Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
xuất sẽ không có hiệu quả, dẫn đến sự hạn chế phát triển của xã hội. Trong nền
kinh tế thị trường hiện nay, khi mà cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt và quyết
liệt thì người tiêu dùng là đối tượng được hưởng lợi. Dưới tác động của cạnh
tranh, các nhân tố sản xuất được sử dụng có hiệu quả hơn, làm giảm tổng giá
thành sản phẩm xã hội. Đối với toàn bộ nền kinh tế, cạnh tranh không chỉ là động
lực thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao mức
sống và phúc lợi cho người dân mà nó còn là yếu tố quan trọng trong công việc
làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế xã hội.
1.2. Các công cụ cạnh tranh chủ yếu.
1.2.1. Cạnh tranh bằng sản phẩm.
Khi bước vào bất cứ một ngành sản xuất kinh doanh nào, trước hết doanh
nghiệp sẽ phải xác định sản xuất cái gì? Để xây dựng cho mình một chính sách
sản phẩm hợp lý nhất. Khi doanh nghiệp chọn sản phẩm là công cụ cạnh tranh thì
phải tập trung giải quyết toàn bộ chiến lược về sản phẩm, làm cho sản phẩm phù
hợp với nhu cầu của thị trường. Chử tín của sản phẩm quyết định chứ tín của
doanh nghiệp và tạo lợi thế có tính quyết định trong cạnh tranh. Để chiến thắng
được đối thủ cạnh tranh về sản phẩm thì doanh nghiệp phải tập trung vào một số
mặt chủ yếu sau:
1.2.1.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm.
Tùy theo sản phẩm khác nhau với các đặc điểm khác nhau để lựa chọn chỉ tiêu
phản ánh chất lượng sản phẩm khác nhau. Nếu tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ tiêu
này thì sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng có nhiều cơ hội dành thắng lợi
trong cạnh tranh trên thị trường.
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chất lượng của sản phẩm thể hiện tính quyết định đến khả năng cạnh tranh của
hàng hóa và từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp ở chỗ:
- Chất lượng tăng sẽ làm tăng giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm,
tăng khối lượng sản phẩm bán ra và kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, từ đó làm
tăng lợi nhuận cũng như thị phần của doanh nghiệp.
- Sản phẩm có chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, từ đó
thị phần của doanh nghiệp sẽ được mở rộng, nâng cao lợi thế cạnh tranh của
doanh nghiệp.
1.2.1.2. Cạnh tranh bằng mẫu mã, bao bì sản phẩm.
Mẫu mã sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng thì khách hàng ngày
càng có nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp hơn. Từ đó, sản phẩm
của doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng. Đây
cũng là một trong những vấn đề mà doanh nghiệp cần chú ý khi tạo lợi thế cạnh
tranh để thắng đối thủ cạnh tranh. Trong những ngành có liên quan đến lương
thực, thực phẩm, những mặt hàng có giá trị sử dụng cao, doanh nghiệp ngoài việc
thiết kế bao bì cho phù hợp còn phải chú trọng lựa chọn cơ cấu sản phẩm cho phù
hợp. Việc lựa chọn cơ cấu sản phẩm nhất thiết phải dựa vào một số sản phẩm chủ
yếu vào cơ cấu thường thay đổi theo sự thay đổi của thị trường, đặc biệt với
những cơ cấu có xu hướng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng.
1.2.1.3. Cạnh tranh bằng uy tín sản phẩm.
Uy tín của doanh nghiệp được xây dựng dựa trên chất lượng, giá cả sử
dụng của sản phẩm, dịch vụ hàng hóa sau bán hàng, thời gian bán hàng, quy mô
của doanh nghiệp một số doanh nghiệp có uy tín với khách hàng đông nghĩa
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
với việc nó có được lợi thế cạnh tranh. Khách hàng khi đó sẽ tin rằng sản phẩm
của doanh nghiệp có chất lượng cao, dịch vụ sau bán tốt Do đó, sản phẩm của
doanh nghiệp khi đưa ra thị trường có thể nhanh chóng thu hút được người tiêu
dùng. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp giảm được một phần chi phí cho việc thu
hút khách hàng, khách hàng sẽ chung thành với doanh nghiệp. Như vậy, đối thủ
cạnh tranh sẽ mất một khoản chi phí lớn cho việc lôi kéo khách hàng của doanh
nghiệp về phía mình.
1.2.2. Cạnh tranh bằng giá.
Giá là một trong những công cụ quan trọng trong cạnh tranh, thường
được sử dụng trong giai đoạn đầu của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bước vào
một thị trường mới. Chẳng hạn, để thăm dò thị trường các doanh nghiệp thường
đưa vào thị trường mức giá thấp và sử dụng mức giá đó để phá kênh phân phối
của đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh bằng giá thường được thể hiện qua các biện
pháp sau:
- Cạnh tranh với chi phí thấp.
- Chiết khấu giảm giá.
- Định giá khuyến mãi.
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Nếu như chênh
lệch về giá giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị
sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp
sẽ đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh. Vì lẽ đó,
sản phẩm của doanh nghiệp sẽ ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu
dùng và cũng có nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh ngày
càng cao.
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Để đạt được mức giá thấp, doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng hạ
giá thành sản phẩm của đơn vị mình. Doanh nghiệp có càng nhiều khả năng hạ
giá thì sẽ có nhiều lợi thế so với đối thủ cạnh tranh. Khả năng hạ giá sản phẩm
phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Chi phí về kinh tế.
- Khả năng bán hàng tốt, do đó bán được khối lượng hàng lớn.
1.2.3. Cạnh tranh bằng việc khai thác lợi thế trong không gian và thời gian.
Loại cạnh tranh này xuất hiện với những vấn đề về chính sách sản phẩm
và chính sách giá cả của sản phẩm. Giá cả của doanh nghiệp cạnh tranh trên thị
trường chênh lệch là không lớn, chất lượng của sản phẩm là tương đối ổn định.
Trong trường hợp như vậy, thời cơ và thời gian có vai trò quan trọng và nó quyết
định về việc buôn bán. Những doanh nghiệp này có quá trình buôn bán thuận tiện
nhất, nhanh nhât sẽ chiến tháng trong cạnh tranh. Để thực hiện được việc bán
hàng nhanh nhất và thuận tiện nhất phải sử dụng các biện pháp sau:
- Ký kết hợp đồng nhanh và thuân tiện.
- Điều kiện bán hàng nhanh và thuận tiện.
- Thủ tục thanh toán nhanh.
1.3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3.1. khái niệm về năng lực cạnh tranh.
Các doanh nghiệp muốn tồn tại trong thị trường cạnh tranh phải có những
vị thế nhất định, chiếm lĩnh những thị trường nhất định. Để tồn tại trong thị
trường, các doanh nghiệp phải luôn trong trạng thái vận động, biến đổi với vận
tốc ít nhất là ngang bằng so với đối thủ cạnh tranh. Trên thực tế, ta thấy trong
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thập kỷ vừa qua, thế giới kinh doanh đang sống trong môi trường mà sự xáo động
của nó không ngừng làm cho nhà kinh tế phải ngạc nhiên. Sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp, các quốc gia ngày càng gay gắt và quyết liệt. Vì vậy, trong môi
trường cạnh tranh doanh nghiệp phải đưa ra những biện pháp nhằm chiến thắng
đối thủ cạnh tranh, chỉ có như vậy doanh nghiệp phải đưa ra những biện pháp
nhằm chiến thắng đối thủ cạnh tranh, chỉ có như vậy doanh nghiệp mới có chỗ
đứng trên thị trường.
Khái niệm “năng lực cạnh tranh” được đề cập rất nhiều trong tài liệu kinh
tế. Có ý kiến cho rằng “năng lực cạnh tranh” có thể được hiểu là “ Năng lực cạnh
tranh là khả năng vượt qua các đối thủ nhờ việc mang lại cho khách hàng giá trị
lớn hơn hoặc bằng với giá cả thấp hơn hoặc cung cấp nhiều lợi ích hơn để phù
hợp với giá đắt”.
Hoặc là“Năng lực cạnh tranh là khả năng tận dụng nguồn lực của mình,
cách thức và biện pháp vượt trội hơn so với đối thủ canh tranh hiện tại không có
hoặc có thể có được trong một thời gian dài”, nó nhằm phân biệt năng lực của
doanh nghiệp khi đem so sánh với doanh nghiệp khác. Theo quan niệm này
“Năng lực cạnh tranh” có thể được biểu hiện dưới dạng năng lực hoạt động của
doanh nghiệp - Những việc mà doanh nghiệp làm được tốt hơn so với các doanh
nghiệp khác hoặc những việc mà doanh nghiệp làm được mà doanh nghiệp khác
không làm được.
Theo quan điểm của nhà quản trị chiến lược Michael Porter “ Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản
phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế ) của doanh nghiệp đó”. Với cách tiếp cận
này thì năng lực cạnh tranh được quy định bởi các yếu sau:
- Số lượng công ty mới tham gia vào một ngành.
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Sự có mặt (hay thiếu vắng) của một sản phẩm thay thế.
- Vị thế của khách hàng.
- Uy tín của nhà cung cấp.
- Tính quyết liệt của các đối thủ cạnh tranh.
Nói tóm lại, “Năng lực cạnh tranh được xem xét như là khả năng vận
dụng những ưu thế riêng, vốn có của doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh
tranh và đạt được mục tiêu nhất định của mình”
Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, mở rộng thị trường hoạt động
của mình, nhằm cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm với chất lượng cao, giá
thành hạ, thu hút nhiều khách hàng và đồng thời cũng tạo điều kiện cho người
dân ở các quốc gia có thêm nhiều cơ hội được tăng cường hiểu biết lẫn nhau, trao
đổi văn hóa, kinh nghiệm quản lý kinh doanh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá qua các tiêu chí:
* Hiệu quả hoạt động của công ty.
* Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ.
* Khả năng đổi mới và khả năng thích ứng với những thay đổi của doanh
nghiệp.
* Khả năng duy trì và phát triển thị phần.
1.3.2. Các mô hình để phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3.2.1. Mô hình năm thế lực cạnh tranh cơ bản của Michael Porter.
Michael Porter nhà quản trị chiến lược nổi tiếng của trường đại học
Harvard trong cuốn sách “Competitive Strategy: Techniques Analyzing
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Industriesand Competitors” đã đưa ra nhận định về các lực lượng cạnh tranh
trong mọi ngành sản xuất kinh doanh.
Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp.
Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định
đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp.
Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh
tranh, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành.
Áp lực cạnh tranh từ khách hàng .
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành.
Khách hàng được phân làm 2 nhóm:
+Khách hàng lẻ.
+Nhà phân phối.
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cả hai nhóm đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản
phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành
thông qua quyết định mua hàng.
Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:
Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trên
trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai. Đối thủ tiềm ẩn
nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố
sau:
+ Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ
suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành.
+Những rào cản gia nhập ngành: là những yếu tố làm cho việc gia nhập
vào một ngành khó khăn và tốn kém hơn .
Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế.
Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn
nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành.
Ta có thể lấy luôn ví dụ sau đó mới đưa ra các nhận định về áp lực cạnh
tranh chủ yếu của sản phẩm thay thế:
Phần lớn thành viên trong Saga là các quý ông. Mà các quý ông thì có sở
thích uống bia, rượu khi đã uống vào rồi thì là say, say thì các phu nhân sẽ không
thích. Các bác thường đổ lỗi cho bạn bè, đồng nghiệp, đối tác để biện cớ cho
việc mình tiêu thụ lượng lớn bia để bổ sung doanh thu cho các hàng bia hơi. Vậy
bia thỏa mãn nhu cầu gì:
+ Gặp gỡ đối tác.
+ Tụ họp bạn bè.
+ Bàn công việc với đồng nghiệp còn vô vàn lý do khác nhưng ta xét trên
phương diện công việc nên chỉ dùng một vài yếu tố để nhận định.
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành .
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với
nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh. Trong một
ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh trên các đối thủ:
+ Tình trạng ngành: Nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng, số lượng đối thủ cạnh
tranh.
+ Cấu trúc của ngành: Ngành tập trung hay phân tán.
Áp lực từ các bên liên quan mật thiết .
Đây là áp lực không được đề cập trực tiếp ngay trong ma trận nhưng trong
quyển sách " Strategic Management & Business Policy" của Thomas L. Wheelen
và J. David Hunger có ghi chú về áp lực từ các bên liên quan mật thiết:
+ Chính phủ.
+ Cộng đồng.
+ Các hiệp hội.
+ Các chủ nợ, nhà tài trợ.
+ Cổ đông.
1.3.2.2. Ma trận SWOT để phân tích năng lực cạnh tranh.
Phân tích SWOT sẽ giúp các doanh nghiệp “cân - đong – đo - đếm” một
cách chính xác trước khi quyết định thâm nhập thị trường quốc tế. Phân tích
SWOT là một trong 5 bước hình thành chiến lược kinh doanh của một doanh
nghiệp bao gồm: xác lập tôn chỉ của doanh nghiệp, phân tích SWOT, xác định
mục tiêu chiến lược, hình thành các mục tiêu và kế hoạch chiến lược, xác định cơ
chế kiểm soát chiến lược. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp trong
việc hình thành chiến lược kinh doanh nội địa mà còn có ý nghĩa rất lớn trong
việc hình thành chiến lược kinh doanh quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
của doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp muốn phát triển, từng bước tạo lập uy
tín, thương hiệu cho mình một cách chắc chắn và bền vững thì phân tích SWOT
là một khâu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.3.2.3. Mô hình phân tích chuỗi giá trị.
Tất cả các chiến lược, chính sách có nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh của
của doanh nghiệp phải được xây dựng trên cơ sở phân tích kỹ lưỡng tình hình
nội bộ doanh nghiệp, xác định rõ những điểm mạnh và điểm yếu. Việc phân tích
thường gặp khó khăn, thiếu tính khách quan vì nhiều lý do khác nhau. Để có thể
khai thác tốt nhất những thời cơ và hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro, các
nhà quản lý phải cần thiết phải vận dụng tối đa sức mạnh và khắc phục những
điển yếu của chính bản thân doanh nghiệp. Trong thực tế, người ta thường vận
dụng phương pháp phân tích chuỗi giá trị để phân tích năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Phương pháp này giả định mục đích chủ yếu của doanh nghiệp là
tạo ra các giá trị (được đo lường bằng tổng doanh thu). Trong phương pháp này,
toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp được phân chia làm hai mảng: những
hoạt động cơ bản và những hoạt động hỗ trợ.
Sơ đồ: Mô hình phân tích chuỗi giá trị
CÁC
HOẠT GIÁ
ĐỘNG TRỊ
BỔ GIA
Lê Đức Anh – Du lịch 46A
14
Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp
Quản trị nhân lực
Phát triển công nghệ
Quan hệ với các nhà cung cấp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét