LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”.
Hay như Luật Ngân hàng của Ấn Độ năm 1959 đã nêu: “ Ngân hàng là cơ sở
nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư” Những định
nghĩa như trên là căn cứ vào tính chất và mục đích hoạt động của NHTM .
Một loại định nghĩa khác lại căn cứ vào sự kết hợp giữa tính chất, mục
đích với đối tượng hoạt động như: Luật Ngân hàng của Đan Mạch ban hành
năm 1930 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những nhà băng thực hiện
các nghiệp vụ thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng
bạc, hành nghề thương mại và các giá trị đĩa ốc, các phương tiện tín dụng và
hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuỷên ngân, đứng ra bảo hiểm ”.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa
NHTM, nó tuỳ thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng
lãnh thổ nhưng khi đi sâu phân tích, khai thác nội dung của từng định nghĩa
đó, người ta dễ dàng nhận thấy rằng: Tất cả các NHTM đều có chung một
tính chất đó là việc nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn,
để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh
khác của chính Ngân hàng.
Từ thực tiễn đó, để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động các
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển chung của nền kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ
chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh. Theo điều 20 Luật các Tổ
chức tín dụng của Việt nam ban hành 02/ 1997/QH 10 đã nêu: “Ngân hàng
thương mại là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và
các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch
5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín
dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”.
Theo như khái niệm trên thì NHTM sẽ hoạt động kinh doanh như một
một doanh nghiệp thực thụ, có hoạch toán thu chi, có tính đến hiệu quả
hoạt động kinh doanh và luôn tìm mọi cách tối đa hoá lợi nhuận. Tuy nhiên
nếu xét về chức năng và tính đặc thù thì giữa NHTM và doanh nghiệp kinh
doanh thông thường lại có sự khác biệt lớn, đó là: NHTM là doanh nghiệp
kinh doanh đồng vốn, tức là Ngân hàng vừa là người tiêu thụ đồng vốn vừa
là người cung cấp đồng vốn.
Ngày nay, trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt
động của các tổ chức tài chính là môi giới trên thị trường tài chính ngày càng
phát triển cả về số lượng và quy mô, đa dạng và phong phú, hoạt động đan
xen lẫn nhau. Tuy nhiên sự khác biệt giữa NHTM với các tổ chức môi giới
tài chính khác ở chỗ NHTM là Ngân hàng kinh doanh tiền gửi (chủ yếu là
tiền gửi không kỳ hạn) và chính từ hoạt động đó đã tạo cơ hội cho NHTM có
thể tăng bội số tiền gửi của khách hàng trong hệ thống Ngân hàng của mình.
Đó là đặc trưng cơ bản để phân biệt NHTM với các doanh nghiệp và các tổ
chức tín dụng khác.
1.2. Đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM.
Như trên đã trình bày, Thị trường tài chính là địa điểm tham gia hoạt
động kinh doanh của các tổ chức kinh doanh tiền tệ , chúng là những tổ chức
môi giới tài chính, hoạt động của chúng đã tạo ra những kênh, những luồng
chu chuyển những khoản tiền tiết kiệm tích luỹ được trong nhân dân đến tay
những nhà sản xuất kinh doanh có nhu cầu chi tiêu cho đầu tư. Nhưng giữa
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
chúng lại có sự khác nhau về tính chất cũng như về đối tượng và phương
thức tiến hành kinh doanh. Sự khác biệt đó có thể là do nhiều nguyên nhân
khác nhau như : sự khác biệt về lịch sử; sự khác biệt về chế độ kinh tế
nhưng tóm lại chúng đều là những sản phẩm của thể chế tài chính của mỗi
nước.
Ngân hàng thương mại ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển
của hoạt động kinh doanh tiền gửi. Từ chỗ chỉ đơn thuần làm dịch vụ nhận
tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ bảo quản tiền gửi cho chủ sở hữu và
sau đó là nhận được các khoản thù lao dưới dạng hoa hồng, hoạt động của
nó giống như một tiệm cầm đồ. Cho đến nay, NHTM đã trở thành một chủ
thể kinh doanh tiền gửi, nghĩa là NHTM vừa tiến hành huy động tiền gửi
(không những miễn bỏ các khoản phí, các khoản thù lao mà còn trả thêm
tiền dưới dạng trả lãi tiền gửi cho khách hàng gửi tiền) vừa sử dụng các
khoản tiền huy động được đó để làm vốn cho vay, vốn đầu tư nhằm tối đa
hoá các khoản lợi nhuận thu được.
Trong khi thực hiện vai trò trung gian tài chính, đảm trách việc
chuyển vốn nhàn rỗi từ dân cư, từ người cho vay sang người đi vay, các
NHTM đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền mặt làm
phương tiện thanh toán, trong đó điển hình là tài khoản tiền gửi không kỳ
hạn thanh toán bằng séc, đây là một trong những công cụ chủ yếu để tiền
vận động qua Ngân hàng và là cơ sở để NHTM tạo ra số nhân tiền gửi. Do
đó hoạt động của NHTM gắn bó mật thiết với hoạt động lưu thông tiền tệ và
hệ thống thanh toán trong nước cũng như hoạt động thanh toán quốc tế .
7
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
Ngày nay, NHTM và cơ cấu hoạt động của nó đã và đang chiếm giữ
vai trò quan trọng trong thể chế tài chính của mỗi nước, là công cụ điều tiết
vĩ mô nền kinh tế không thể thiếu của Nhà nước. Hơn nữa hoạt động của
NHTM ngày càng đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, có thể nói
Ngân hàng đã đi sâu vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời
sống con người, trong khi đó các tổ chức tài chính khác thường hoạt động
trên phạm vi hẹp và theo hướng chuyên sâu.
1.3. Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế .
1.3.1. Chu chuyển và cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Vốn được hình thành từ quá trình tích tụ tập trung, từ việc tích luỹ,
tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và cả Nhà nước trong nền kinh tế.
Để có nhiều vốn thì nhất thiết phải tăng thu nhập quốc dân và giảm chi tiêu
dùng nhằm tạo ra một khoản tích luỹ đủ lớn để tiếp tục đầu tư tái mở rộng
sản xuất. Mặt khác, để tăng thu nhập quốc dân tức là phải mở rộng quy mô
sản xuất kinh doanh hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong
nền kinh tế thì cần phải có vốn, ngược lại khi tất cả các ngành hay nền kinh
tế phát triển sẽ lại tạo ra nhiều nguồn vốn.
NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh. NHTM đứng ra thu gom tất cả các nguồn vốn nhàn rỗi trong
nền kinh tế từ các cá nhân, tổ chức như : vốn tạm thời được giải phóng ra từ
quá trình sản xuất, vốn từ nguồn tiết kiệm của dân cư, các nguồn vốn được
sử dụng chuyên cho vay lấy lãi tạo nên một khoản vốn đủ lớn cung cấp
cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái
sản xuất. Như vậy, nhờ có hoạt động của hệ thống NHTM mà các doanh
nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, từng
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
bước tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và quan trọng hơn
cả là đáp ứng tốt nhất nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.
1.3.2. NHTM là công cụ đièu tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM với tư cách là trung tâm tièn tệ
của toàn bộ nền kinh tế, đảm bảo sự phát tiển hài hoà cho tất cả các thành
phần kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể nói mỗi sự
giao động của Ngân hàng đều gây ảnh hưởng ít nhiều đến các thành phần
kinh tế khác. Do vậy sự hoạt động có hiệu quả của NHTM thông qua các
nghiệp vụ kinh doanh của nó thực sự là công cụ tốt để Nhà nứơc tiến hành
điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng
trong
hệ thống, NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng
trong lưu thông. Mặt khác với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay
vốn, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia
vốn của thị trường, điều kiển chúng một cách có hiệu quả, bảo đảm cung cấp
đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất cũng như thực thi vai
trò điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế.
1.3.3. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính thế giới.
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với việc
hình thành hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm
cho các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng được mở rộng, nhu cầu giao
lưu kinh tế xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và
cấp bách hơn bao giờ hết. Hơn nữa, việc phát triển kinh tế của mỗi nước lại
9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu
thành nên sự phát triển đó. Do vậy, để đảm bảo cho sự phát triển hài hoà thì
nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà chung với nền tài chính quốc tế.
NHTM cùng với các hoạt động kinh doanh của mình đóng một vai trò
vô cùng quan trọng trong sự hoà chung đó. Thật vậy với các nghiệp vụ kinh
doanh như: nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh và đặc biệt là nghiệp vụ thanh
toán quốc tế, Ngân hàng đã tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương
không ngừng được mở rộng và phát triển. Mặt khác cũng với các nghiệp vụ
kinh doanh quốc tế của mình, các NHTM trong nước đã thiết lập được mối
quan hệ làm ăn chặt chẽ với các NHTM nước ngoài, từ đó điều tiết nền tài
chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
Như vậy, trong điều kiện ngày nay, sự phát triển kinh tế của mỗi nước
luôn gắn liền với sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới, phá vỡ sự tồn
tại của nền kinh tế “đóng” nhường bước cho nền kinh tế “mở”. Đối với các
nước đang phát triển nói chung và Việt nam nói riêng, NHTM đã và đang
chiếm giữ vai trò quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, trở
thành một bộ phận không thể thiếu thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thông
qua các khoản tín dụng Ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất
kinh doanh, tăng năng suất lao động, phục vụ đúng hướng cho sự nghiệp
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Có thể nói, NHTM không chỉ là
“bà đỡ” cho nền sản xuất hàng hoá mà còn là cái “bơm” luôn điều hoà vốn
tới mọi thành phần trong nền kinh tế.
2. Các nghiệp vụ vủa NHTM.
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
NHTM hiện đại hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ tài
sản nợ (nghiệp vụ huy động vốn); nghiệp vụ tài sản có (nghiệp vụ cho vay)
và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ Ngân hàng như: dịch vụ tư vấn, thanh toán
hộ, giữ hộ Ba nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy
nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM,
các nghiệp vụ này đan xem lẫn nhau trong quá trình hoạt động của Ngân
hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh
của NHTM.
2.1. Nghiệp vụ tài sản nợ.
Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh
doanh của NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:
Nghiệp vụ tiền gửi:
Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động Ngân hàng nhận các khoản tiền
gửi từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài
sản mà từ đó NHTM có thể huy động được. Ngoài ra NHTM cũng có thể
huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình được gửi
vào ngân hàng với mục đích bảo quản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.
Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá:
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn
có tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư,
khả năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào
nền kinh tế. Hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro
và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh.
Nghiệp vụ đi vay:
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục
đích tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên
thị trường tiền tệ và vay Ngân hàng nhà nước dưới các hình thức tái chiết
khấu hay vay có đảm bảo Trong đó các khoản vay từ Ngân hàng nhà nước
chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi
mà nó không tự cân đối được nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ.
Nghiệp vụ huy động vốn khác:
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể
tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác
vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là khoản vốn huy
động không thường xuyên của NHTM, thường để nhận được khoản vốn này
đòi hỏi các Ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm
đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.
Vốn tự có của NHTM :
Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Lượng vốn này chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý
bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn
định, ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị
cơ sở vật chất, nhà xưởng, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho bản thân
ngân hàng, cho vay, đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Trong
thực tế khoản vốn này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh
doanh của bản thân Ngân hàng mang lại.
2.2. Nghiệp vụ tài sản có.
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các
mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm
lợi nhuận. Nghiệp vụ tài sản có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:
Nghiệp vụ ngân quỹ:
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào
với mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng
như khả năng thanh toán nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ
bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước đề ra.
Nghiệp vụ cho vay:
Đây có thể nói là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong hoạt động quản
lý tài sản có của NHTM. Nghiệp vụ này đóng góp phần lớn lợi nhuận trong
quá trình hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng. Thông qua nghiệp vụ
này mà Ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng ngắn, trung và dài hạn cho
các thành phần trong nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Nghiệp vụ đầu tư tài chính:
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động
được từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế
dưới các hình thức như : hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị
trường và trực tiếp thu lợi nhuận trên các khoản đầu tư đó.
2.3. Nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản được nêu trên, trong hoạt động kinh
doanh, các NHTM còn tiến hành các hoạt động kinh doanh khác trên thị
trường như : kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và đá quý, thực hiện dịch vụ tư
vấn, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý trong hoạt động cung ứng
13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN TIÊN PHONG -
TC 40B
chứng khoán ra thị trường và hàng loạt những dịch vụ khác liên quan đến
hoạt động ngân hàng như : dịch vụ bảo quản giấy tờ có giá, dịch vụ cho thuê
két sắt, dịch vụ cầm đồ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá
đặc biệt là trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động thu - chi hộ,
chuyển tiền qua Ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển. Các
Ngân hàng đã không ngừng áp dụng những tiến bộ, thành tựu khoa học công
nghệ, kết hợp với uy tín kinh doanh của ngân hàng làm cho nghiệp vụ này
ngày càng được thay đổi về chất.
II. VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM.
1.Vốn và vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.1.Khái niện và đặc điểm vốn kinh doanh của NHTM .
Khi nói đến thuật ngữ “Trung gian tài chính” người ta thường hay
nghĩ tới hai loại hình tổ chức cơ bản đó là: các tổ chức nhận tiền gửi (bao
gồm các Ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay) và các
trung gian đầu tư (bao gồm các công ty tài chính, các quỹ tương trợ, các
công ty bảo hiểm ). Nhưng cho dù có được hiểu thế nào đi chăng nữa thì
NHTM, xét về khối lượng tài sản cũng như những đóng góp đối với nền
kinh tế, vẫn luôn giữ một vai trò quan trọng. Các NHTM có thể được tổ
chức theo nhiều loại hình khác nhau, chẳng hạn như Ngân hàng tư nhân,
Ngân hàng cổ phần, Ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng liên doanh.
Dưới bất kỳ hình thức nào, các NHTM vẫn luôn đặt mục tiêu tìm kiếm lợi
nhuận lên hàng đầu và để làm được điều đó, công cụ duy nhất mà các Ngân
hàng phải có đó là vốn.
Các nhà kinh tế đưa ra định nghĩa về vốn của NHTM như sau:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét