Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY DỊCH VỤ KỸ THUẬT DẦU KHÍ

vận hành bảo dưỡng các công trình dầu khí,dịch vụ cung cấp vật tư thiết bị
dầu khí. công nhân viên chức của Công ty là hình thức trực tiếp để người lao
động tham gia quản lý Công ty. Ngày nay,công ty PTSC được xem là một
trong những công ty hàng đầu của Việt Nam về cung cấp dịch vụ kỹ thuật
dầu khí và cũng là công ty có tên tuổi tạI thi trường khu vực.Với phương
châm đặt lợi ích khách hàng lên hàng đầu,công ty không ngừng nâng cao chất
lượng dịch vụ,tăng cường tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp nhằm
thoả mãn mọi yêu cầu của khách hàng.Các dịch vụ chuyên ngành do công ty
cung cấp luôn đảm bảo chất lượng,tính an toàn cao nhờ áp dụng đồng bộ các
hệ thống quản lý chất lượng ISO,hệ thống HSF,cũng như tuân thủ các quy
định,tiêu chuẩn quốc tế và Việt Nam về chất lượng và an toàn,đáp ứng yêu
cầu rất khắt khe của các khách hàng trong và ngoàI nước.Bên cạnh những
thành tích nổi bật trong hoạt động sane xuất kinh doanh,công ty PTSC cũng là
đơn vị có truyền thống tốt đẹp trong chăm lo,cảI thiện đời sống vật chất tinh
thần cho người lao động trong công ty cũng như các công tác hoạt động xã
hội và từ thiện.Nhờ có những thành tích trên,trong các năm qua công ty PTSC
đã vinh dự đón nhận những phần thưởng do Đảng và nhà nước trao tặng như:
huân chương lao động hạng nhì năm 1995,huân chương lao động hạng nhất
năm 2001 và phần thưởng cao quý khác trao cho tập thể và cá nhân công ty.
Trong những năm tới,công ty PTSC sẽ tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất kỹ
thuật và đào tạo cán bộ chuyên nghiệp hoá nhằm tăng cường chất lượng dịch
vụ gia tăng sức cạnh tranh,phát triển ổn định,bền vững trở thành một công ty
hàng đầu của ngành dầu khí Việt Nam và từng bước vươn ra khu vực và trên
thế giới, đồng thời phấn đấu xây dựng một tập thể PTSC đoàn kết,năng động,
trách nhiệm và chuyên nghiệp.
2.2. Cơ cấu tổ chức, quản lý của PTSC:
Bộ máy điều hành Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí gồm các phòng chức
năng, nghiệp vụ (sau đây gọi tắt là Phòng ) có chức năng giúp việc Giám đốc
5
công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí (sau đây gọi tắt là Giám đốc Công ty) trong
quản lý và điều hành mọi hoạt động của Công ty DVKTDK (sau đây gọi tắt là
Công ty) theo quyết định số 199/BT ngày 16/2/1996 của Bộ trưởng, Chủ
nhiệm văn phòng chính phủ về việc thành lập Công ty DVKTDK trực thuộc
Tổng Công ty dầu khí Việt Nam; Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty
DVKTDK ban hành kèm theo quyết định số 3293/HĐQT ngày 8/12/1995 của
Hội đồng quản trị Tổng Công ty dầu khí Việt Nam.
Các phòng thuộc bộ máy điều hành Công ty chịu sự chỉ đạo trực tiếp của
Giám đốc Công ty. Mỗi phòng có một trưởng phòng, một phó phòng và một
số nhân viên giúp việc. Trưởng phòng do Giám đốc Công ty bổ nhiệm, miễm
nhiệm, khen thưởng và kỷ luật. Trưởng phòng được quan hệ trực tiếp với
Giám đốc Công ty và thủ trưởng các đơn vị cơ sở trực thuộc Công ty.
Cơ cấu tổ chức của PTSC bao gồm:
- Văn phòng công ty gồm có 6 phòng ban là: phòng hành chính tổng hợp,
phòng tổ chức nhân sự, phòng tài chính-kế toán, phòng kinh tế- kế hoạch,
phòng đầu tư và phòng thương mại. Văn phòng công ty đặt tại hà Nội.
- Các chi nhánh gồm có 15 chi nhánh tại các tỉnh thành phố khác nhau
trên cả nước là: Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Hải Phòng, Nam
Định, Đà Nẵng, Thái Bình và Bà Rịa Vũng Tàu.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA PTSC:
6
7
(15 xí nghiệp trực thuộc công ty)
Như vậy bộ máy tổ chức PTSC được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến-
chức năng. Các phòng ban chức năng của bộ máy điều hành có nhiệm vụ tư
vấn, cố vấn, giúp việc cho giám đốc công ty các vấn đề thuộc chức năng
chuyên môn nghiệp vụ của mình; hướng dẫn giúp đỡ bộ phận chức năng của
các đơn vị trực thuộc công ty thực hiện các nhiệm vụ được giao. Tại các đơn
vị trực thuộc đứng đầu đều có các giám đốc, trưởng chi nhánh. Giám đốc xí
nghiệp tàu đồng thời là phó giám đốc công ty. Giám đốc các xí nghiệp và tr-
ưởng chi nhánh có trách nhiệm quản lý, tổ chức hoạt động các công việc được
giao, chịu trách nhiệm báo cáo giám đốc công ty về các hoạt động thuộc phạm
vi của đơn vị. Các xí nghiệp và chi nhánh đều được tổ chức các phòng ban, tổ,
bộ phận theo qui mô và yêu cầu sản xuất kinh doanh bao gồm bộ phận quản
lý điều hành và bộ phận trực tiếp sản xuất. Cơ cấu tổ chức trên giúp cho các
đơn vị thành viên chủ động hơn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh và
phát huy được khả năng, trình độ của nhân viên thuộc các bộ phận chức năng,
nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của toàn công ty.
2.2.1Ban giám đốc gồm:
-Giám đốc công ty đứng đầu bộ máy quản lý công ty, phụ trách chung về
mọi mặt hoạt động của toàn công ty, chỉ đạo trực tiếp về công tác tổ chức, tài
chính kế toán, xuất khẩu lao động của công ty,theo dõi chỉ đạo các chi
nhánh,thay mặt công ty thực hiện nhiệm vụ đối ngoại.
-Hai phó giám đốc:
Một phó giám đốc phụ trách lĩnh vực kinh doanh.
Một phó giám đốc công ty kiêm giám đốc xí nghiệp tàu vì xí nghiệp tàu
là đơn vị quan trọng nhất của công ty.
Hai phó giám đốc giúp tổng giám đốc theo dõi công tác thi đua,tổ chức
quần chúng, đoàn thể, công đoàn,phụ nữ, đoàn thanh niên.
2.2.2.Phòng hành chính tổng hợp:
8
Phòng hành chính tổng hợp có chức năng giúp việc Giám đốc công ty
quản lý, điều hành công tác hành chính tổng hợp của công ty, đảm bảo các
điều kiện cần thiết cho các hoạt động của bộ máy điều hành công ty.
2.2.3. Phòng tổ chức nhân sự:
Phòng tổ chức nhân sự có chức năng giúp việc Giám đốc Công ty quản
lý điều hành công tác tổ chức, nhân sự, lao động tiền lương, đào tạo cán bộ và
công tác bảo vệ, quân sự, an toàn lao động trong toàn Công ty.
2.2.4. Phòng thương mại:
Phòng thương mại có chức năng giúp việc Giám đốc Công ty quản lý,
điều hành công tác thương mại của Công ty.
2.2.5. Phòng kinh tế - kế hoạch:
Phòng kinh tế kế hoạch có chức năng giúp Giám đốc Công ty quản lý,
đIều hành công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh dịch vụ, đầu tư, đổi mới
thiết bị và xây dựng cơ bản.
2.2.6. Phòng tài chính- kế toán:
Phòng tài chính- kế toán có chức năng giúp việc Giám đốc Công ty quản
lý điều hành công tác tài chính, kế toán của công ty.Theo dõi thu chi, công nợ
với khách hàng, lập sổ sách chứng từ, hoá đơn hàng hoá dịch vụ.
Các đơn vị trưc thuộc, giám đốc, phó giám đốc và các phần hành kế toán
cũng có nhiệm vụ và chức năng tương tự.
3. Mối quan hệ giữa PTSC với Tổng công ty dầu khí Việt Nam và
các cấp chính quyền địa phương
Tổng công ty có các quyền đối với Công ty như sau:
- Uỷ nhiệm cho Giám đốc quản lý, điều hành hoạt động của Công ty phù
hợp với điều lệ của Công ty được Tổng công ty phê chuẩn. Giám đốc chịu
trách nhiệm trực tiếp với Tổng công ty về hoạt động của Công ty.
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh cán bộ
trong bộ máy quản lý Công ty và các đơn vị trực thuộc Công ty theo sự phân
9
cấp của Tổng công ty .
- Phê duyệt kế hoạch, kiểm tra thực hiện kế hoạch, quyết toán tài chính,
qui định mức trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi ở Công ty theo qui chế tài
chính của Công ty.
- Trích một phần quỹ khấu hao cơ bản và lợi nhuận sau thuế theo qui chế
tài chính Tổng công ty để thành lập các quỹ tập trung của Tổng công ty dùng
vào mục đích tái đầu tư, thực hiện các dự án đầu tư ở các đơn vị thành viên.
- Phê duyệt các phương án, kế hoạch đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu,
hợp tác liên doanh, thu hồi một phần vốn, chuyển nhợng cổ phần thuộc quyền
quản lý của Tổng công ty do Công ty đang nắm giữ.
- Điều hoà các nguồn tài chính, kể cả ngoại tệ giữa các đơn vị thành viên
nhằm sử dụng vốn có hiệu quả nhất trong toàn Tổng công ty, trên nguyên tắc
phải đảm bảo cho tổng tài sản của Công ty bị rút bớt vốn không được thấp
hơn tổng số nợ cộng với mức vốn điều lệ đẵ đăng ký của Công ty.
- Điều phối nhân lực để thực hiện các nhiệm vụ chung của Tổng công ty
và đảm bảo việc quản lý thống nhất theo qui hoạch, kế hoạch phát triển nhân
lực cho toàn Tổng công ty.
- Phê duyệt kế hoạch lao động, các hình thức trả lương, đơn giá tiền lư-
ơng và các biện pháp bảo đảm đời sống điều kiện lao động cho các cán bộ
công nhân viên của Công ty.
- Quyết định mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi kinh doanh của Công ty theo
chiến lược phát triển chung của Tổng công ty.
- Phê chuẩn điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty trong đó qui định
sự phân cấp cho Giám đốc công ty về: Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp;
Tuyển dụng, khen thưởng, đề bạt, kỷ luật công nhân viên chức; hạn mức tín
dụng (vay, cho vay, mua bán chậm trả); Mua bán tài sản cố định, mua bán cổ
phần của các công ty cổ phần; Mua bán bản quyền phát minh, sáng chế,
chuyển giao công nghệ; Tham gia các đơn vị liên doanh, các hiệp hội kinh tế;
10
Những vấn đề khác có liên quan đến quyền tự chủ của Công ty theo qui định
của luật doanh nghiệp Nhà nước.
- Kiểm tra hoạt động của Công ty và yêu cầu Công ty báo cáo về tình
hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh
Công ty chịu sự quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương các cấp
với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn lãnh thổ và có trách
nhiệm chấp hành các qui định hành chính, các nghĩa vụ đối với chính quyền,
địa phương theo pháp luật; đồng thời chiu sự quản lý của chính quyền địa ph-
ương các cấp với tư cách là các cơ quan được chính phủ phân cấp thực hiện
một số quyền sở hữu với doanh nghiệp Nhà nước.
II. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN VÀ TÀI SẢN CỦA CÔNG TY
DỊCH VỤ KỸ THUẬT DẦU KHÍ
1. Đặc điểm về nguồn vốn và tài sản của PTSC:
Là một doanh nghiệp hoạt động trong ngành dầu khí- một ngành đòi hỏi
phải có một tiềm lực tài chính mạnh mẽ để có thể đầu tư vào các trang thiết bị
hiện đại, do vậy Công ty hiện có một nguồn vốn lớn đầu tư vào hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Công ty thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính trong sản
xuất, kinh doanh phù hợp với luật doanh nghiệp Nhà nước, các luật khác và
qui chế tài chính của Tổng Công ty. Vốn điều lệ của Công ty căn cứ theo kết
quả kiểm kê tài sản do Công ty trực tiếp quản lý và các nguồn vốn khác được
Tổng Công ty giao. Vốn của Công ty gồm: vốn do Công ty trực tiếp quản lý;
vốn góp của Công ty ở các doanh nghiệp khác, trong đó có các liên doanh.
Phần lợi nhuận sau thuế được sử dụng vào việc bổ sung vốn theo qui chế tài
chính của Tổng công ty.
Mỗi khi có sự tăng hoặc giảm vốn, Công ty phải điều chỉnh kịp thời
trong bảng cân đối tài sản và công bố số vốn của Công ty đã được điều chỉnh.
Công ty được thành lập và sử dụng các quỹ để đảm bảo cho quá trình
11
phát triển của Công ty đạt hiêụ quả cao. Các quỹ của Công ty được thành lập
theo qui chế tài chính của Tổng công ty bao gồm:
Quỹ đầu tư phát triển: được lập từ nguồn vốn khấu hao cơ bản và trích
lợi nhuận theo qui định của Bộ tài chính, lợi tức thu được từ phần vốn góp của
Công ty ở các doanh nghiệp và các nguồn khác.
Quỹ dự trữ tài chính, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được trích lập theo
hướng dẫn của Bộ tài chính. Các mức trích lập, trích nộp cụ thể cho các quỹ
nói trên và việc sử dụng các quỹ này được thực hiện theo qui chế tài chính
của Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Công ty hoạt động trên nguyên tắc tự chủ về tài chính, tự cân đối các
khoản thu chi, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển các nguồn vốn của Công
ty, kể cả phần vốn góp vào các doanh nghiệp khác. Công ty chịu trách nhiệm
thanh toán các khoản nợ ghi trong bảng cân đối tài sản của Công ty và các
cam kết tài chính khác nếu có. Công ty thực hiện kiểm tra giám sát các hoạt
động tài chính của các đơn vị trực thuộc Công ty.
Mọi quan hệ tín dụng (vay, cho vay, mua bán hàng chậm trả, bảo lãnh)
giữa Công ty với những đối tác bên ngoài Công ty phải tuân theo những
nguyên tắc sau:
- Mức tín dụng tương đương với 15% vốn điều lệ trở xuống cho 1 lần
vay do Công ty cân nhắc và quyết định sau đó báo cáo Tổng giám đốc Tổng
Công ty.
- Mức tín dụng tương đương với 15% vốn điều lệ trở lên cho 1 lần vay
và mọi khoản vay (trừ vay vốn lưu động) của đơn vị phải trình Tổng giám đốc
Tổng công ty phê duyệt.
Tình hình về tài sản và thu nhập của Công ty được thể hiện qua bảng sau
12
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn và tài sản
( Đơn vị: tỷ đồng)
Chỉ tiêu 2002 Tỷ trọng
(%)
2003 Tỷ trọng
(%)
2004 Tỷ trọng
(%)
A. Tài sản
1064 100 1021 100 1524 100
- TSLĐ
604 56,79 699 68,41 594 39,01
- TSCĐ
459 43,21 322 31,59 929 60,99
B. Nguồn vốn
1064 100 1021 100 1524 100
- Nợ phải trả
477 44,86 541 53,01 936 61,44
- Vốn chủ sở hữu
586
55,14
480
46,99
587
38,56
C. VCSH/Nợ phải
trả
1,229 0,886 0,627
( Nguồn: phòng tài chính- kế toán)
Như vậy ta thấy công ty có một nguồn lực tài chính vững mạnh và có qui
mô lớn. Số vốn của Công ty năm 2003 có giảm so với năm 2002 nhưng đến
năm 2004 thì đã tăng lên khá nhiều và hiện nay vốn của công ty là 1524,726
tỷ đồng. Đây là một số vốn lớn mà không phải một doanh nghiệp Nhà nước
nào cũng có được. Các nguồn vốn cân đối đầu tư vào tài sản cố định phù hợp,
chính điều đó giúp cho công ty ngày càng phát triển.
Từ tỷ trọng vốn chủ sở hữu/nợ phải trải qua các năm cho thấy doanh
nghiệp sử dụng nợ ngày càng nhiều. Tốc độ tăng của nợ nhanh hơn so với tốc
độ tăng của vốn chủ sở hữu. Điều đó cũng cho thấy khả năng chiếm dụng vốn
của doanh nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên việc tăng sử dụng nợ lại có mặt hạn chế
đó là làm giảm các khả năng thanh toán của công ty.
Trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, năm 2003 tài sản lưu động
chiếm tỷ trọng cao nhất là 68,41%. Ngược lại, năm 2003 tài sản cố định lại
chiếm tỷ trọng thấp nhất trong 3 năm, chỉ chiếm 31,58% trong tổng tài sản.
Năm 2002 là năm mà công ty có sự cân đối nhất giữa tỷ trọng tài sản lưu
13
động và tài sản cố định (tài sản lưu động chiếm 56,79% còn tài sản cố định
chiếm 43,21% tổng tài sản). Năm 2004 công ty có sự tăng mạnh tài sản cố
định. Nguyên nhân là do doanh nghiệp mua thêm nhiều thiết bị, công cụ, tàu
thuyền để phục vụ cho việc kinh doanh của công ty. Năm 2004 tỷ trọng tài
sản cố định trong tổng tài sản chiếm tới 60,99% và do vậy tỷ trọng tài sản lưu
động chỉ còn chiếm 39,01%, thấp nhất trong 3 năm. Việc tăng tài sản cố định
cũng là nguyên nhân làm tăng tổng tài sản của công ty vào năm 2004. Điều
này một lần nữa cho thấy quy mô lớn của công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí.
Đối với cơ cấu nguồn vốn của công ty thì tỷ trọng nợ phải trả và vốn chủ
sở hữu trên tổng nguồn vốn ở 2 năm 2002 và 2003 là khá đều nhau. Năm
2002 tỷ trọng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn là 44,86% và
55,14% còn năm 2003 tỷ trọng này là 53,01% và 46,99%. Sang năm 2004 thì
tỷ trọng nợ phải trả tăng cao, chiếm 61,44% tổng nguồn vốn. Nguyên nhân là
do trong năm này công ty tăng sử dụng tài sản cố định nên công ty phải tăng
cường huy động vốn bằng cách sử dụng nợ vay.
2.Kết luận:
Trong 3 năm (2002 – 2004) nhìn chung tình hình tài chính của công ty
dịch vụ kỹ thuật dầu khí tương đối ổn định. Điều đó thể hiện những cố gắng
của Công ty trong quá trình hoạt động của mình.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét