ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
biệt là những biến động có tính bước ngoặt trong sự phát triển thường diễn
ra mạnh mẽ và nhanh, do đó cũng tác động tới nhận thức và thông qua đó
tác động tới nhu cầu của con người mạnh hơn, nhanh hơn. Điều này làm
cho quá trình phát triển nhu cầu của người dân Hà Nội có tính năng động
hơn so với quá trình phát triển tĩnh tại ở người dân nông thôn.
Như vậy, nếu nhìn từ góc độ chung nhất, thì nhu cầu của cư dân đô
thị nói chung và Hà Nội nói riêng khác với nhu cầu của cư dân nông thôn ở
mức độ, nhịp độ phát triển nhu cầu và đối tượng thoả mãn nhu cầu.
Cụ thể, khi nền kinh tế phát triển , việc ăn no không còn là nhu cầu
nữa mà xuất hiện các đòi hỏi mới. Đó là các nhu cầu: ăn có chất lượng, ăn
ngon, ăn hợp khẩu vị. Đấy là chỉ xét riêng về nhu cầu sinh lý. Xét toàn bộ
sự biến đổi của hệ thống nhu cầu thì biến đổi nhu cầu sinh lý là điều mà
chúng ta nhận thấy rõ nhất.
Một mặt, các điều kiện kinh tế phát triển đã phá vỡ tập quán ăn uống truyền
thống nâng cao mức tiêu dùng của nó. Mặt khác cùng với chính sách mở
cửa của nên kinh tế thị trường, dưới tác động của thông tin nhiều chiều,
những quan niệm sưa của người dân “ăn chắc”, “mặc bền” đã và đang được
thay thế bằng những nhận thức mới mẻ, khoa học, tiến bộ và văn minh hơn.
Ngày nay quan niệm ăn tốt, ăn đủ chất đảm bảo sức khoẻ tạo ra thế hệ
tương lai khoẻ mạnh hơn, đẹp hơn, thông minh hơn đã trở nên phổ biến
trong nhân dân. Điều này thể hiện rõ nét nhất qua việc quan sát sự chăm
sóc của các gia đình cho bữa ăn của con cái họ. Người nào cũng vậy, gia
đình nào cũng thế từ công nhân đến chi thức, từ người có thu nhập thấp đến
người có thu nhập cao ai ai cũng tìm đến loại thức ăn giàu chất dinh dưỡng,
cố nài ép trẻ dùng cho bằng được.
Do tính chất vận hành của cơ chế thị trường thời gian nhàn rỗi của
mỗi người dân trở nên hiếm hoi hơn nhằm tiết kiệm thời gian giảm bớt sự
nhọc nhằn do công việc nội trợ đem lại, ngày nay nhu cầu về các loại thức
ăn có sẵn như sữa, thịt, trứng … ngày một tăng.
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
5
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
Việc nắm bắt được các đặc điểm nhu cầu tiêu dùng của cư dân Hà
Nội sẽ giúp cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm sữa
tươi hoạch định ra các chương trình chính sách Maketing phù hợp với đặc
điểm của nhu cầu ngày càng tăng đó.
2. Những khuynh hướng mới trong tiêu dùng.
Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật và mức sống của nhân dân
đã từng bước được nâng cao, trong xã hội ngày nay người dân càng có
nhiều đòi hỏi mới về tiêu dùng. Người tiêu dùng từ chỗ phải tranh mua
trong cơ chế bao cấp, nay có điều kiện để chọn mua và có tiền dự trữ để
chờ mua.
Cạnh tranh diễn ra gay gắt về chủng loại, mẫu mã hàng hoá mới và
nhiều. Các doanh nghiệp đều cố gắng tạo ra sản phẩm mới, chủng loại mới,
kiểu dáng mới để chiếm lĩnh thị trường.
Cơ cấu trong tiêu dùng cũng biến đổi. Xu hướng sức mua của người
dân đang toàn diện, tốc độ tăng toàn diện, tốc độ tăng về dùng lớn hơn về
mặc, nhu cầu đồ dùng cao cấp lâu bền tăng lên nhiều. Thói quen tiêu dùng
có xu hướng giản tiện, lao động gia đình dần dần có xu thế xã hội hoá,
những hàng hoá nào giảm nhẹ được lao động gia đình thì rất được hoan
nghênh.
Sức mua tăng lên cao, tâm lý tung tiền mua hàng giự trữ không còn
nữa, tâm lý lựa chọn, so sánh khi mua hàng tăng lên mạng mẽ.
Trong xã hội ngày nay, khi đời sống cơ bản nói chung đã được đáp
ứng, một số bộ phận dân cư có thu nhập cao chạy theo hàng hàng hoá chất
lượng cao, tinh xảo, và chú trọng về hàng háo tinh thần.
Khuynh hướng nữa là: chú ý đến sức khoẻ. Trong xã hội ngày nay,
không chỉ có người già mà thanh niên, trung niên cũng coi trọng, cuộc
sống, giữ gìn sức khoẻ, cho nên trên thị trường xuất hiện nhiều đồ ăn thức
uống tăng cường dinh dưỡng
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
6
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
Những khuynh hướng tiêu dùng này là một cơ hội kinh doanh trong
các doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh sữa tươi, để nắm
bắt được các khuynh hướng tiêu dùng mới sẽ giúp cho các doanh nghiệp
sản xuất định hướng sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng: Những công ty thành đạt là những công ty có thể nhận thức và đáp
ứng một cách có lời những nhu cầu và xu hướng chưa được thoả mãn.
Phân tích các đối thủ cạnh tranh trên thị trường sản xuất sữa tươi ở Hà Nội.
Sự phong phú và đa dạng của thị trường sữa Hà Nội.
Cùng với sự phát triển về kinh tế, mọi người cũng quan tâm nhiều
hơn đến sức khoẻ để bổ sung nguồn dinh dưỡng thích ứng với những biến
đổi trong cuộc sống. Sữa chĩnh là một trong những nguồn dinh dưỡng
mang lại cho người tiêu dùng sự sảng lhoái, ngon miệng và bổ dưỡng. đặc
biệt giúp cho cơ thể phát triển chiều cao, tăng cường sức khoẻ, giúp cho cơ
thể khoẻ mạnh cứng cáp về xương.
Hiện nay, các loại sữa trên thị trường rất đa dạng và phong phú. Thống kê
sơ bộ cho thấy hơn 1000 nhãn hiệu khác nhau và hầu như mọi nhãn hiệu
này đều được quảng cáo rất hấp dẫn.
Một thực tế là, nếu bạn đến một cửa hàng bán lẻ hay một siêu thị nào
đó, có lẽ ít nhất một lần nào đó bạn phải đứng tần ngần trước hàng nghìn
loại sữa với các nhãn hiệu sữa, bao gói thuộc các chủng loại sản phẩm khác
nhau. Để chọn mua một loại sữa cho mình. Việc chọn mua một sản phẩm
phù hợp cũng là một vấn đề cần được nói đến.
Thứ nhất, xét về chủng loại hàng hoá. Trên thị trượng có rất nhiều
loại sữa dành cho các lứa tuổi khác nhau. Nhóm đâù tiên là nhóm sữa dành
cho trẻ dưới một tuổi, nhóm sữa bày có thể thay thế cho sữa mẹ khi không
có sữa. Nhóm sữa này hiện có khoảng 30 nhãn hiệu như: Similac,
Lactogen1, Guizo1, Pelargen …
Nhóm hai là nhóm sữa dành cho trẻ trên một tuổi và người lớn. Đó là
các loịa sữa bột nguyên kem hay còn gọi là sữa bột béo. Nhóm này hiện
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
7
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
nay khá phong phú với hơn 20 loại Gain, Lactum, Dumex, Cô gái Hà Lan,
Vitalac…
Nhóm thứ ba là nhóm dnàh cho nhu cầu đặc biệt như nhóm sữa
không chứa đường Lactose không chứa chất béo hay không chứa Protein,
sữa bò.
Nhóm thứ tư là nhóm sữa tươi. nhóm này cũng vô cùng đa dạng. Bao
gồm sữa sữa tươi nguyên kem có đường và không đường, sữa tươi tuyệt
trùng, sữa tươi thanh trùng có đương và không đường… những loại sữa
tươi này được sản xuất từ nhiều công ty khác nhau, ngoài ra còn có các loại
sữa chua, sữa đặc có đường…
Thứ hai xét về nhãn hiệu, bao gói. Gần đây, bao bì đã trở thành công
cụ Maketing đắc lực bao bì thiết kế tốt có thể tạo ra giá trị thuận tiện cho
người tiêu dùng và giá trị khuyến mãi cho người sản xuất. Do đó, các
doanh nghiệp đã rất cố gắng để đưa ra các mẫu mã bao bì không chỉ có tác
dụng bảo vệ bảo quản mà còn là công cụ truyền thông hữu hiệu. Chỉ nói
riêng về sản phẩm của Vinamilk thôi cũng có nhiều kiểu bao gói với hình
thức bắt mắt như: hộp sắt, hộp nhựa, bịch giấy … với các loại kích thước to
hỏ khác nhau đáp ứng nhu cầu từng đối tượng khấch hàng.
Ví dụ: sữa tươi tiệt trùng Vinamilk các loại: có đường, không đường, vị
dâu, vị ca cao được đóng gói trong bao bì hộp giấy, bịch bằng màng phức
hợp với nhiều kích cỡ tiện dụng, dễ vận chuyển.
Trên thị trường có hơn 1.000 nhãn hiệu sữa các loại. ứng với mỗi
nhãn hiệu, các doanh nghiệp muốn gửi gắm trong đó rất nhiều ý nghĩa.
Hình ảnh bao gói, nhãn hiệu ngoài việc thể hiện những thuộc tính của sản
phẩm, những lợi ích mà khách hàng sẽ nhận được khi sử dụng sản phẩm,
nó còn phác hoạ cả một nhân cách của người sử dụng.những nhãn hiệu nổi
tiếng là những nhãn hiệu đã thành công trong việc chuyển tải thông điệp tới
khách hàng.
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
8
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
Ví dụ: nói đến Enlene, người ta nghĩ ngay đến một loại sữa cung cấp nhiều
canxi.
Đứng trước sự phong phú về chủng loại, nhãn hiệu của sản phẩm
như vậy, khách hàng sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hơn. và họ chỉ lựa chọn
những sản phẩm không những thoả mãn họ bằng chất lượng, giá cả mà còn
tạo cho họ cảm giác thoải mái khi sử dụng sản phẩm. Các doanh nghiệp chỉ
có thể tạo được uy tín trong tâm trí khách hàng khi họ thoả mãn khách hàng
một cách tốt hơn đối thủ. Đặc biệt, trong bối cảnh công nghệ hiện đại, do
vậy sản phẩm của các doanh nghiệp có chất lượng tương đương nhau, cuộc
cạnh tranh diễn ra càng gay gắt khốc liệt hơn.
Phân tích cạnh tranh trên thị trường sản xuất sữa tươi.
Cạnh tranh là đặc trưng cơ bản của thị trường. Có thể nói, thị trường
trên một hoặc một đoạn thị trường có vô số các doanh nghiệp cũng kinh
doanh vì thế cạnh tranh là một hiện tượng không thể tránh khỏi là vũ đài
cạnh tranh, là nơi diễn ra các cuộc chiến của các đối thủ. Có thể chia cạnh
tranh thị trường ra làm ba loại:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua
- Cạnh tranh giữa người mua với nhau
- Cạnh tranh giữa những người bán (doanh nghiệp)
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau là cuộc cạnh tranh chính trên
thương trường, đồng thời cũng là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất, có ý nghĩa
sống còn với các chủ doanh nghiệp
Thực chất của cạnh tranh giữa các nhà sản xuất là sự giành giật các
lợi thế trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ nhằm thu được lợi
nhuận lớn nhất. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng tự
nhiên, bởi thế đã bước vào kinh doanh thì bắt buộc phải chấp nhận.
Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển, số người bán
càng tăng lên thì cạnh tranh càng khốc liệt. Có người cho rằng “ cạnh tranh
là con dao 2 lưỡi” thị trường với doanh nghiệp này là cái nôi, nhưng với
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
9
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
doanh nghiệp kia lại là nghĩa địa và cạnh tranh, với doanh nghiệp này là
động lực, là niềm phấm khích để phát triển trong khi với doanh nghiệp
khác lại là một hành động tự sát là con đường dẫn đến diệt vong
Cạnh tranh trên thị trường giữa các chủ doanh nghiệp có thể chia
thành cạnh tranh ngành.
- Cạnh tranh công dụng
- Cạnh tranh nhãn hiệu
- Cạnh tranh chung
2.1. Cạnh tranh nghành:
Tất cả các doanh nghiệp sản xuất cùng một loại hay cùng một lớp sản phẩm
đều là đối thủ cạnh tranh của nhau. ở cấp độ cạnh tranh này sẽ hình thành
nên các nhóm chiến lược cạnh tranh với nhau.
Hiện cả nước có 19 doanh nghiệp chế biến sữa và các sản phẩm từ
sữa. Doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn nhất Việt Nam là Vinamilk. thịi
phần mà Vinamilk chiếm giữ hiện nay là 70% - 75% thị phần cả nước.
Ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp khác đã tạo dựng được uy tín trên thị
trường như Mộc Châu, Nutifood, Saigonmilk…
Các doanh nghiệp trong nước không những phải cạnh tranh với nhau mà
còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp sản xuất sữa ngoài nước như
Ensure, Snow …
Các doanh nghiệp trong nước không chỉ chịu khó đầu tư mở rrộng
thị trường, xây dựng vùng nguyên liệu mà còn rất chủ tâm đưa ra sản phẩm
mới, cải tiến bao bì sản phẩm và nhất là có chính sách giá cạnh tranh phù
hợ với nhiều đối tượng tiêu dùng. Các doanh nghiệp sản xuất sữa đã lần
lượt đưa vào thị trường hàng chục sản phẩm có chất lượng cao như: sữa
tươi tiệt trùng. Sữa tươi thanh trùng rồi sữa dành cho nhiều đối tượng: Trẻ
em, người lớn người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm mới có
nhu cầu sử dụng mà giá lại rẻ hơn rất nhiều so với hàng ngoại. sản xuất sữa
của các ngành sữa Việt Nam đã đạt tới trình độ hiện đại của thế giới về cả
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
10
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
công nghệ lẫn trang thiết bị. Chính bởi thế sanr phẩm sữa trong nước có thể
cạnh tranh được với tên tuổi sữa từ nước ngoài. đơn cử như sữa tươi tiệt
trùng của công ty sữa Mộc Châu, sản phẩm có hương vị thơm ngon mà giá
lại rẻ bằng một nửa so với tên tuổi sữa tươi khác đến từ Thuỵ sỹ hay những
sản phẩm của Nutifood tuy mới xuất hiện trên thị trường nhưng đã chiếm
được thị phần đáng kể so với các sản phẩm sữa từ các hãng sữa nước ngoài,
sữa của các doanh nghiệp trong nước có giá bản rẻ hơn từ 30% - 40%.
Ví dụ sữa tươi tuyệ trùng của Vinamilk có giá bán là 2500đ/200ml thì sản
phẩm của các công ty nước ngoài có giá từ 2500đ -3500đ/200ml
Đến các cửa hàng đồ hộp hay các siêu thị, điều dễ nhận thấylà
những thương hiệu sữa nội đã tự tin cạnh tranh với các sản phẩm ngoại.
Ngành sản xuất sữa tươi của nước ta không chỉ đáp ứng được nhu cầu ở
trong nước mà còn xuất khẩu với khối lượng lớn ra nước ngoài như : Trung
quốc, Cuba, Iraq…
Cạnh tranh công dụng:
Tất cả các doanh nghiệp hay các hãng cùng sản xuất ra các sản phẩm
thực hiện cùng một dịch vụ có nghĩa là cùng tạo ra một lợi ích và công
dụng như nhau hay nói cách khác là cùng tạo ra một giải pháp để thoả mãn
nhu cầu khách hàng thì được xem là đối thủ cạnh tranh của nhau.
Ví dụ: trong trường hợp này sữa tươi Vinamilk không những phải cạnh
tranh với các loại sữa tươi khác như Enlene, Trimilk, Daizy…
Mà còn cạnh tranh với tất cả các loại nước uống khác đáp ứng nhu cầu giải
pháp như Pepsi, Cocacola, nhu cầu về dinh dưỡng như nước cam, nước
tăng lực, bột ngũ cốc hào tan…
Tất cả các sản phẩm này đều đáp ứng một loại nhu cầu là dinh dưỡng và
giải khát.
Khi nói đến cấp độ canh tranh công dụng, ta thấy rõ được vai trò của
các chính sách Maketing: giá cả, phân phối, các hoạt động khuyến mãi do
tính đồng nhất về công dụng của sản phẩm khá cao. Một khách hàng khi có
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
11
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
dự định mua một loại đồ uống giải khat nào đó, họ sẽ phải cân nhắc đến
những lợi ích mà mình sẽ nhận được khi sử dụng. Sự so sánh về chi phí, sự
thuận tiện trong việc mua,sử dụng và giá trị sản phẩm đem lại là một việc
làm hết sức quan trọng của khách hàng. Vậy khi đó người khách hàng này
sẽ chọn sản phẩm nào mà họ cảm thây có sự hợp lý nhất giữa chi phí bỏ ra
và lợi ích thu được. Lợi ích ở đây không chỉ là lợi ích thuần tuý của sản
phẩmmà nó còn bao gồm lợi ích từ các dịch vụ hỗ trợ sản phẩm do nhà
cung ứng cung cấp cho khách hàng (như sự thuận tiện trong khi mua…)
Tóm lại các doanh nghiệp cạnh tranh ở mức độ công dụng, muốn
tăng cường khả năng cạnh tranh thì một yêu cầu đặt ra là phải tạo ra những
sản phẩm có chất lượng khác biệt và kèm theo các dich vụ hỗ trợ hoàn hảo,
có như thế mới đảm bảo cung cấp cho khách hàng một hệ thông giá trị lớn
nhất.
2.3. Cạnh tranh nhu cầu (cạnh tranh chung)
Nhìn ở góc độ rộng hơn các doanh nghiệp cùng kiếm tiền của cùng
một người tiêu dùng đều phải cạnh tranh với nhau. Sự cạnh tranh này gắn
liền với lối sống thu nhập, cách thức chi tiêu của người tiêu dùng trong
từng giai đoạn phát triển xã hội.
Để phát hiện ra các đối thủ cạnh tranh này, cần phải theo dõi và xem
xét những yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô, cụ thể là những biến đổi về:
văn hoá, kinh tế, chính trị…Để từ đó dự báo trước được nguy cơ người tiêu
dùng sẽ chuyển một phần thu nhập dành cho việc mua sắm những sản
phẩm của doanh nghiệp minh sang mua sắm tiêu dùng những sản phẩm
khác.
Trong trường hợp này , sữa tươi Vinamilk phải cạnh tranh với các
hàng hoá tiêu dùng thiết yếu khác .
4. Cạnh tranh nhãn hiệu
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
12
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
Doanh nghiệp có thể xem các doanh nghiệp khác có bán sản phẩm và dịch
vụ tương tự cho cùng một số khách hàng hay nói cách khác cho cùng một
thị trường mục tiêu với giá tương tự lá các đối thủ cạnh tranh của mình.
Ở cấp độ tranh này, các doanh nghiệp có thể nhận diện được các
đối thủ cạnh tranh trực tiếp của mình.
Một nhãn hiệu mạnh là nhãn hiệu có uy tín cao, uy tín của nhãn hiệu
cang cao thì sự trung thành với nhãn hiệu cao hơn mức độ biết đến tên tuổi
chất lượng được nhắc tới càng cao hơn, sự gắn bó với nhãn hiệu càng cao
hơn. Uy tín của nhãn hiệu sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh cho một doanh
nghiệp.
Chính vì thế các doanh nghiệp đã hết sức ccó gắng tạo ra cho nhãn
hiệu của mình có một chỗ đứng trong tâm chí khách hàng, hay nói khác đi
là tạo sự uy tín. Trên thực tế, Nestle đã chi 4,5tỉ USD để mua Rountree.
Những công ty này thường không kể uy tín nhãn hiệu trong bảng cân đối
tài sản của mình do có phần tuỳ tiện trong các tính toán.
Để có thể cạnh tranh, công ty đồng tâm đã phải đổi tên thành
Nutifood, trong năm 2002, Nutifood đã phải bỏ ra 9 tỉ đồng trong số kinh
phí là 30 tỉ đồng đầu tư để phát triển thương hiệu mới. Đến năm 2003
Nutifood thực hiện đợt khuyyến mãi xây dựng hình ảnh cho thương hiệu
mang tên: “Đảm bảo một tương lai cho bé” với tổng giá trị giải thưởng lên
đến 1,6 tỉ chưa kể các khoản chi phí khác.
Để cho khách hàng biết đến những sản phẩm của mình các doanh
nghiệp không ngừng thực hiện các chương trình khuyến mãi, quảng cáo
trên truyền hình, báo chí các chương trình tài trợ cho các giải thi đấu lớn
của đất nước. Trong năm 2003 Nestle lại tiếp tục tài trợ cho Seagames 22.
Theo kết quả thu thập được từ bảng câu hỏi đi điểu tra về nhu cầu và
hàng vi tiêu dùng sữa tươi. Kết quả cho thấy tổng số điều tra 47 người thì
47 người biết đến sản phẩm Cô Gái Hà Lan 46 người biết đến nhãn hiệu
Vinamilk và 23 người biết đến nhãn hiệu Izzi, 29 người biết đến nhãn hiệu
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
13
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
Daizy. Và chỉ có 7 người biết đền nhãn hiệu Trimilk. Kết quả điều tra này
sẽ không phải là chính xác nhưng nó cũng phần nào phản ánh được vị thế
hay vị trí về nhãn hiệu của một số sản phẩm sữa tươi trong tâm trí khách
hàng.
3. Quy mô và mức độ cạnh tranh.
Cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ cấu doanh
nghiệp đã có nhiều thay đổi về mặt tổ chức kinh doanh. Các loại hình
doanh nghiệp trở nên đa dạng hơn, kéo theo đó số lượng các doanh nghiệp
tham gia vào thị trường cuãng trở nên đông đảo hơn rất nhiều. để tồn tại
trong “Đám đông” đó buộc các doanh nghiệp phải “cạnh tranh” . Tuy nhiên
không phải các doanh nghiệp đều đã đầu tư đúng mức vào việc theo dõi các
đối thủ cạnh tranh của mình, có một số daonh nghiệp cứ tưởng là mình biết
hết mọi điều về các đối thủ cạnh tranh bởi vì họ đang trực tiếp cạnh tranh
với các đối thủ đó. Một số doanh nghiệp khác thì lại nghĩ rằng không bao
giờ mình có thể hiểu đủ về đối thủ cạnh tranh của mình, vậy thì tại sao lại
cứ phải lo lắng ? tuy nhiên những doanh nghiệp nhậy bén hơn đã thiết kế
và khai thác hệ thống thu thập thông tin tình báo liên tục về các đối thủ
cạnh tranh của mình.
Hiểu được đối thủ cạnh tranh là một điều quan trọng để có thể lập
được chiến lược Maketing có hiệu quả doanh nghiệp phải thường xuyên so
sánh sản phẩm, giá cả, các kênh và hoạt động khuyến mãi … của mình với
các đối thủ cạnh tranh.
Nhờ vậy các doanh nghiệp sẽ phát hiện được những mặt mạnh mình có ưu
thề hơn so với đối thủ hay bị mất lợi thế trong cạnh tranh. Từ đó doanh
nghiệp có thể đưa ra những đòn tiến công chính xác hơn và cũng chuẩn bị
sẵn sàng chiến đấu trước những đòn tấn công của đối thủ.
Thông thường các doanh nghiệp luôn tưởng rẳng việc phát hiện các
đối thủ cạnh tranh là một nhiệm vụ đơn giản.
SV. Nguyễn Thị Thanh Nga Lớp Marketing 43A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét