2. Môt số mô hình tổ chức
2.1. Mô hình tổ chức giản đơn
Đây là mô hình tổ chức đơn giản nhất trong tổ chức không hình thành
nên các bộ phận và người lãnh đạo trực tiếp quản lý tất cả các thành viên
trong tổ chức, người lao động được tuyển để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể và
các tổ chức này chủ yếu là các hộ kinh doanh nhỏ, hộ kinh doanh gia đình,
kinh doanh theo kiểu trang trại…
2.2. Mô hình tổ chức theo chức năng
Đây là tổ chức theo chức năng mà trong đó các cá nhân hoạt động trong
cùng một lĩnh vực, chức năng như nhau ( như maketting, nghiên cứu và phát
triển, sản xuất, tài chính, quản lý nguần nhân lực…)
Ưu điểm của mô hình này là: Hiệu quả cao nếu nhiệm vụ có tính tác
nghiệp lặp đi lặp lại hàng ngày, phát huy đầy đủ hơn những ưu thế của chuyên
môn hoá ngành nghề, giữ được sức mạnh uy tín của các chức năng chủ yếu,
đơn giản hoá việc đào tạo, chú trọng hơn đến tiêu chuẩn nghề nghiệp và tư
cách nhân viên, tạo điều kiện cho việc kiểm tra chặt chẽ của các cấp cao nhất.
Nhược điểm của mô hình này là: Thường dẫn đến mâu thuẫn giữa các đơn vị
chức năng khi đề ra các chỉ tiêu chiến lược, thiếu sự phối hợp giữa các hoạt
động phòng ban chức năng, chuyên môn hoá quá mức tạo ra cái nhìn hạn hẹp
ở các cán bộ quản lý , hạn chế việc phát triển đội ngũc cán bộ quản lý chung,
đổ trách nhiệm về vấn đề thực hiện mục tiêu chung của tổ chức cho cấp lãnh
đạo cao nhất
2.3. Mô hình tổ chức theo chiến lược.
Mô hình tổ chức chiến lược được sủ dụng khi mà các mối quan hệ giữa
các bộ phận trong tổ chức trở nên phức tạp làm hạn chế sự phối hợp của các
5
bộ phận thì các nhà lãnh đạo cấp cao sẽ tim cách tạo nên các đơn vị chiến
lược mang tính độc lập cao có thể tự tiến hành các hoạt động về thiết kế, sản
xuất, và phân phối sản phẩm của mình. Các đơn vị chiến lược là các phân hệ
độc lập đảm nhận một hay một số các ngành nghề hoạt động khác nhau, đối
với nhà quản lý họ quan tâm đến sự vận hành của đơn vị trong tổ chức. Người
lãnh đạo các đơn vị tổ chức phải báo cáo với lãnh đạo cao nhất của tổ chức.
Thường thì cơ cấu tập đoàn thường tổ chức đơn vị theo chiến lược với hình
thức đặc biệt nhất là công ty mẹ công ty con.
Ưu điểm của mô hình này là: Xây dựng trên cơ sở phân đoạn các chiến
lược nên đánh giá được vị trí của tổ chức trên thị trường, đối thủ cạnh tranh
và diễn biến của môi trường, hoạt động dựa vào những trung tâm chiến lược
cho phép tiến hành kiểm soát các hoạt động trên một cơ sở chung thống nhất
có những đơn vị đủ độc lập với các mục tiêu rõ ràng điều này làm tăng cường
sự phối hợp bằng phương thức giảm thiểu nhu cầu phối hợp.
Nhược điểm của mô hình này là: Khả năng xuất hiện tình trạng cục bộ,
khi lợi ích của đơn vị chiến lược lấn át lợi ích của toàn tổ chức, chi phí cho cơ
cấu tăng do tính trùng lặp của công việc, những kỹ năng kỹ thuật không được
chuyển giao dễ dàng vì các kỹ thuật gia và chuyên viên bị phân tán trong các
đơn vị chiến lược, công tác quản lý của cấp cao nhất gặp nhiều khó khăn.
Ví dụ:
6
Mô hình tổ chức bộ phận theo đơn vị chiến lược của một ngân hàng lớn
2.4. Mô hình tổ chức theo ma trận
Mô hình tổ chức theo ma trận là sự kết hợp của hai hay nhiều mô hình
tổ chức bộ phận khác nhau, có thể đó là sự kết hợp giữa mô hình tổ chức theo
chức năng kết hợp với mô hình tổ chức theo sản phẩm. Ở đây các cán bộ quản
lý theo chức năng và theo sản phẩm đều có vị thế ngang nhau, họ chịu trách
nhiệm báo cáo cho cùng một cấp lãnh đạo và có thẩm quyền ra quyết định
thuộc lĩnh vực mà họ phụ trách.
Ưu điểm của mô hình này là định hướng theo kết quả hoạt động cuối
cùng, tập trung nguần lực vào khâu xung yếu, kết hợp được năng lực của
nhiều cán bộ quản lý và chuyên gia, tạo điều kiện đáp ứng nhanh chóng
những thay đổi của môi trường.
Nhược điểm của mô hình này là hiện tượng song trùng lãnh đạo dẫn
đến không thống nhất mệnh lệnh, quyền hạn và trách nhiệm của các nhà quản
lý có thể trùng lặp gây ra hiện tượng xung đột, cơ cấu phức tạp và không bền
vững có thể gây tốn kém.
Cách tổ chức theo ma trận có nhiều điều kiện thuận lợi để các tổ chức
có thể áp dụng vì nó là sự kết hợp của nhiều mô hình tổ chức do đó có thể tận
Tổng giám đốc
Ngân
hàng phát
triển đô
thị
Ngân
hàng cho
vay bất
động sản
và thừa
kế
Ngân
hàng hợp
tác xã
Ngân
hàng
nông
nghiệp
7
dụng được các ưu thế khác nhau và có thể linh hoạt, thích nghi trong yếu tố
môi trường thay đổi, yếu tố bất định, điểm mấu chốt để phát huy hết tác dụng
của ma trận là làm rõ mối quan hệ quyền hạn giữa các cán bộ quản lý và cơ
chế phối hợp.
3.Cơ cấu tổ chức theo quan điểm tổng hợp
3.1. Đặc điểm cơ cấu hành chính máy móc
+ Mức độ chuyên môn hoá công việc cao và ổn định
+ Sự chia cắt theo chức năng lớn
+ Nhiều cấp bậc quản lý
+ Mối quan hệ cứng nhắc theo hệ thống thứ bậc, sự chính thức hoá cao,
các kênh truyên đạt được chính thức hoá
+ Quyền hạn ra quyết định có tính tập trung lớn
+ Mức độ phối hợp hạn chế
3.2.Đặc điểm của cơ cấu hữu cơ linh hoạt
+ Mức chuyên môn hoá thấp và tính linh hoạt cao
+ Ít có sự chia cắt theo chức năng
+ Có ít cấp quản lý
+ Quản lý phi tập trung
+ Sự chính thức hóa thấp, các kênh truyền đạt phần nhiều mang tính
không chính thức.
+ Mức độ phối hợp lớn theo chiều dọc và chiều ngang
4. Những yêu cầu, và nguyên tắc đối với tổ chức.
4.1. Những yêu cầu đối với tổ chức.
8
Tổ chức phải có tính thống nhất trong mục tiêu: Một tổ chức muốn có
hiệu quả cao thì cần phải có sự đóng góp công sức của tất cả các cá nhân
trong tổ chức cho mục tiêu chung.
Tổ chức phải có tính tối ưu: Vì trong tổ chức phải có đầy đủ các phân
hệ bộ phận và con người không thể thừa hay thiếu đi một bộ phận nào để thực
hiện các hoạt động của tổ chức. Giữa các bộ phận và cấp tổ chức đều thiêt lập
được những mối quan hệ hợp lý với số cấp nhỏ nhất, qua đó cơ cấu sẽ có tính
năng động cao và luôn hướng theo mục đích chung của tổ chức.
Tổ chức phải có tính tin cập: Tổ chức phải đảm bảo được tính chính
xác, kịp thời, đầy đủ các thông tin được sử dụng trong tổ chức nhờ đó đảm
bảo phối hợp tốt các hoạt động và nhiệm vụ của tổ chức.
Tổ chức phải có tính linh hoạt: Tính linh hoạt được coi là một hệ tĩnh.
Cơ cấu tổ chức phải có khả năng thích ứng linh hoạt với các tình huống xảy ra
cũng như bên trong hay bên ngoài tổ chức.
Tổ chức phải có tính hiệu quả: Cơ cấu tổ chức phải đảm bảo thực hiện
những mục tiêu của tổ chức với chi phí nhỏ nhất.
4.2. Những nguyên tắc đối với tổ chức
Nguyên tắc xác định theo chức năng: Mỗi tổ chức đều có những đơn vị
chức năng riêng để thực hiện những công việc khác nhau trong tổ chức nhưng
giữa các bộ phận cũng có sự liên quan liên kết với nhau dưới nhiều hình thức.
Để có các đơn vị có chức năng thì cần phải thông qua quyêt định của người
lãnh đạo cao nhất trong tổ chức .
Nguyên tắc giao quyền theo kết quả mong muốn: Việc giao quyền là để
cho người quản lý có một công cụ để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Mỗi
9
người được giao một quyền hạn và chức năng, nhiệm vụ riêng trong tổ chức
để thực hiện kế hoạch trong tổ chức.
Nguyên tắc bậc thang: Người có quyền hạn cao nhất trong tổ chức là
người quản lý cao nhất của tổ chức đó và sau là các nhà quản lý cấp thấp hơn
có trách nhiệm phụ tá trợ giúp cho cấp cao hơn, qua đó sẽ tạo ra được sự liên
kết thông suốt trong tổ chức, gắn kết tổ chức thành một khối thống nhất. Sự
phân biệt rõ chức năng quyền hạn giúp cho mỗi nhân viên biết rõ công việc
cần làm trong đúng lĩnh vực của mình
Nguyên tắc thống nhất mệnh lệnh: Khi mà cấp dưới hoàn thành tốt các
chỉ thị của cấp quản lý trên mình thì sẽ là giảm mâu thuẫn trong các chỉ thị từ
cấp cao nhất. Mục tiêu đặt ra trong tổ chức sẽ không bị thực hiện sai lệch mà
sẽ tập trung hơn đỡ tốn thời gian để sửa chữa.
Nguyên tắc quyền hạn theo cấp bậc: Sự phân quyền đòi hỏi các quyết
định trong phạm vi quyền hạn phải được chính người đó đưa ra chứ không
được đẩy lên cấp trên. Qua đó nếu người quản lý muốn giao phó quyền hạn
một cách có hiệu quả thì họ phải đảm bảo rằng việc uỷ quyền đối với cấp
dưới là rõ ràng.
Nguyên tắc tương xứng giữa quyền hạn và trách nhiệm: Trách nhiệm
và quyền hạn phải tương xứng với nhau. Trách nhiệm trong hành động cũng
không thể lớn hơn trách nhiệm về quyền hạn và cũng không thể nhỏ hơn.
Thực tế thì việc giao quyền hạn cũng có tính hai mặt. Nếu quyền hạn và trách
nhiệm được giao đúng người đúng công việc thì sẽ rất tốt song nếu giao
không đúng người và khôn đúng công việc thì sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến
mục đích của người quản lý hay mục đích chung của tổ chức do có thể lạm
dụng quyền hạn hoặc làm không tốt công việc của mình.
10
Nguyên tắc về tính tuyệt đối trong trách nhiệm: Cấp dưới phải chịu
trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ trước cấp trên trực tiếp của mình
khi mà họ chấp nhận sự phân công về quyền hạn và trách nhiệm của mình đối
với công việc. Còn cấp trên không thể không chịu trách nhiệm trước cấp dưới
của mình trong tổ chức.
Nguyên tắc quản lý sự thay đổi: Tổ chức cần đảm bảo tính linh hoạt
cho nên cần đưa vào trong cơ cấu các biện pháp và kỹ thuật để dự đoán và
phản ứng trước những sự thay đổi của các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài của
tổ chức, tạo điều kiện cho tổ chức hoà nhập và phát triển.
Nguyên tắc cân bằng: Là nguyên tắc được áp dụng rất nhiều trong mọi
lĩnh vực khoa học cũng như trong lĩnh vực quản lý. Sự vận dụng các
nguyên tắc hay các biện pháp phải cân đối, căn cứ vào các toàn bộ kết quả của
cơ cấu trong việc đáp ứng các mục tiêu của tổ chức.
5. Một số mô hình cơ cấu tổ chức của các nước
5.1. Mô hình tổ chức và hoạt động quản lý TTCK của Trung Quốc
Chính phủ Trung Quốc thành lập hai sở giao dịch chứng khoán Thượng
Hải và Thâm Quyến vào năm 1990 đã đánh dấu sự ra đời chình thức của
TTCK nước này. Uỷ ban chứng khoán thuộc chính vụ viện (theo tiếng anh
SCSC) cũng được thành lập tạo nên một nền tảng vững chắc cho quá trình
xây dựng một hệ thống giám sát và quản lý đối với TTCK. Chính phủ trung
quốc quyết tâm xây dựng từng bước thị trường tài chính mở cửa, nhưng an
toàn, hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK
Việc thành lập Uỷ ban chứng khoán thuộc chính vụ viện (SCSC) và Uỷ
ban giám quản chứng khoán Trung Quốc (CSRC) đã đánh dấu việc thành lập
cơ quan quản lý cấp quốc gia đầu tiên và được xây dựng theo mô hình 2 cấp:
11
SCSC là cơ quan cấp I, mà thực chất là một uỷ ban quốc hội chịu trách nhiệm
ban hành các chính sách quản lý vĩ mô đối với TTCK và hợp đồng tương lai.
Biên chế tổ chức của SCSC gồm quan chức từ 14 ban, ngành của chính
vụ viện, toà án nhân dân tối cao, và viện kiểm soát nhân dân tối cao. Do là cơ
quan quản lý thống nhất về mặt vĩ mô đối với các TTCK và hợp đồng tương
lai trong nước, SCSC có chức năng nhiệm vụ chủ yếu:
+ Chịu trách nhiệm tổ chức soạn thảo các dự luật và các quy chế về
TTCK, Nghiên cứu và soạn thảo các quy chế và quy định, các chính sách liên
quan đến TTCK.
+ Dự thảo các chương trình phát triển dài hạn và kế hoạch công tác
năm đối với TTCK
+ Hướng dẫn, phối hợp và giám sát các hoạt động liên quan đến
chứng khoán của các bộ, ngành và địa phương.
+ Hướng dẫn, lập kế hoạch và phối hợp các hoạt động liên quan đến
việc thử nghiệm hoạt động của thị trường hợp đồng tương lai.
+ Chấp thuận việc thành lập sở GDCK mới và các quy chế về chứng
khoán và TTCK.
Trong khi đó CSRC Uỷ ban giám quản Trung Quốc- Cơ quan quản lý
cấp II thuộc Quốc vụ viện ( chính phủ ) được thành lập và hoạt động một cách
độc lập như một bộ trong chính phủ. CSRC có nhiệm vụ báo cáo với SCSC,
vì trước hết SCSC là cơ quan cấp I , giám sát các hoạt động của CSRC và thứ
hai CSRC là một bộ phận trong chính phủ có trách nhiệm báo cáo với chính
vụ viện. CSRC là cơ quan điều hành các hoạt động liên quan đến chứng
khoán trên thị trường.
CSRC được giao các chức năng và nhiệm vụ sau đây:
12
+ Dự thảo các quy định và quy chế về các hoạt động CK và TTCK.
+ Giám sát các hoạt động quản lý và phát hành chứng khoán ra công
chúng, niêm yết và giao dịch chứng khoán
+ Giám sát và quản lý công ty chứng khoán, các công ty lưu ký, thanh
toán bù trừ, các quỹ đầu tư, quỹ tương hỗ, các định chế tài chính trung gian…
tham gia vào TTCK
+ Xây dựng các tiêu chí cho việc cấp phép hành nghề kinh doanh
chứng khoán.
+ Thanh tra và giám sát hoạt động của các công ty có chứng khoán
niêm yết trên thị trường tập trung.
+ Quản lý các công ty chứng khoán niêm yết trên TTCK nước ngoài.
+ Giám sát hoạt động của các sở DGCK và hệ thống yết giá tự động
+ Bổ nhiệm và miễn nhiệm chủ tịch các sở GDCK
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do thủ tướng Quốc vụ viện giao.
Nhận xét về cơ cấu tổ chức của Trung Quốc
Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán của Trung Quốc không trực
thuộc Bộ tài chính mà trực thuộc chính vụ viện. Đây là mô hình hai cấp, chức
năng và nhiệm vụ của chính của cơ quan quản lý có sự kiểm tra giám sát chặt
chẽ với nhau. Ngoài ra việc đề ra các chính sách cà các giải pháp phát triển thị
trường được thực hiện thông qua trực tiếp chính vụ viện do đó mà tính chặt
chẽ và tính hiệu quả sẽ cao hơn, mức đọ rủi ro ít hơn. Đây là một mô hình có
thể thấy là cũng rất tốt có thể xem xét chức năng và nhiệm vụ chính của cơ
quan quản lý TTCK Trung Quốc qua đó có thể học tập cách thức tổ chức và
hoạt động quản lý song có chắt lọc để phù hợp với các điều kiện của nền kinh
tế đất nước.
13
5.2 Mô hình tổ chức và hoạt động quản lý TTCK của Hoa Kỳ
Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ (192-1933) do thị trường chứng khoán
Mỹ sụp đổ là một thảm hoạ của nề kinh tế, tài chính xã hội toàn cầu. Qua đó
quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Giao dịch Chứng khoán năm 1934 theo
đó Uỷ ban chứng khoán Hoa kỳ ra đời (SEC) và trở thành một cơ quan hoạt
động độc lập với mô hình tổ chức quản lý như một Bộ trong chính phủ nước
này. Nhiệm cụ chính của SEC là điều hành giám sát việc thực hiện thực thi
các điều luật liên qua đến ngành chứng khoán và đồng thời tiến hành áp dụng
các biện pháp trừng phạt nhằm đảm bảo các văn bản pháp luật liên bang về
TTCK vể chứng khoán được tuân thủ một cách công bằng. Các đạo luật liên
quan đến hoạt động cũng như thẩm quyền của SEC gồm :
+ Đạo luật về chứng khoán năm 1933
+ Đạo luật về giao dịch chứng khoán năm 1934
+ Đạo luật về Công ty cổ phần dịch vụ công năm 1935
+ Đạo luật về hợp đồng tín thác năm 1939
+ Đạo luật về công ty đầu tư năm 1940
+ Đạo luật về công ty tư vấn đầu tư năm 1940
Cơ cấu nhân sự và nhiệm vụ của nhân viên
Đầu tiên là ban lãnh đạo hay chủ tịch của SEC do tổng thống Hoa Kỳ
chỉ định. Nhiệm kỳ của các uỷ viên là 5 năm. Nếu uỷ viên thuộc các đảng
phái chính trị khác nhau thì mỗi đảng có 3 đại diện trong 5 uỷ viên này.
Dưới sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo các nhân viên SEC giám sát việc tuân thủ
các điều lệ của liên bang đưa ra. Đội ngũ nhân viên của SEC chủ yếu là các
luật sư, kế toán, các nhà phân tích tài chính, kỹ sư, nhà kinh tế, và một số
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét