Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Kinh doanh thương mại có những đặc trưng sau, đây cũng là những
điều kiện cần phải có để tiến hành hoạt động kinh doanh thương mại. Các yếu
tố đó là:
* Kinh doanh thương mại phải có vốn kinh doanh, đó là các khoản
vốn bằng tiền như: tiền Việt Nam, vàng, bạc, đá quý… hoặc các tài sản
khác như: củă hàng, kho tàng, nhà cửa…Nguồn hình thành của vốn này có
thể là vốn đi vay, vốn tích luỹ hay vốn góp của các cổ đông…
Dù hình thành dưới những nguồn nào thì vốn của doanh nghiệp có
thêr chia làm 2 loại: Vốn lưu động và vốn cố định. Trong kinh doanh, tỷ lệ
vốn lưu động chiếm tỷ lệ cao (70-80%) trong tỷ trọng của vốn.
* Kinh doanh thương mại phải thực hiện các hành vi mua để bán,
tức là trong kinh doanh thương mại phải thực hiện các hành vi mua hàng,
nhưng không phải mua hàng để phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà để bán
cho người khác.
* Kinh doanh thương mại hàng hoá, phải hiểu về hàng hoá và quản
lý hàng hóa. Bởi đẻ có thể lưu thông hàng hoá đến đúng nơi đang có nhu
cầu, kịp thời gian, đúng tiến độ; đảm bảo cho việc dự trữ bảo quản được
thường xuyên, liên tục thì đòi hỏi các nhà kinh doanh hoạt động trong lĩnh
vực kinh doanh thương mại phải hiểu về hàng hoá và quản lý tốt hàng hoá
đó.
* Kinh doanh thương mại là việc dùng vốn (tiền của,công sức và tài
năng) vào hoạt động kinh doanh, đòi hỏi sau mỗi chu kỳ kinh doanh lượng
vốn này phải được bảo toàn và có lãi. Đây cũng là một bài toán được đặt ra
đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực thương mại nói riêng.
1.1.4 Hình thức của kinh doanh thương mại.
Kinh doanh thương mại có rất nhiều hình thức đa dạng và phong
phú, có thể khái quát một số hình thức sau:
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Theo tính chất của các mặt hàng kinh doanh thì kinh doanh thương
mại gồm kinh doanh chuyên môn hoá, kinh doanh tổng hợp và kinh doanh
đa dạng hoá.
- Theo quy mô của doanh nghiệp có thể chia thành doanh nghiệp có
quy mô nhỏ, doanh nghiệp có quy mô vừa và doanh nghiệp có quy mô lớn.
- Theo phân cấp quản lý thì hình thức của kinh doanh thương mại có
thể bao gồm: doanh nghiệp thương mại (DNTM) do trung ương quản lý,
DNTM do địa phương quản lý.
- Theo chế độ tư hữu tư liệu sản xuất thì gồm có: DNTM nhà nước,
DNTM tập thể, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên
doanh với nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân.
Việc phân loại các loại hình doanh nghiệp có thể giúp ích cho doanh
nghiệp trong việc nghiên cứu, nhận dạng các loại hình doanh nghiệp. Từ
đó, doanh nghiệp có thể đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp với quy
mô và cơ cấu của tổ chức, đồng thời đưa ra được các phương thức huy
động vốn hợp lý bảo đảm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu
quả nhất.
1.2 Khái quát hoạt động kinh doanh mặt hàng máy vi
tính tại công ty cổ phần Công nghệ Vĩnh Hưng
1.2.1 Đặc điểm của sản phẩm và kinh doanh sản phẩm máy vi tính
tại doanh nghiệp
Máy tính, cũng gọi là máy vi tính hay điện toán, là những thiết bị hay
hệ thống dùng để tính toán hay kiểm soát các hoạt động mà có thể biểu diễn
dưới dạng số hay quy luật logic
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Máy tính được lắp ghép bởi các thành phần có thể thực hiện các chức
năng đơn giản đã định nghĩa trước. Quá trình tác động tương hỗ phức tạp của
các thành phần này tạo cho máy tính một khả năng xử lý thông tin. Nếu được
thiết lập chính xác (thông thường bởi các chương trình máy tính) có thể mô
phỏng lại một số khía cạnh của một vấn đề hay của một hệ thống. Trong
trường hợp này, khi được cung cấp một bộ dữ liệu thích hợp nó có thể tự
động giải quyết vấn đề hay dự đoán trước sự thay đổi của hệ thống.
Khoa học nghiên cứu về lý thuyết, thiết kế và ứng dụng của máy tính
được gọi là khoa học máy tính hay khoa học điện toán.
*Các nguyên lý cơ bản
Máy tính có thể làm việc thông qua sự chuyển động của các bộ phận cơ
khí, electron, proton, hạt lượng tử hay các hiện tượng vật lý khác đã biết. Mặc
dù máy tính được xây dựng từ nhiều công nghệ khác nhau song gần như tất cả
các máy tính hiện nay đếu là máy tính điện tử.
có thể trực tiếp mô hình hóa các vấn đề cần được giải quyết, trong khả
năng của nó các vấn đề cần được giải quyết sẽ được mô phỏng gần giống nhất
với những hiện tượng vật lý đang khai thác. Ví dụ, dòng chuyển động của các
điện tử (electron) có thể được sử dụng để mô hình hóa sự chuyển động của
nước trong đập. Những chiếcmáy tính tương tự (analog computer) giống như
thế đã rất phổ biến trong thập niên 1960 nhưng hiện nay còn rất ít.
Trong phần lớn các máy tính ngày nay, trước hết, mọi vấn đề sẽ được
chuyển thành các yếu tố toán học bằng cách diễn tả mọi thông tin liên quan
thành các số theo hệ nhị phân (hệ thống đếm dựa trên các số 0 và 1 hay còn
gọi là hệ đếm cơ số 2). Sau đó, mọi tính toán trên các thông tin này được tính
toán bằng đại số Bool (Boolean algebra).
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Các mạch điện tử được sử dụng để miêu tả các phép tính Bool. Vì phần
lớn các phép tính toán học có thể chuyển thành các phép tính Bool nên máy
tính điện tử đủ nhanh để xử lý phần lớn các vấn đề toán học (và phần lớn
thông tin của vấn đề cần giải quyết đã được chuyển thành các vấn đề toán
học). Ý tưởng cơ bản này, được nhận biết và nghiên cứu bởi Claude E
Shannon - người đã làm cho maý tính kỹ thuật số (digital computer) hiện đại
trở thành hiện thực.
Máy tính không thể giải quyết tất cả mọi vấn đề của toán học. Alan
Turing đã sáng tạo ra khoa học lý thuyếtmáy tính trong đó đề cập tới những
vấn đề mà máy tính có thể hay không thể giải quyết.
Khi máy tính kết thúc tính toán một vấn đề, kết quả của nó được hiển
thị cho người sử dụng thấy thông qua thiết bị xuất như: bóng đèn, màn hình,
máy in,
Những người mới sử dụng máy tính, đặc biệt là trẻ em, thường cảm
thấy khó hiểu về ý tưởng cơ bản là máy tính chỉ là một cái máy, nó không thể
"suy nghĩ" hay "hiểu" những gì nó hiển thị. Máy tính chỉ đơn giản thi hành
các tìm kiếm cơ khí trên các bảng màu và đường thẳng đã lập trình trước, rồi
sau đó thông qua các thiết bị đầu ra (màn hình, máy in, ) chuyển đổi chúng
thành những ký hiệu mà con người có thể cảm nhận được thông qua các giác
quan (hình ảnh trên màn hình, chữ trên văn bản được in ra). Chỉ có bộ não của
con người mỡi nhận thức được những ký hiệu này tạo thành các chữ hay số và
gắn ý nghĩa cho chúng. Trong quan điểm của máy tính thì mọi thứ mà nó
"nhận thấy" (kể cả khi máy tính được coi là có khả năng tự nhận biết) chỉ là
các hạt electron tương đương với các số 0 và 1.
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* Phân loại máy tính
+ Theo mục đích sử dụng
• Siêu máy tính
• Siêu máy tính cỡ nhỏ
• Mainframe
• Máy chủ doanh nghiệp
• Máy tính mini
• Máy trạm (workstation)
• Máy tính cá nhân (PC)
o Máy tính để bàn (Desktop)
o Máy tính xách tay (Laptop)
o Máy tính bảng con
o Thiết bị hỗ trợ kỹ thuật số cá nhân (PDA)
o Máy tính tháo lắp
Điểm yếu của xu hướng phân loại này là tính chất mơ hồ của nó. Cách
phân loại này thường được sử dụng khi cần phân loại tại một thời điểm nào đó
trong quá trình phát triển của ngành công nghiệp máy tính. Sự phát triển
nhanh chóng của công nghiệp máy tính đã làm cho định nghĩa trên nhanh
chóng trở nên lạc hậu. Rất nhiều loại máy tính hiện nay không được còn sử
dụng nữa, như máy phân tích vi phân (differential analyzer), không được đưa
vào danh sách này. Những sơ đồ phân loại khác cần được đề ra để định nghĩa
thuật ngữ máy tính một cách ít (hoặc không) mơ hồ hơn.
+ Theo mức cải tiến công nghệ
Một cách phân loại máy tính ít mơ hồ hơn là theo mức độ hoàn thiện
của công nghệ. Những chiếc máy tính có mặt sớm nhất thuần túy là máy cơ
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
khí Một hướng nghiên cứu phát triển gần đây là máy tính quang (optical
computer) trong đó máy tính hoạt động theo nguyên lý của ánh sáng hơn là
theo nguyên lý của các dòng điện; đồng thời, khả năng sử dụng DNA trong
công nghệ máy tính cũng đang được thử nghiệm. Một nhánh khác của việc
nghiên cứu có thể dẫn công nghiệp máy tính tới những khả năng mới như tính
toán lượng tử, tuy rằng nó vẫn còn ở giai đoạn đầu của việc nghiên cứu.
+ Theo đặc trưng thiết kế
Các máy tính hiện đại đã liên kết các đặc trưng thiết kế chính được phát
triển bởi nhiều người đóng góp trong nhiều năm. Các đặc trưng này phần lớn
không phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của công nghệ. Các máy tính hiện
đại nhận được khả năng tổng thể của chúng theo cách mà các đặc trưng này
tác động qua lại với nhau. Một số đặc trưng quan trọng được liệt kê dưới đây:
- Kỹ thuật số và kỹ thuật tương tự
Một quyết định nền tảng trong việc thiết kế máy tính là hoặc sử dụng
kỹ thuật số (digital) hoặc sử dụng kỹ thuật tương tự (analog). Các máy tính kỹ
thuật số (digital computer) tính toán trên các giá trị số rời rạc (discreet value)
hoặc giá trị tượng trưng (symbolic value), trong khi đó máy tính tương tự
(analog computer) tính toán trên các tín hiệu dữ liệu liên tục (continuous data
signal).
- Nhị phân và Thập phân
Một phát triển quan trọng trong thiết kế tính toán kỹ thuật số là việc sử
dụng hệ nhị phân như là hệ thống số đếm nội tại. Điều này đã bãi bỏ những
yêu cầu cần thiết trong các cơ cấu kỹ thuật phức tạp của các máy tính sử dụng
hệ số đếm khác, chẳng hạn như hệ thập phân. Việc áp dụng hệ nhị phân đã
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
làm cho việc thiết kế trở lên đơn giản hơn để thực hiện các phép tính số học
và các phép tính lôgic.
- Khả năng lập trình
Khả năng lập trình của máy tính (programmability), nghĩa là cung cấp
cho nó một tập hợp các chỉ thị để thực hiện mà không có sự điều khiển vật lý
đối với nó, là một đặc trưng thiết kế nền tảng của phần lớn các máy tính. Đặc
trưng này là một sự mở rộng đáng kể khi các máy tính đã được phát triển đến
mức nó có thể kiểm soát động luồng thực hiện của chương trình. Điều này
cho phép máy tính kiểm soát được thứ tự trong sự thực thi các chỉ lệnh trong
chương trình dựa trên các dữ liệu đã được tính ra.
Điểm nổi bật chính trong thiết kế này đó là nó đã được đơn giản hóa
một cách đáng kể với việc áp dụng các phép tính số học theo hệ đếm nhị phân
để có thể mô tả hàng loạt các phép tính lôgic.
*Cấu hình một máy vi tính
Máy vi tính đầu tiên ra đời vào 1981 do IBM đưa ra. Nó nhanh chóng chiếm
được thị trường. Máy vi tính bao gồm các phần sau: CPU, thiết bị vào, thiết bị
ra, bộ nhớ trong và bộ nhớ ngoài. Xét theo góc độ lắp ráp, các bộ phần trên
được lắp nối thành khối xử lý trung tâm và khối các thiết bị ngoại vi của một
dàn máy vi tính
Các bộ phận nằm trong khối xử lý trung tâm các thiết bị ngoại vi:
1. Bo mạch chủ (mailboard) gồm: CPU, RAM, bộ nhớ cache, ROM có
chứa chương trình BIOS, các chip sets là các bộ điều khiển, các cổng nối I/O,
bus và các slost mở rộng.
2. Các loại ổ đĩa: Ổ đĩa mềm, ổ đĩa cứng, ổ CD,DVD.
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
3. Các mạch mở rộng: video card, network card, card âm thanh, card
modem.
4 Nguồn và vỏ bàn phím, chuột, máy in, máy quét, loa, ổ đĩa cắm
ngoài, joy stick, modem, máy vẽ…
*Phần cứng, phần mềm và phần nhão của máy vi tính
Trong máy vi tính có thể chia gồm 3 phần: Phần cứng là chỉ phần thiết
bị vật lý mà ta có thể sờ mó được. Phần mềm là chỉ phần chương trình chạy
trong máy, thường gồm hai phần: phần mềm hệ thống để chỉ hệ điều hành
DOS, Windows; phần mềm ứng dụng để chỉ các chương trình Word, Excel,
Vietkey. Phần nhão là phần chương trình BIOS dùng để điều khiển quá trình
khởi động máy, thiết lập cấu hình máy, kiểm tra máy và thực hiện các lệnh
vào ra cơ bản nhất. Phần nhão thường gắn chặt với phần cứng. Phần mềm hệ
thống và ứng dụng không phụ thuộc vào phần cứng cụ thể.
Khi lắp ráp hoặc sửa chữa máy vi tính ta phải tìm hiểu các bộ phận phần
cứng, cài đặt hệ thống qua BIOS (phần nhão) và cài đặt máy: cài hệ điều hành
và các ứng dụng.
1.2.2 Nội dung hoạt động kinh doanh máy vi tính tại doanh nghiệp
a. Nghiên cứu, xác định nhu cầu thị trường về loại hàng hoá và dịch
vụ để lựa chọn kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh.
Mỗi doanh nghiệp có thể kinh doanh nhiều loại hàng hoá khác nhau,
nhưng trước khi kinh doang bất cứ loại hàng hoá nao, doanh nghiệp cũng
cần phải nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường. Bỏi nghiên cứu thị
trường là một điều kiện đẻ doanh nghiệp có thể hoạch định ra các chiến
lược kinh doanh, từ đó lập các kế hoạch và thực hiện các kế hoạch kinh
doanh đó thông qua nghiên cứu nhu cầu của khách hàng.
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Kinh doanh mặt hàng máy vi tính, đây là một mặt hàng về công
nghệ đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn cho việc nghiên cứu, ứng dụng tìm hiểu
các tính năng của máy cũng như các tác dụng của máy, quá trình bảo
dưỡng, bảo trì máy…Do đó, việc nghiên cứu nhu cầu thị trờng là một đòi
hỏi vô cùng cần thiết đối với mặt hàng này, vì nếu bước nghiên cứu được
thực hiện đúng, có kế hoạch cụ thể sẽ giảm được rất nhiều chi phí cho quá
trình thực hiện hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, theo Công ty nghiên cứu thị trường TNS - Việt Nam, các
điều tra gần đây cho thấy mức chi phí nghiên cứu thị trường của các doanh
nghiệp Việt Nam rất thấp; không chỉ so sánh với các nước kinh tế phát
triển mà chi phí này của Việt Nam còn thua nhiều nước trong khu vực.
Cụ thể, tổng chi nghiên cứu thị trường của Việt Nam tính trên đầu
người chỉ đạt 0,12 USD; đây là mức thấp nhất trong 60 quốc gia được điều
tra. Điều tra cũng cho thấy tổng chi quảng cáo trên đầu người của Việt Nam
vào khoảng 2,4 USD thuộc vào hàng thấp nhất trong các nước.
Tổng chi cho nghiên cứu thị trường của Việt Nam vào khoảng 10 triệu
USD năm 2003 và tăng lên 14,3 triệu năm 2005.
Dẫn đầu bảng điều tra vẫn là các nền kinh tế lớn như Anh, Mỹ, Canada;
Nhật Bản đứng thứ 7 và thứ nhất châu á. So với các nước trong khu vực có
nền kinh tế đang phát triển thì Malaysia dẫn đầu với chi phí nghiên cứu thị
trường bình quân đạt 1,25 USD/người/năm, Thái Lan 0,6USD, Philippines
0,38USD và Trung Quốc là 0,3USD.
Theo điều tra, tổng doanh số nghiên cứu thị trường riêng tại châu á đã
lên tới khoảng 2,6 tỷ USD trong đó Nhật Bản đã chiếm tới 45%,
Trung Quốc và úc chiếm 30%, 17 nước còn lại có cả Việt Nam tổng chi chưa
đến 400 triệu USD; trong đó Việt Nam chiếm chưa đến 2,5% trong số đó.
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Mặc dù có mức chi cho nghiên cứu thị trường thấp, nhưng các chuyên
gia cho biết, ngành nghiên cứu thị trường Việt Nam đang có mức tăng trưởng
khá cao lên đến 23,3% và chỉ đứng sau Trung Quốc với tốc độ tăng trưởng
28%. Đây là một con số ấn tượng so với mức trung bình của thế giới là 5,1%.
Đúng như dự kiến mức chi phí dành cho nghiên cứu thị trường Việt
Nam sẽ lên khoảng hơn 16,5 triệu USD vào năm 2006, và chi phí nghiên cứu
cho thị trường máy vi tính chiếm gần 40% trong tổng số chi phí dành cho
nghiên cứu thị trường.
Theo các chuyên gia, thông thường những khu vực có kinh tế tăng
trưởng cao thì tăng trưởng của ngành nghiên cứu thị trường cũng cao. Điều
này phản ánh đúng thực tế tại Việt Nam khi các doanh nghiệp ngày càng phát
triển mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu kéo theo nhu cầu điều tra
nghiên cứu thị trường cũng tăng lên. Đây là những cơ hội tốt cho ngành
nghiên cứu thị trường phát triển tại Việt Nam. đồng thời cũng là dấu hiệu tốt
cho ngành công nghiệp máy vi tính nói chung và công nghệ thông tin nói
riêng. Điều này cũng hứa hẹn thời đại công nghệ thông tin sẽ bùng nổ mạnh
mẽ tại nước ta.
b. Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực đưa vào kinh doanh
Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì bất kỳ
doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực kinh doang thương mại cũng
phải huy động các nguồn vốn (bằng tiền và tài sản) của chính bản thân
doanh nghiệp hoặc huy động các nguồn lực từ bên ngoài; con người và
công nghệ…nhằm đưa vào hoạt động kinh doanh để tạo ra các sản phẩm
va dịch vụ, đồng thời thu được lợi nhuận.
Bùi Thị Huệ Lớp: Thương Mại 46B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét