu quả kinh doanh thấp.
+ Nếu VLĐR ổn định qua các năm, chứng tỏ cân bằng tài chính dài hạn của
doanh nghiệp tương đối an toàn và các hoạt động của doanh nghiệp đang trong
trạng thái ổn định. Tuy nhiên, vẫn có nguy cơ mất cân bằng.
5.2.2. Nhu cầu vốn lưu động ròng và phân tích cân bằng tài chính doanh
nghiệp
Các yếu tố thuộc VLĐ có mối quan hệ mật thiết với chu kỳ hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn, số dư các khoản phải thu khách
hàng có mối quan hệ tuyến tính với doanh thu bán hàng. Khi doanh thu bán hàng
tăng thì số dư khoản phải thu cũng gia tăng và điều này càng thể hiện rõ ở những
doanh nghiệp mà tín dụng bán hàng là yếu tố thúc đẩy tiêu thụ. Mặt khác, hoạt động
tiêu thụ cũng làm tăng hàng tồn kho, và hoạt động cung ứng làm gia tăng các khoản
tín dụng từ nhà cung cấp. Do những tác động giữa các yếu tố thuộc TSLĐ mà nhu
cầu vốn lưu động về cơ bản được tính như sau:
Nhu cầu vốn lưu động(NCVLĐ) =HTK +PTKH-Nợ phải trả ngưòi bán
Mặt khác, trong công tác quản trị tài chính chúng ta có thể tận dụng các khoản nợ
ngắn hạn của đơn vị mà không có chi phí: nợ luơng, nợ thuế, BHXH các khoản
tài trợ này sẽ làm giảm bớt NCVLĐR của doanh nghiệp. Từ đó mà chỉ tiêu
NCVLĐR được tính một cách tổng quát như sau:
NCVLĐR =HTK+Nợ phải thu-Nợ ngắn hạn(không kể nợ vay ngân hàng)
Phân tích cân bằng tài chính khi xem xét chỉ tiêu NCVLĐR và chỉ tiêu
VLĐR, có các trường hợp cân bằng tài chính ngắn hạn sau:
Svth: Liên Văn Choang
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 13
+ Nếu VLĐR lớn hơn NCVLĐR: Chênh lệch giữa VLĐR và NCVLĐR gọi
là NQR. Nếu NQR thể hiện một trạng thái cân bằng tài chính rất an toàn vì doanh
nghiệp không phải vay ngắn hạn để bù đắp cho NCVLĐR. Mặt khác, NQR dương
chứng tỏ doanh nghiệp đang có một khoản tiền dôi ra ngoài NCVLĐR và doanh
nghiệp có thể dùng khoản tiền này đầu tư vào các chứng khoán có tính thanh khoản
cao để sinh lời.
+ Nếu VLĐR=NCVLĐR hay NQR= 0. Điều này, chứng tỏ VLĐR của doanh
nghiệp vừa đủ tài trợ cho NCVLĐR, hay toàn bộ các khoản vốn bằng tiền và đầu tư
ngắn hạn được hình thành từ vay ngắn hạn. Đây là một dấu hiệu mất cân bằng tài
chính ngắn hạn.
+ Nếu VLĐR < NCVLĐR hay NQR< 0. Điều này, doanh nghiệp đang trong
tình trạng mất cân bằng tài chính ngắn hạn hay điều này có nghĩa là VLĐR không
đủ tài trợ NCVLĐR buộc doanh nghiệp phải vay ngắn hạn để bù đắp.
6. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp
- Xu hướng phát triển của nền kinh tế hay lĩnh vực mà doanh nghiệp đang
hoạt động có tác động rất lớn đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Nền kinh
tế đang phát triển ổn định và tích cực sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng đầu tư,
cải tiến công nghệ, nhằm tăng cường sức cạnh tranh. Quá trình này đòi hỏi các
doanh nghiệp phải huy động các nguồn vốn thích hợp để thực hiện mục tiêu đề ra.
Trường hợp ngược lại doanh nghiệp thu hẹp hoặc chuyển lĩnh vực hoạt động. Từ đó
sẽ làm thay đổi cấu trúc tài chính của doanh nghiệp.
- Hình thức sở hữu doanh nghiệp : Sự khác nhau về hình thức sở hữu trong
các loại hình doanh nghiệp như: DNNN, DN có vốn đầu tư nước ngoài, DN tư
nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, sẽ bị ràng buộc bởi những qui định pháp lý
về tư cách pháp nhân, điều kiện hoạt động. Vì thế điều kiện và khả năng tiếp nhận
các nguồn tài trợ trên thị trường tài chính là khác nhau đối với mỗi loại hình doanh
nghiệp. Từ đó sẽ làm thay đổi chính sách tài trợ hay cấu trúc tài chính của doanh
nghiệp. Để có thể thực hiện một dự án đầu tư trong tương lai thì đối với công ty cổ
phần, công ty TNHH nhiều thành viên, nhà quản trị có thể huy động các nguồn vốn
thích hợp như: vốn vay nợ từ thị trường tài chính, gia tăng vốn chủ sở hữu bằng
cách phát hành thêm cổ phiếu mới hay gia tăng sự góp vốn của các thành viên hoặc
các cổ đông. Nhưng đối với doanh nghiệp tư nhân thì việc gia tăng VCSH là rất khó
khăn, nên khi có cơ hội đầu tư thì họ sẽ tìm kiếm các nguồn tài trợ từ bên ngoài.
Như vậy, ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có cách thức duy trì một cấu trúc
tài chính hợp lý.
Svth: Liên Văn Choang
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trang 14
- Đặc điểm về cấu trúc tài sản doanh nghiệp: ảnh hưởng của cấu trúc tài sản
đến tỷ suất nợ được thể hiện ở chỗ: TSCĐ vừa có ý nghĩa là vật thế chấp cho các
khoản nợ để giảm thiệt hại cho các chủ nợ khi xảy ra rủi ro, mặt khác các doanh
nghiệp đòi hỏi đầu tư TSCĐ lớn thì rủi ro xảy ra cũng lớn (do tác động của đòn cân
định phí). Vì thế để giảm bớt rủi ro đối với các doanh nghiệp có giá trị TSCĐ lớn
thường nên duy trì tỷ suất nợ thấp.
- Qui mô hoạt động của doanh nghiệp : Những doanh nghiệp đạt được một
qui mô lớn là kết quả của một quá trình hoạt động lâu dài, vì thế tạo được nhiều uy
tín trên thị trường. Mặt khác, tương ứng với qui mô lớn thì có một khả năng tài
chính dồi dào. Do vậy, mà doanh nghiệp có thể huy động vốn dễ dàng từ các tổ
chức tín dụng, thị trường tài chính và các tổ chức khác, từ đó có thể duy trì một tỷ
suất nợ cao.
- Tỷ suất lãi vay nợ: Tỷ suất lãi vay càng cao thì chi phí lãi vay càng lớn làm
hạn chế khả năng vay nợ. Mặt khác, do quan hệ giữa lãi suất vay và hiệu quả kinh
doanh(RE) quy định chiều hướng tác động của đòn bẩy tài chính. Nếu LSV-RE < 0
thì việc gia tăng tỷ suất nợ làm gia tăng ROE và ngược lại .
- Hiệu quả kinh doanh : Hiệu quả kinh doanh càng cao thì lợi nhuận làm ra sau
khi trừ chi phí sử dụng vốn càng lớn. Từ đó làm cho ROE càng lớn. Mặt khác do
quan hệ giữa RE và LSV tác động đến tỷ suất nợ. Nếu RE-LSV >0 thì doanh nghiệp
có xu hướng gia tăng tỷ suất nợ và ngược lại giảm tỷ suất nợ để gia tăng hay hạn
chế tác động khuyếch đại của đòn bẩy tài chính đến ROE.
II. CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH:
1. Khái quát về hiệu quả và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính
Hiệu quả nói chung, kết quả đạt được so với những chi phi đã bỏ ra. Với quan
điểm như trên, chỉ tiêu chung dùng để đánh giá hiệu quả về cơ bản dược tính như
sau:
Đầu vào
K =
Đầu ra
Trong đó, ''Đầu ra'' thường dùng là: giá trị sản xuất, doanh thu, lợi nhuận
''Đầu vào '' thương dùng là: vốn chủ sở hữu, tài sản
Hiệu quả tài chính hay khả năng sinh lời VCSH là khoản thu nhập mà vốn
chủ sở hữu mang lại sau một chu kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này phản ảnh, 100đ
VCSHđầu tư tại doanh nghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Lợi
nhuận xem xét ở đây là lợi nhuận từ ba hoạt động. Hiệu quả tài chính là một chỉ tiêu
Svth: Liên Văn Choang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét