Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
Do kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, các NHTM thờng có két tốt để
cất giữ đảm bảo an toàn, vì vậy họ thực hiện cất trữ hộ tiền cho mọi ng ời
để làm tăng thu nhập từ việc thu phí, tăng khả năng đa dạng các loại tiền,
tăng quy mô tài sản kinh doanh tiền tệ. Việc cất trữ hộ nhiều ngời khác là
điều kiện để thực hiện thanh toán hộ.
Ngoài ra, họ còn cho vay lấy lãi. Ban đầu, các ngân hàng đã dùng vốn của
chủ để tài trợ cho các hoạt động nhng điều đó không kéo dài. Từ hoạt động thực
tiễn, các ngân hàng nhận thấy thờng xuyên có ngời gửi tiền vào và có ngời lấy
tiền ra, song tất cả ngời gửi tiền không rút tiền cùng một lúc, đã tạo số d thờng
xuyên ở két. Do tính chất vô danh của đồng tiền, ngân hàng có thể sử dụng tạm
thời một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay. Hoạt động cho vay tạo nên
lợi nhuận lớn cho ngân hàng, do vậy các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu
hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho ngời gửi tiền. Nh vậy, từ việc giữ
hộ tiền để thu phí, ngân hàng chuyển sang huy động vốn và trả lãi cho việc huy
động số tiền nhàn rỗi, tiềm tàng trong xã hội. Bằng cách cung cấp các tiện ích
khác nhau mà ngân hàng huy động đợc ngày càng nhiều tiền gửi, là điều kiện để
mở rộng các hoạt động của ngân hàng.
Bớc chuyển mình lớn nhất của hệ thống ngân hàng bắt đầu từ thế kỷ 20 khi
mà các ngân hàng áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào hoạt động của
mình. Hàng loạt sản phẩm mới ra đời đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng nh
bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, uỷ thác t vấn, môi giới chứng
khoán.v.v. Ngày nay, ngân hàng đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của
mỗi nền kinh tế. Nó đợc coi là mạch máu của một quốc gia.
1.1.3. Nguồn vốn của NHTM
NHTM cũng nh bất cứ một doanh nghiệp nào để tồn tại và phát triển
phải có vốn. Vốn tác động đến kết cấu tài sản và khả năng sinh lời, hạn chế
các loại rủi ro trong hoạt động NHTM. Vốn của NHTM gồm 2 loại cơ bản
nếu phân chia theo hình thức sở hữu là vốn chủ sở hữu và vốn nợ (vốn huy
động từ bên ngoài).
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
1.1.3.1. Vốn của chủ sở hữu
a, Khái niệm
Vốn chủ sở hữu là điều kiện đầu tiên để ngân hàng đợc luật pháp cho phép
hoạt động và đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên
trang thiết bị, nhà cửa. Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu gồm nguồn hình
thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, nguồn vay nợ có
khả năng chuyển đổi thành cổ phần và các quỹ.
b, Các thành phần vốn của chủ sở hữu và đặc điểm của chúng
- Vốn ban đầu
Vốn ban đầu hình thành khi ngân hàng bắt đầu hoạt động với tính chất
sở hữu và nguồn hình thành khác nhau. Nếu là ngân hàng t nhân thì đó là
vốn do cá nhân tự bỏ ra; nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà n ớc thì do ngân
sách Nhà nớc cấp; nếu là ngân hàng cổ phần thì do cổ đông thông qua mua
các cổ phần (hoặc cổ phiếu); nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên
tham gia liên doanh góp.
Trờng hợp của ngân hàng cổ phần có thể đợc hình thành từ
cổ phần th-
ờng và cổ phần u đãi.
Vốn ban đầu thờng phải tuân thủ các qui định của NHNN. Các qui
định thờng
nêu rõ số vốn tối thiểu - vốn pháp định mà chủ ngân hàng cần
phải có để bắt đầu kinh doanh ngân hàng. NHNN, luật NHNN có qui định
cụ thể cho từng loại ngân hàng trong từng điều kiện cụ thể.
Vốn thờng không phải hoàn trả. Các cổ đông có thể bán cổ phiếu trên
thị trờng vốn (thị trờng chứng khoán). Các cổ phần thờng đợc hởng cổ tức
cao hay thấp tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh và chính sách phân chia lợi
nhuận của ngân hàng.
- Vốn chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
Bao gồm cổ phần phát hành thêm ( hoặc ngân sách cấp thêm ) trong quá
trình hoạt động, lợi nhuận tích luỹ, thặng d vốn, các quĩ
Cổ phần phát hành thêm, ngân sách cấp thêm: Ngân hàng có thể phát
hành thêm cổ phần (thờng là cổ phần u đãi) hoặc xin cấp thêm vốn từ ngân
sách để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để chống đỡ rủi ro trong trờng
hợp cần phải duy trì thị giá của cổ phiếu
Huy động vốn cổ phần từ cán bộ công nhân viên ngân hàng mình:
Hình thức huy động này huy động vốn từ chính những cán bộ công nhân
viên trong ngân hàng mình, làm cho họ trở thành những cổ đông của ngân
hàng và gắn chặt quyền lợi với quyền lợi chung của ngân hàng. Đây là hình
thức mang tính lâu dài và ổn định cần đợc chú trọng.
Huy động từ lợi nhuận bổ sung VCC, các quỹ dự phòng tài chính, quỹ
trợ cấp, quỹ khen thởng là các loại quỹ khác: Nếu nh lợi nhuận để lại của
ngân hàng đủ để đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn của mình thì thông thờng đây
chính là nguồn bổ sung quan trọng nhất. Nguồn bổ sung này có thể lấy trực
tiếp từ các quỹ nh: Quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp.v.v. Mặc dù vậy khó
nhất là phải xác định đợc khi nào thì đợc phép trích lập từ các quỹ trên để làm
nguồn vốn bổ sung, tỉ lệ trích lập ra sao cho hợp lý.
Vốn bổ sung bằng phát hành giấy nợ có khả năng chuyển đổi thành
cổ phiếu: Một số ngân hàng coi cổ phần u đãi có thời hạn, các trái phiếu
dài hạn cũng thuộc VCC mặc dù chúng mang nhiều tính chất của một khoản
nợ. Tuy nhiên, phần này thờng bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ.
c, Vai trò
Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ so với vốn nợ, do đặc trng trong
kinh doanh ngân hàng là huy động để cho vay. Theo quy định của NHNN Việt
Nam tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối thiểu là 1/20. Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ,
song Vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng.
Vốn chủ sở hữu có vai trò bảo vệ ngời gửi tiền: Kinh doanh ngân hàng th-
ờng xuyên đối đầu với rủi ro. Các khoản tổn thất của ngân hàng sẽ đợc bù đắp
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
bằng vốn chủ sở hữu. Nh vậy, nếu quy mô vốn chủ sở hữu lớn, ngời gửi tiền và
ngời cho vay sẽ cảm thấy an tâm hơn về ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu có vai trò tạo lập t cách pháp nhân và duy trì hoạt động cho
ngân hàng: Nh đã phân tích ở trên, để hoạt động điều kiện đầu tiên là ngân hàng
phải có đợc số vốn tối thiểu ban đầu. Số vốn này đợc sử dụng để mua sắm trang
thiết bị, nhập công nghệ, xây thêm chi nhánh, mở văn phòng đại diện
Ngoài ra, Vốn chủ sở hữu có vai trò điều chỉnh các hoạt động của
ngân hàng: Rất nhiều quy định về hoạt động của ngân hàng có liên quan
chặt chẽ với Vốn chủ sở hữu nh quy mô nguồn tiền gửi đợc tính theo tỷ lệ
với Vốn chủ sở hữu Vì vậy quy mô và cấu trúc hoạt động của ngân hàng
đợc điều chỉnh theo vốn chủ sở hữu.
1.1.3.2. Vốn nợ
a, Khái niệm
Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, vốn nợ của NHTM chiếm tỷ
trọng lớn hơn nhiều so với vốn của chủ và đây là loại vốn cơ bản để tài trợ
cho các danh mục tài sản của NHTM. Vốn nợ đợc huy động từ các nguồn
tiền gửi, vay và một số loại khác.
b, Các thành phần vốn nợ và đặc điểm của chúng
- Tiền gửi
Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải thanh toán khi khách hàng yêu
cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn cha đến hạn.
Quy mô tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thờng nguồn chiếm
hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trởng hàng năm của ngân hàng.
Tiền gửi là đối tợng phải dự trữ bắt buộc, do vậy chi phí tiền gửi thờng
cao hơn lãi trả cho tiền gửi.
Tiền gửi nhất là tiền gửi ngắn hạn thờng nhạy cảm với các biến động về
lãi suất, tỷ giá, thu nhập và nhiều nhân tố khác. Lãi suất cao là yếu tố kích
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
thích các doanh nghiệp, dân c gửi và cho vay. Thu nhập gia tăng là điều kiện
để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn nguồn tiền gửi.
Các yếu tố khác nh địa điểm ngân hàng, các loại hình huy động đều ảnh
hởng tới quy mô và cấu trúc của nguồn tiền.
- Tiền vay
Tỷ trọng nguồn này thấp hơn so với nguồn tiền gửi. Khác với nhận tiền gửi,
ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thờng xuyên chỉ vay lúc cần thiết và
hoàn toàn chủ động quyết định khối lợng vay phù hợp với nhu cầu sử dụng. Các
khoản vay thờng có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi
nhu cầu thanh toán của khách hàng tăng cao. Hơn nữa vay NHNN phụ thuộc rất
lớn vào chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
- Nguồn khác
Phần lớn các nguồn này ngân hàng không phải trả lãi. Tuy nhiên, chi
phí để có và duy trì chúng là rất đáng kể. Nhìn chung, các nguồn khác
trong ngân hàng thờng không lớn.
c, Vai trò
Có thể nói nếu vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng để ngân hàng đợc đi
vào hoạt động và là đệm đỡ không thể thiếu của ngân hàng thì vốn nợ lại là yếu
tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng.
Trên cơ sở vốn nợ tạo lập, ngân hàng sử dụng để cho vay, đầu t vào
chứng khoán, mua sắm tài sản cố định, tiền gửi tại ngân hàng khác và phải
đợc thực hiện dự trữ theo quy định để đảm bảo khả năng thanh toán. Qui
mô, cơ cấu của các nhóm tài sản này đợc xác định một phần căn cứ vào qui
mô, cơ cấu vốn nợ.
Thêm vào đó, tính ổn định về chi phí và thời hạn của vốn nợ quy định số
tiền phải dự trữ là cơ sở cân nhắc đầu t bao nhiêu vào chứng khoán ngắn hạn nên
cho vay với thời hạn nào, lãi suất bao nhiêu để phù hợp với vốn.
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
Nh vậy, vốn nợ có vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định danh
mục tài sản đầu t, từ đó ảnh hởng đến thu nhập của NHTM.
Ngoài ra, qui mô và kết cấu của vốn nợ cũng ảnh hởng rất lớn đến sự
an nguy hoạt động của NHTM. Sự không phù hợp giữa việc huy động vốn
từ bên ngoài và việc sử dụng vốn về thời hạn, độ nhạy cảm với lãi suất, qui
mô các loại tiền có thể dẫn tới các rủi ro về thanh toán, lãi suất, tỷ giá mà
ngân hàng phải gánh chịu.
Tóm lại, qua những vấn đề đợc đề cập ở trên thì rõ ràng vốn có vai trò quan
trọng quyết định sự sống còn của một ngân hàng đặc biệt là vốn nợ. Để có đợc
vốn nợ thì hoạt động huy động vốn từ bên ngoài lại càng có vai trò hết sức quan
trọng. Sau đây là những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn từ bên ngoài
trong NHTM.
1.2. Những vấn đề cơ bản về huy động vốn từ bên ngoài của NHTM
1.2.1. Các hình thức huy động vốn từ bên ngoài
Tuỳ theo các tiêu chí, mục đích huy động khác nhau có các hình thức sau:
Nếu phân theo loại vốn huy động gồm: huy động tiền gửi và tiền vay.
Nếu huy động vốn phân theo loại tiền: huy động vốn nội tệ và ngoại tệ.
Nếu phân theo phạm vi huy động: huy động vốn trong nớc và nớc ngoài.
Nếu theo kỳ hạn huy động: huy động vốn ngắn, trung và dài hạn.
Nếu phân theo đối tợng huy động vốn: huy động vốn từ các cá nhân, hộ gia
đình và tổ chức kinh tế.
Ngoài ra, các NHTM còn huy động từ các nguồn bên ngoài khác.
Cụ thể:
1.2.1.1. Huy động vốn tiền gửi, vay
a, Huy động vốn tiền gửi
Ngân hàng đợc nhận tiền gửi của các TCKT, cá nhân và các TCTD khác
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
dới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền tửi có kỳ hạn và tiền gửi khác -
Điều 45 Luật các TCTD số 03/1997/QH10.
Tiền gửi phân loại theo kỳ hạn bao gồm :
- Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi giao dịch):
Khi tiền mặt (hoặc Séc từ một ngân hàng khác) đợc gửi vào ngân hàng A,
nếu muốn sẽ có thể rút tiền ra hoặc chi tiêu vào bất cứ lúc nào, ngân hàng A sẽ
sắp xếp tiền gửi đó vào nhóm tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là các khoản gửi với
thời gian không xác định. Ngời vừa mới gửi tiền vào buổi sáng, nếu cần có thể
rút ra ngay vào buổi chiều. Nếu không có nhu cầu sử dụng, có thể mời bữa nửa
tháng hoặc một năm sau mới rút ra. Tính bất định về thời gian gửi, cùng với đặc
điểm có thể rút ra bất cứ lúc nào cần đã làm cho loại tiền gửi này còn có tên gọi
tiếng Anh là Demand deposit.
Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không đợc trả lãi và bao
gồm 2 loại sau:
+ Tiền gửi thanh toán: Đó là khoản tiền gửi không kỳ hạn trớc hết đợc sử
dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các
khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thờng xuyên, an
toàn và thuận tiện.
Đối với tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thờng
đợc thực hiện bằng séc hay chuyển khoản.
Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc d nợ, có lúc d có.Với tài khoản
này, khách hàng còn có thể đợc ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng trong
một khoảng thời gian nhất định. Đứng trên góc độ ngân hàng, tiền gửi không
kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng
vào bất cứ lúc nào.
+ Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý : Là các khoản tiền đợc ký gửi với mục
đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh toán. Khi cần thanh
toán khách hàng có thể đến ngân hàng để chi tiêu. Ngân hàng phải thoả mãn yêu
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ đợc phép sử dụng tồn
khoản chi khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả.
- Tiền gửi có kỳ hạn:
Khi gửi tiền vào NHTM theo tài khoản gửi có kỳ hạn, điều ngân hàng
cần biết trớc tiên là gửi với thời gian bao lâu. Thông thờng định kỳ có thể
là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm hoặc hơn nữa. Tại Việt Nam, các khoản
tiền gửi có kỳ hạn thờng nằm trong khoảng 6 tháng đến 24 tháng. Nguyên
nhân vì các doanh nghiệp nớc ta hầu hết thuộc loại doanh nghiệp vừa và
nhỏ với số vốn không lớn và tốc độ quay vòng vốn khá nhanh. Do vậy, họ
khó có thể gửi với kỳ hạn dài. Hơn nữa nếu gửi tiền có kỳ hạn càng dài
mặc dù đợc hởng lãi suất cao hơn nhng khi có nhu cầu rút tiền đột xuất thì
khoản lãi suất mà ngân hàng trả sẽ rất thấp, do phải chịu lãi suất phạt vì đã
làm ảnh hởng đến kế hoạch của ngân hàng.
Lãi suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi có kỳ hạn thờng là cao hơn
nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn. Lý do ở đây là, khi đã thống nhất với
ngân hàng rằng sẽ gửi tiền trong khoảng thời gian nào đó, có đến hơn 80%
những thân chủ đã giữ đợc cam kết nói trên. Do vậy, NHTM hoàn toàn yên
tâm sử dụng tiền gửi để cho vay. Với khoản cho vay ổn định này, ngân
hàng sẽ kiếm đợc nhiều lợi nhuận hơn. Vì thế tiền thu lao nó trả cũng phải
cao hơn để kích thích sự gửi tiền hơn nữa.
Tóm lại, đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận trớc giữa khách hàng và
ngân hàng về thời gian rút tiền. Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn
gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng đợc ký thác với mục đích hởng lãi.
Các NHTM nhận 2 loại tiền gửi có kỳ hạn tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo
rút (tức khi muốn rút ra phải báo trớc).
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi
tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tơng đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần
lớn tồn khoản vào kinh doanh. Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau vói mức lãi
suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm : Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của
đân c cha sử dụng cho tiêu dùng. Các tầng lớp dân c đều có các khoản thu
nhập tạm thời cha sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có
khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện
các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiền tiết kiệm, đặc biệt
là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân
hàng đều cố gắng khuyến khích dân c thay đổi thói quen giữa vàng và tiền
mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lới huy động, đa ra các hình thức huy
động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn.
- Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh
toán hộ và một số mục đích khác, các TCTD có thể gửi tiền tại ngân hàng.
Tuy nhiên, quy mô nguồn này thờng không lớn.
b, Huy động vốn vay
Vốn đi vay là quan hệ vay mợn giữa NHTM và NHTW hoặc giữa các
NHTM với nhau hay với các TCTD khác.
Các NHTM sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn huy động của mình khi ngân
hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động, hay nói
cách khác tạm thiếu vốn khả dụng.
Trong trờng hợp vốn vay trên tiếp tục không đáp ứng đợc cho đủ nhu cầu sử
dụng của NHTM thì NHTM sẽ đi vay của NHTW.
a, Phát hành giấy tờ có giá
Bản chất của nghiệp vụ này là ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ nh
chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu để huy động vốn thờng nhằm mục đích
đã định. Ví dụ phát hành kỳ phiếu để có tiền cho vay khắc phục hậu quả bão lụt,
để cho vay thu mua nông sản, để đầu t cho một dự án
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Việt Anh
Trong phát hành giấy tờ có giá thì chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn
với mệnh giá quy định; trái phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn. Hai loại
phiếu nợ trên đợc ngân hàng phát hành từng đợt, tuỳ theo mục đích.
Trong huy động vốn dới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái
phiếu ngân hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền
gửi huy động. Vì vậy khi thực hiện huy động vốn dới các hình thức này,
các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lợng huy động,
mức lãi suất, thời hạn và phơng pháp huy động.
Vốn này chỉ đợc huy động trong thời gian nhất định, khi đã huy động
đủ khối lợng vốn theo dự kiến các ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán)
kỳ phiếu, trái phiếu.
b, Vay NHNN (vay ngân hàng trung ơng)
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của
NHTM. Trong trờng hợp thiếu hụt dự trữ (dự trữ thanh toán ), NHTM thờng
vay ngân hàng Nhà nớc. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu
(hoặc tái cấp vốn). Các thơng phiếu đã đợc các NHTM chiết khấu (hoặc tái chiết
khấu) trở thành tài sản của họ. Khi cần tiền, ngân hàng mang những thơng phiếu
này đến tái chiết khấu tại NHNN.
NHNN điều hành vay mợn này một cách chặt chẽ; tuỳ thuộc chính
sách tiền tệ từng thời kỳ mà NHTM phải thực hiện các điều kiện đảm
bảo và kiểm soát nhất định.
Thông thờng NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thơng phiếu có
chất lợng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với
mục tiêu của ngân hàng Nhà nớc trong từng thời kỳ. Còn trong điều kiện
cha có thơng phiếu, NHNN cho NHTM vay dới hình thức tái cấp vốn
theo hạn mức tín dụng nhất định.
Một điều cho thấy, đặc biệt là ở những nớc có nền kinh tế phát triển, cho dù
NHTW áp dụng mức lãi suất tái chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao hay thấp thế
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét