t nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu t
nhân t bản chủ nghĩa về t liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê.
Nếu muốn có cái nhìn đầy đủ hơn về khu vực kinh tế này, chúng ta cần
tìm hiểu thêm về quá trình hình thành và phát triển của khu vực kinh tế t bản t
nhân .
2. Quá trình hình thành và phát triển của khu vực kinh tế t bản t
nhân .
Ngay từ những năm đầu của quá trình hình thành học thuyết của mình,
Mac đã cho rằng chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải trải qua một
thời kỳ quá độ. Thời kỳ này xét về mặt kinh tế sẽ tồn tại đan xen những kết cấu
kinh tế xã hội khác nhau. Thích ứng với thời kỳ đó là nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần với một cơ cấu xã hội nhiều giai cấp, giai tầng có mâu thuẫn
gay gắt về lợi ích kinh tế, song thống nhất trong mục tiêu vận động. Từ đó
chúng ta phải có những thái độ đúng đắn trong nhìn nhận về kinh tế t bản t nhân
và nhận rõ triển vọng phát triển của kinh tế t bản t nhân trong cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần.
Ngay sau khi cách mạng tháng tám 1945 thành công, nhận định về vai trò
của kinh tế t bản t nhân ở Việt Nam lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
tuyên bố "để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nớc nhà thì giới công - th-
ơng phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và
thịnh vợng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp đỡ giới công - thơng
trong cuộc kiến thiết này". Sau khi cuộc kháng chiến 9 năm kết thúc , năm
1951, miền Bắc bớc vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế
theo mô hình kế hoạch hoá tập trung. Kinh tế t bản t nhân bị hạn chế, bị cải tạo
và dần dần bị xoá bỏ vì nó đợc coi là "hàng ngày hàng giờ " đẻ ra chủ nghĩa t
bản nên luôn là đối tợng của cải tạo xã hội chủ nghĩa và không đợc khuyến
khích phát triển. Sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế ở nớc ta, tại Đại hội Đảng VI
với đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, trớc hết
là đổi mới t duy với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói
rõ sự thật", Đảng ta đã thừa nhận "sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế" và "trong
5
nhận thức cũng nh trong hành động, chúng ta cha thực sự thừa nhận cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần ở nớc ta còn tồn tại trong một thời gian tơng đối dài". Theo
đó thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế t bản t nhân bao gồm kinh tế
tiểu sản xuất hàng hoá, tiểu thơng, t sản nhỏ. Tiếp tục thực hiện đờng lối đổi
mới đã đợc đề ra từ Đại hội VI, tại Đại hội Đảng VIII t tởng quan điểm và chủ
trơng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã đợc khẳng định rõ: lấy việc
giải phóng sức sản xuất động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài
cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu qủa kinh tế xã hội,
cải thiện đời sống nhân dân là mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích các
thành phần kinh tế. Kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo cùng các kinh tế khác
góp phần xây dựng nền kinh tế nớc nhà, trong đó kinh tế t bản t nhân đợc xác
định là thành phần kinh tế quan trọng. Với quan niệm đó, trên thực tế, Đảng và
Nhà nớc ta đã cố gắng tạo điều kiện về kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà
đầu t t nhân yên tâm làm ăn lâu dài thông qua việc xúc tiến mạnh mẽ quá trình
lập pháp, tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế thị trờng nhiều thành phần
và kinh tế t bản t nhân nói riêng. Năm 1990 ban hành Luật Công ty và Luật
doanh nghiệp t nhân. Hiến pháp 1992 đã ban hành khẳng định vai trò hợp hiến
của kinh tế t bản t nhân và t bản t nhân. Hiến pháp sửa đổi bổ sung 2001 đã nêu
" doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đợc liên doanh, liên kết với cá
nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nớc theo quy định của pháp luật" và trong
15 năm qua đã liên tục ban hành và hoàn thiện hệ thống luật dân sự, luật kinh tế
và kinh doanh. Đạo luật doanh nghiệp đã đi vào cuộc sống rất nhanh tạo ra bớc
phát triển đột biến của kinh tế t bản t nhân .
Tuy nhiên, không thể phát triển kinh tế t bản t nhân một cách độc lập,
không thể vì các khuyết điểm của mô hình phát triển mạnh các doanh nghiệp
quốc doanh kể cả trong nông nghiệp và trong mọi lĩnh vực thì t nhân hoá hoàn
toàn khu vực doanh nghiệp quốc doanh. Bởi lẽ, trong một số lĩnh vực doanh
nghiệp t nhân không muốn kinh doanh do lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn
lâu hoặc họ không thể làm đợc vì các ngành đó đòi hỏi lợng vốn lớn, trình độ
khoa học công nghệ ví dụ nh xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng (điện, nớc, mạng
6
lới đờng giao thông) phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do đó, để
phát triển đợc nền kinh tế tổng thể đòi hỏi phải phát triển mạnh khu vực doanh
nghiệp quốc doanh để làm đầu tàu cho nền kinh tế,yểm trợ cho các doanh
nghiệp nhỏ của khu vực kinh tế t bản t nhân . Tuy vậy, khu vực doanh nghiệp
Nhà nớc chỉ nên tập trung phát triển các ngành mũi nhọn chứ không phải tập
trung sản xuất kinh doanh tất cả các mặt hàng thuộc các lĩnh vực khác nhau nh
trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp. Trong thời kỳ đó, sự sản xuất dới sự
chỉ đạo chung thống nhất của Nhà nớc thông qua các chỉ tiêu và kế hoạch.
Chính vì thế dẫn đến sự trì trệ, đói nghèo trong một thời gian tơng đối dài sau
khi chúng ta giành đợc độc lập. Để có thể tăng khả năng sáng tạo cũng nh cạnh
tranh của các doanh nghiệp Nhà nớc, Nhà nớc thực hiện chính sách cổ phần hoá
các doanh nghiệp Nhà nớc chính là đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Điều này
khiến cho các doanh nghiệp chủ động kinh doanh với chế độ tự chịu trách
nhiệm bằng lợi ích của chính mình nên phát huy đợc mọi sự sáng tạo trong kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Theo Đại hội IX, khu vực kinh tế t bản t nhân đã đạt bớc mới về hoàn
thiện chính sách, khẳng định cơ cấu kinh tế thị trờng nhiều thành phần định h-
ớng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế t bản t nhân là bộ phận quan trọng. Đại
hội đã khẳng định "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận
cấu thành quan trọng của nền kinh tế định hớng xây dựng chủ nghĩa cùng phát
triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh". Kinh tế cá thể, tiểu chủ đợc xác
định là có vị trí quan trọng lâu dài. Kinh tế t bản t nhân đợc khuyến khích phát
triển thông qua việc tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi về chính sách trên
những định hớng u tiên của Nhà nớc, kể cả đầu t ra nớc ngoài.
Qua đó ta thấy từ Đại hội VI đến nay, nhận thức của Đảng ta về vị trí và
vai trò của kinh tế t bản t nhân trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã
có bớc phát triển mới. Kinh tế t bản t nhân đợc thừa nhận là bộ phận cấu thành
hữu cơ quan trọng của nền kinh tế định hớng xã hội chủ nghĩa phát triển kinh tế
t bản t nhân là vấn đề có tầm chiến lợc lâu dài trong quá trình xây dựng và phát
7
triển nền kinh tế. Không chỉ thay đổi nhận thức Đảng và Nhà nớc còn xây dựng
và hoàn thiện thể chế phù hợp cho sự phát triển nền kinh tế nói chung kinh tế t
bản t nhân nói riêng. Tuy nhiên đây mới chỉ là giai đoạn tìm tòi đổi mới. Về
lâu dài, muốn phát triển khu vực t nhân bền vững và mạnh cần phải có một
chính sách quản lý vĩ mô thích hợp, đặc biệt là chính sách này phải đảm bảo
cho khu vực t nhân có khả năng đạt lợi nhuận khá.
3.Vai trò của khu vực kinh tế t bản t nhân trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
* Kinh tế t bản t nhân đóng góp các nguồn lực vào sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Là một bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế t bản
t nhân đã góp phần khai thác tổng thể các nguồn lực kinh tế quốc gia thông qua
việc huy động nguồn vốn trong xã hội cho đầu t phát triển, đồng thời sử dụng
hiệu quả các nguồn nhân lực, công nghệ. Với vai trò quan trọng trong việc huy
động nguồn vốn trong xã hội cho đầu t phát triển, khu vực t nhân đã huy động
nguồn vốn tăng liên tục trong những năm qua.Theo ớc tính, từ khi luật doanh
nghiệp ra đời tính từ 2000 đến 7/2003, tổng vốn các doanh nghiệp đạt 145.000
tỷ đồng cao gấp 4 lần so với tổng vốn đầu t của doanh nghiệp t nhân 9 năm trớc
cộng lại. Cũng thời gian đó, tỷ trọng vốn đầu t của kinh tế t bản t nhân trong
tổng vốn đầu t tăng lên nhanh chóng từ 20% năm 2000 lên 25% năm 2001, lên
25,3% năm 2002, 27% năm 2003. Với bản tính nhạy cảm trong kinh doanh và
mục đích doanh lợi, kinh tế t bản t nhân luôn tìm cơ hội đầu t, do đó ngoài vốn
tự tích luỹ, các chủ doanh nghiệp t nhân tìm mọi biện pháp linh hoạt và hiệu
quả để huy động vốn từ nhiều nguồn góp phần làm phong phú hoá thị trờng tài
chính và đầu t. Với sự phát triển nhanh chóng và đa dạng, kinh tế t bản t nhân
đã thu đợc một kết quả đáng kể đóng góp vào ngân sách Nhà nớc ngày càng
tăng. Theo số liệu thống kê của Tổng cục thuế, khu vực kinh tế t bản t nhân đã
nộp vào ngân sách năm 2000 là 11003 tỷ đồng, chiếm 16,1% tổng thu ngân
sách, năm 2001 nộp 11075 tỷ đồng chiếm 14,8% tổng thu ngân sách. Ngoài ra,
các doanh nghiệp t nhân còn thực hiện nhiều chơng trình nh đóng góp cho quỹ
8
chất độc màu da cam, quỹ ngời nghèo, ủng hộ cho việc xây dựng các công trình
công cộng nh cầu, đờng, nhà tình nghĩa, trờng học, trạm xá
Lao động là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của nền sản xuất. Vì
vậy, việc giải quyết việc làm không chỉ có ý nghĩa về mặt sử dụng có hiệu quả
nguồn lực xã hội mà luôn là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nớc. Một số thành
công của đờng lối đổi mới trong thời gian qua đang làm thay đổi nhận thức về
thị trờng lao động của nớc ta. Trớc hết đó là quan niệm sức lao động là hàng
hoá cho nên hình thức thể hiện dới dạng "hợp đồng lao động" và đợc pháp luật
đảm bảo thông qua Bộ luật lao động và các cơ quan thực thi. Chính sự tồn tại và
phát triển của kinh tế t bản t nhân đang làm thay đổi cách nghĩ thụ động về việc
làm, việc làm không phải chỉ do Nhà nớc tạo ra cho ngời lao động mà ngời lao
động sẽ tự tạo việc làm, tự kiếm sống và làm giàu. Lao động trớc đây chủ yếu
trong lĩnh vực nông, lâm , ng nghiệp nay dần dần chuyển sang các ngành nghề
khác nh công nghiệp, dịch vụ để từ đó hình thành cơ cấu lao động hợp lý giữa
các ngành, các vùng theo hớng hiện đại, hiệu quả. Trong giai đoạn hiện nay, để
tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp đòi hỏi phải có một lực lợng lao động
có trình độ chuyên môn, có năng lực có phẩm chất. Do đó, phải có chính sách
phù hợp để đào tạo và khuyến khích sử dụng lao động, tránh tình trạng thiếu lao
động giỏi.Kinh tế t bản t nhân không chỉ góp phần giải quyết một lực lợng lớn
lao động thất nghiệp mà còn làm tăng sự lựa chọn cho ngời lao động khi tham
gia thị trờng lao động. Những ngời chuẩn bị tham gia vào thị trờng lao động
việc làm sẽ lựa chọn lĩnh vực và thành phần kinh tế trên cơ sở cân nhắc các yêu
cầu từ doanh nghiệp và khả năng của họ. Còn những ngời đang làm việc tại một
cơ sở sản xuất kinh doanh sẽ có điều kiện di chuyển, thay đổi nơi làm việc một
cách tự do không bị ràng buộc bởi các cơ chế. Nh vậy, tính cạnh tranh trên thị
trờng lao động sẽ gay gắt hơn và chính sự cạnh tranh khiến cho chất lợng lao
động đợc nâng cao. Đồng thời, do kinh tế t bản t nhân có điều kiện đổi mới
công nghệ nhanh nên trình độ kỹ năng của ngời lao động nhanh chóng đợc nâng
cao. Khu vực kinh tế t bản t nhân đã giải quyết việc làm cho 4700742 lao động
chiếm 70% lực lợng lao động xã hội. Nếu tính tỷ lệ thu hút lao động trên vốn
9
đầu t thì kinh tế cá thể thu hút 165 lao động/tỷ đồng vốn, doanh nghiệp t nhân
thu hút 20 lao động/tỷ đồng vốn, trong khi doanh nghiệp Nhà nớc chỉ thu hút
11,5 lao động/tỷ đồng vốn.
* Kinh tế t bản t nhân thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
hợp lý, hiệu quả và hiện đại.
Một trong những nội dung quan trọng của tiến trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Việt Nam là cơ cấu lại nền kinh tế theo hớng tiến bộ về khoa học
và công nghệ nhằm nâng cao nội lực từng bớc hội nhập bình đẳng với hệ thống
kinh tế quốc tế. Trong quá trình đó có sự tham gia tích cực và có hiệu quả của
kinh tế t bản t nhân bằng việc xác lập cơ cấu đầu t cho phù hợp với tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong từng thời kỳ phát triển. Do u thế nổi trội
của các doanh nghiệp t nhân là năng động nhạy bén, linh hoạt trong đầu t kinh
doanh và nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trờng cho nên họ luôn tìm kiếm phát
hiện ngành, lĩnh vực, mặt hàng mà xã hội đang thiếu để có thể đầu t. Theo số
liệu, kinh tế t bản t nhân chiếm đại bộ phận của ngành nông, lâm, ng nghiệp
nh phân vùng chuyên canh, ứng dụng công nghệ sinh học, cơ giới hoá sản xuất,
phát triển công nghiệp, chế biến nông sản, điện khí hoá nông thôn Kinh tế t
nhân còn tham gia đầu t vào các ngành khác nh thơng mại dịch vụ và cả trong
công nghiệp nh công nghiệp may, thực phẩm, sản phẩm từ cao su, da giày
*Kinh tế t bản t nhân góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại,
hiện đại hoá sản xuất.
Với sự phát triển nhanh cả về quy mô và tốc độ của quá trình hội nhập
quốc tế, các phạm trù giao dịch quốc tế ngày càng mở rộng nh giao dịch hàng
hoá, dịch vụ, thông tin, đầu t, tài chính và Việt Nam đang mở rộng cửa hợp
tác kinh doanh quốc tế theo nguyên tắc đa phơng hoá, đa dạng hoá. Kinh tế t
bản t nhân cũng góp phần đáng kể trong công cuộc ấy với việc tạo ra khối lợng
lớn về hàng xuất khẩu ( nông, lâm, thủy, hải sản, hàng thủ công mỹ nghệ), đồng
thời mở rộng khả năng đầu t và là đối tác thu hút các nguồn vốn đầu t từ nớc
ngoài vào Việt Nam, nhập về máy móc thiết bị công nghệ hiện đại để qua đó
tận dụng và phát huy mọi nguồn lực cho sự phát triển kinh tế trong nớc. Việt
10
Nam đang trong quá trình mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, tham gia ngày càng sâu rộng và đầy đủ vào các tổ chức
kinh tế thế giới nh: AFTA, APEC và sắp tới là WTO cho nên không thể thiếu đ-
ợc vai trò của khu vực kinh tế t bản t nhân . Với những thuận lợi vốn có nh linh
hoạt nhạy bén phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng, khu vực này đã mang lại
một nguồn lợi lớn cho đất nớc. Theo ớc tính, năm 2001, khu vực kinh tế t bản t
nhân phi nông nghiệp nhập khẩu trực tiếp 3,336 tỷ USD và xuất khẩu đạt 2,851
tỷ USD. Trong những năm vừa qua, khu vực kinh tế t bản t nhân đóng góp gần
một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc. Trong quá trình hội nhập, kinh
tế t bản t nhân đã liên doanh liên kết với nớc ngoài hoặc làm môi giới với nhiều
hình thức đa dạng và linh hoạt để tạo điều kiện thu hút ngoại lực, tận dụng kinh
nghiệm quản lý cũng nh tiếp thu công nghệ mới cho tiến trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở nớc ta. Thực tế có nhiều Công ty của ngời Việt Nam ở nớc ngoài
đang muốn đầu t về quê hơng. Nếu Nhà nớc có chính sách cởi mở về phát triển
kinh tế t bản t nhân và tạo môi trờng an toàn, tin cậy, hấp dẫn đối với họ thì đây
là một nguồn lực không nhỏ (hiện nay mỗi năm tiền từ nớc ngoài gửi về cho ng-
ời thân ở Việt Nam khoảng 2,7 tỷ USD, phần lớn trong đó là cho đầu t sản xuất
kinh doanh).
11
Chơng II
thực trạng phát triển kinh tế t bản t nhân
ở nớc ta hiện nay
I. Thực trạng phát triển khu vực kinh tế t bản t nhân ở n-
ớc ta trong giai đoạn hiện nay
Cùng với việc ban hành các luật, cơ chế chính sách với biện pháp hỗ trợ,
khuyến khích, khu vực kinh tế t bản t nhân đã phát huy sức mạnh nội tại đầu t
vào nhiều lĩnh vực, địa bàn trên cả nớc. Trong báo cáo tổng kết thực hiện luật
Doanh nghiệp từ 2000 cho đến hết tháng 4/2004 cả nớc có 93.208 doanh nghiệp
đăng ký thành lập mới, gần gấp 2 lần số doanh nghiệp đựơc thành lập trong thời
gian trớc đó (trong 9 năm từ 1991 đến 1999 chỉ có 45000 doanh nghiệp đựơc
thành lập). Nh vậy cho đến nay cả nớc có 138.208 doanh nghiệp đăng ký hoạt
động theo luật doanh nghiệp. Số doanh nghiệp đăng ký trung bình hàng năm
gấp 3,75 lần so với trung bình của những năm trớc 2000.
1. Phát triển khu vực kinh tế t bản t nhân trong thời gian qua từ khi
có chính sách đổi mới
Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc trong 15 năm qua, kinh
tế t bản t nhân tăng nhanh cả về số lợng và đơn vị, vốn kinh doanh và lao động,
phát triển rộng khắp trong cả nớc ở các ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Từ năm 1990 về trớc, số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong cả nớc chỉ có vài
trăm doanh nghiệp đợc chuyển đổi từ các tổ hợp tác, từ các hợp tác xã. Riêng
thành phố Hà Nội có khoảng 30 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ và
sản xuất gia công những sản phẩm phục vụ tiêu dùng nhỏ lẻ trong dân c và phục
vụ các ngành sản xuất khác. ở thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm dân c và
kinh tế lớn ở phía Nam thì số lợng doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhiều hơn
Hà Nội nhng cũng không vợt quá con số 100. Còn ở nhiều tỉnh, thành phố khác
trong cả nớc chỉ có một vài doanh nghiệp, thậm chí có những tỉnh đồng bằng,
trung du và miền núi không có doanh nghiệp t nhân nào. Từ 1991 - 1999 có
12
45.000 doanh nghiệp đăng ký. Và từ 1/1/2000 đến 9/2003, tức là khi luật Doanh
nghiệp có hiệu lực thi hành, thì có 72.601 doanh nghiệp đăng ký đa tổng số
doanh nghiệp t nhân ở Việt Nam đến 9/2003 lên 120.000 doanh nghiệp đăng ký
hoạt động.
Xét về cơ cấu loại hình doanh nghiệp thì tỷ trọng doanh nghiệp t nhân
trong tổng số doanh nghiệp đăng ký giảm từ 64% giai đoạn 1991 - 1999 xuống
còn 34% giai đoạn 2000 - 2004. Trong khi đó, cùng với khoảng thời gian trên,
tỷ trọng Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần tăng từ 36% lên 66%.
Trong 4 năm qua có khoảng 7.165 công ty Cổ phần đăng ký thành lập, gấp 10
lần so với giai đoạn 1991 - 1999. Sự thay đổi về tỷ lệ loại hình doanh nghiệp
mới thành lập cho thấy các nhà đầu t trong nớc đã nhận thức đợc những điểm
lợi và bất lợi của từng loại hình doanh nghiệp nên có xu hớng lựa chọn loại hình
doanh nghiệp hiện đại, tạo cơ sở để doanh nghiệp ổn định, phát triển không hạn
chế về quy mô và thời hạn hoạt động với quản trị nội bộ ngày càng chính quy,
minh bạch hơn. Thực tế nói trên phần nào chứng tỏ các nhà đầu t đã tin tởng
vào đờng lối, luật pháp và cơ chế chính sách, có xu hớng đầu t dài hạn hơn,
công khai hơn và quy mô lớn hơn. Theo Báo cáo của Bộ kế hoạch và đầu t năm
2003, doanh nghiệp t nhân ở nớc ta chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số doanh nghiệp
trong toàn quốc, đóng góp khoảng 26% tổng sản phẩm xã hội, 31% tổng sản l-
ợng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lợng vận chuyển hàng hoá,
tạo ra 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn. Số lợng hộ kinh doanh trong
lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, thơng mại, dịch vụ tăng từ khoảng 0,84 triệu hộ
năm 1990 lên 2,2 triệu hộ năm 1996 và khoảng gần 3 triệu hộ tính đến cuối
năm 2004. Ngoài ra, cả nớc còn có khoảng 130.000 trang trại và trên 10 triệu hộ
nông dân sản xuất hàng hoá, trong đó có khoảng 70.000 trang trại có diện tích
đất trên 2 ha và doanh thu trên 100 triệu đồng/năm. Tính đến tháng 6/2003,
tổng số doanh nghiệp t nhân đăng ký kinh doanh lên tới 12 vạn doanh nghiệp
(cha kể gần 2 triệu hộ kinh doanh cá thể). Trong đó, các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là 17%, xây dựng 14%,
nông nghiệp 14%, trong lĩnh vực dịch vụ là 55%. Ước tính cả năm 2004 có
13
khoảng 35.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký đạt
khoảng 72.000 tỷ đồng. Cũng trong năm này, đã có gần 6.200 doanh nghiệp
đăng ký bổ sung vốn với tổng số vốn bổ sung khoảng 23000 tỷ đồng, tăng 31%
so với vốn đăng ký bổ sung năm 2003. Mức vốn đăng ký trung bình một doanh
nghiệp tăng nhanh từ 570 triệu đồng/1dn thời kỳ 1991 1999 lên 2,015 tỷ đồng
năm 2004.
Điều đáng quan tâm là số lợng vốn huy động đợc qua đăng ký thành lập
mới và mở rộng quy mô doanh nghiệp tăng lên mạnh mẽ. Trong 4 năm, các
doanh nghiệp đã đầu t (gồm cả đăng ký mới và đăng ký bổ sung) đạt trên
182.715 tỷ đồng (tơng đơng khoảng 12,1 tỷ USD, cao hơn số vốn đầu t nớc
ngoài đăng ký trong cùng thời kỳ): trong đó năm 2000 là 1,3 tỷ USD, năm 2001
là 2,3 tỷ USD, năm 2002 là gồm 3 tỷ USD, năm 2003 là khoảng 3,6 tỷ USD và
hết tháng 5/2004 là khoảng 1,8 tỷ USD. Từ năm 2000 - 2003, tỷ trọng vốn đầu
t của khu vực t nhân trong tổng vốn đầu t toàn xã hội tăng lên nhanh chóng: từ
20% năm 2000 lên 25% năm 2001, lên 25,3% năm 2002 và khoảng 27% năm
2003 và khoảng 29% năm 2004. Tỷ trọng đầu t của doanh nghiệp thuộc khu
vực kinh tế t bản t nhân trong tổng nguồn vốn đầu t xã hội đã liên tục tăng và
năm 2004 đã vợt lên hơn hẳn so với tỷ trọng đầu t của doanh nghiệp Nhà nớc.
Tuy nhiên, khu vực này thờng xuyên nằm trong tình trạng khó khăn về vốn,
phần lớn các doanh nghiệp (90%) đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ với số vốn d-
ới 5 tỷ đồng. Số liệu năm 2003 cho thấy, bình quân vốn của một hội phi nông
nghiệp ít hơn 30 triệu đồng, của trang trại là 94 triệu đồng, của một doanh
nghiệp phi nông nghiệp là 3,7 tỷ đồng. Trong khi đó, vốn vay từ các ngân hàng
thơng mại và quỹ hỗ trợ phát triển còn ít và chiếm tỷ trọng thấp, cha đáp ứng đ-
ợc yêu cầu phát triển. Xét theo khu vực tỉnh, thành phố thì vốn đăng ký mới ở
tất cả các tỉnh, thành phố từ năm 2000 đến 7/2003 đều cao hơn so với số vốn
đăng ký thời kỳ 1991 - 1999, trong đó có 33 tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng cao
gấp hơn 4 lần; có 11 tỉnh đạt tốc độ tăng cao gấp 10 lần, thậm chí có những tỉnh
nh: Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hng Yên đạt tốc độ tăng hơn 20 lần. Xét về tỷ
lệ gia tăng, vốn đăng ký mới ở các tỉnh, thành phố phía bắc cũng tăng nhanh
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét