Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

hỗ trợ phát triển ngành điều ở Đắc Lắk



2
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
Cashew production per province (Mt)
170,000 to 170,000
70,000 to 170,000
25,000 to 70,000
12,000 to 25,000
10,000 to 12,000
7,000 to 10,000
6,000 to 7,000
4,000 to 6,000
3,000 to 4,000
1,000 to 3,000
all others
Kien Giang
An Giang
Long An
Tay Ninh
Binh Duong
Binh Phuoc
Dak Lak
Dong Nai
Kon Tum
Gia Lai
Quang Nam
Ba Ria Vung Tau
Binh Thuan
Lam Dong
Ninh Thuan
Khanh Hoa
Phu Yen
Binh Dinh
Quang Ngai

đến 170,000
đến 170,000
đến 70,000
đến 25,000
đến 12,000
đến 10,000
đến 7,000
đến 6,000
đến 4,000
đến 3,000
khác
2 Sự phát triển của ngành điều Việt Nam nói chung và Dak Lak nói riêng
2.1 Tổng quát
Cây điều (Anacardium occidentale) có nguồn gốc ở Brazil, do người Bồ Đào Nha phát hiện
ra vào thế kỷ 16 và sớm trở thành một sản phẩm thương mại. Ngoài Brazil, cây điều ban đầu
còn được trồng ở Mozambique và sau đó là Ấn Độ và dần được đem đến Châu Á. Ngày
nay, cây điều được trồng ở nhiều nông/lâm trường lớn cũ
ng như với quy mô hộ gia đình. Cả
quả giả và hạt điều đều có thể được sử dụng cho kinh doanh và tiêu thụ nội địa.
Quả điều gồm phần quả giả dính với phần hạt. Mặc dù quả giả chiếm tới 90 % lượng quả,
nhưng ở Việt Nam mới chỉ có phần hạt là được sử dụng như một sản phẩ
m thương mại.
Kể từ năm 1994, sản lượng điều thế giới đã tăng gấp đôi với sự tăng trưởng thực sự ở
nhiều nước, đặc biệt là Việt Nam. Ấn Độ đi đầu trong công tác chế biến hạt điều hiện đại và
đã nắm giữ vai trò là nước sản xuất điều hàng đầu trong nhiều thập k
ỷ trước năm 2002. Từ
năm 1999, ngành điều Việt Nam đã lớn mạnh rất nhanh, bắt đầu với sản lượng 18,500 tấn,
đạt doanh thu 110 triệu USD, tăng tới 63,000 tấn so với năm 2002 (doanh thu 214 triệu
USD). Hiện nay, sản lượng điều của Việt nam đã đạt mức cao hơn của Ấn Độ tới 55%
(FAOSTAT, 2006)
Vùng sản xuất điều chính ở Việt Nam gồm các tỉ
nh: Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Bình
Phước. Bình Phước có sản lượng 170,000 tấn trên 170,000 ha năm 2004 và là tỉnh có sản
lượng điều lớn nhất Việt Nam (Hình 1).
Hình 1 Sản lượng điều ở Việt Nam (tấn)
















3
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
2.2 Kế hoạch phát triển điều ở Dak Lak
Từ năm 2004, phát triển điều ở Dak Lak đã nằm trong kế hoạch chiến lược nông nghiệp của
tỉnh (Sở NN & PTNT, 2004). Cây điều được coi là cây nông nghiệp có giá trị cao vì một số
nghuyên nhân sau:
1. Loại cây dễ tính này có thể tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho các vùng sâu, vùng xa có
chất đất xấu.
2. Cây điều được coi là một lựa chọn phù hợp
để thay thế những vườn cà phê ở các vùng
đất xấu vốn tiêu tốn nhiều nước lại kém hiệu quả.
3. Cây điều có thể tạo ra nhiều sản phẩm phụ như thực phẩm, thức uống, gỗ và dầu cho
công nghiệp hoá chất.
4. Điều là loại cây chịu hạn, không cần đầu tư nhiều (lao động và các chất nông hoá), sống
được ở các vùng đất kém màu mỡ và có thể được tr
ồng ở những nơi đất dốc và trồng
xen theo kiểu nông lâm kết hợp.
Từ những năm 1996 đến 2004 diện tích trồng điều ở Dak Lak tăng từ 9,305 ha đến 23,858
ha. Tuy nhiên, sản lượng và chất lượng lại không cao vì một số nguyên nhân sau.
1. Việc chọn và tạo giống thích hợp với điều kiện địa phương chưa được chú trọng.
2. Việc đánh giá và hoạch định vùng đất cho tr
ồng điều chưa được quan tâm đúng mức,
chưa xét đến các yếu tố như: chất đất, địa hình, khí hậu và quy mô.
3. Việc đưa cây điều vào sản xuất chưa đi đôi với các chương trình tập huấn được tổ chức
hiệu quả dành cho nông dân, dẫn đến thiếu kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp, chế biến,
năng suất, chất lượ
ng không ổn định và sản xuất không bền vững.
4. Việc chọn giống cho đến nay chủ yếu mới chỉ dựa trên sản lượng hạt tươi mà không tính
đến khả năng kháng sâu bệnh cũng như chất lượng của nhân điều thành phẩm.
5. Do ngành chế biến điều còn khá mới mẻ ở Dak Lak đã dẫn đến việc các nhà chế biến
thiếu kiến thức chuyên môn và thường gặ
p phải các vấn đề với những quy định không rõ
ràng về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh và môi trường.
Hiện nay, diện tích điều kinh doanh đạt 6,087 ha, chiếm khoảng 25 % tổng diện tích trồng
điều của tỉnh (23,858 ha). Mục tiêu của tỉnh là đạt 25,000 – 27,000 ha diện tích kinh doanh
vào cuối năm 2010, với tổng sản lượng đạt vào khoảng 35 đến 40 ngàn tấn mỗi năm. Đến
nay, kế hoạch mở rộng di
ện tích trồng điều đã đạt đến 90 % trong khi đó kế hoạch về sản
lượng mới chỉ đạt có 12%.
Hiện nay, vùng sản xuất điều chính của tỉnh là các huyện Ea Sup, Ea Kar, Krông Ana, Krông
Năng và Cu M’gar (Bảng 1, Hình 2). Những huyện khác cũng có trồng điều nhưng ít hơn
gồm Krông Bông, Ea H’Leo, Buôn Đôn, Buôn Ma Thuột, Krông Pach, Lak and Krông Buk.


4
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
Bảng 1 Phân bố sản xuất điều ở Dak Lak
Huyện Diện tích
Diện tích
kinh
doanh
Tổng sản
lượng
Năng suất
ha ha T kg/ha
Ea Sup 14,211 1,761 1,426 810
Ea Kar 3,040 1,406 1,688 1,201
Krông Ana 2,875 64 51 797
Krông Năng 1,406 41
Cu M’gar 1,161 382 342 895
Krông Bông 750 350 315 900
Ea H’Leo 648 65 75 1,154
Buôn Đôn 637 358 359 1,003
Buôn Ma Thuột 227 93 128 1,376
Krông Pach 163 163 218 1,337
Lak 77 39 50 1,282
Krông Buk 28
M’Drak
Tổng 23.858 6.087 4.652
Bình quân 746
Nguồn: Niên giám thống kê 2005; Thứ tự giảm dần về diện tích (ha)
Hình 2 Tổng diện tích trồng điều ở mỗi huyện trong tỉnh Dak Lak (ha)






















12º30'
12º00'
107º30'
108º00'
109º00'
0
kilometres
20
13º00'
13º30'
108º30'

PHU YEN
M 'DRAK
KHANH HOA
LAM DONG
KRONG BONG
KRONG PACH
KRONG NANG
EA KAR
KRONG BUK
CU M'GAR
BUON MA THUOT
EA SOUP
GIA LAI
EA HLEO
LAK
KRONG ANA
DAK NONG
CAMBODIA
BUON DON
648
14,211
637
1,161
28
163
227
2,875
77
750
0
3,040
1,406


5
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
2.3 Các chính sách hỗ trợ
Để tạo điều kiện hỗ trợ kế hoạch phát triển điều, tỉnh sẽ áp dụng một số quy định đối với các
nhà sản xuất, chế biến điều và các nhà cung cấp dịch vụ. Những quy định này nhằm mục
đích: (i) tạo môi trường đầu tư thuận lợi, (ii) xúc tiến thương mại, (iii) thực thi hệ thống bảo
hi
ểm giá và (iv) cung cấp hỗ trợ kỹ thuật (cây giống, dịch vụ khuyến nông,…) và hỗ trợ cải
thiện hạ tầng. Các quy định này được mô tả chi tiết trong Quyết định 80 của Thủ tướng
chính phủ, tập trung vào các chủ đề sau.
2.3.1 Chính sách về đất đai

Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh được chỉ định tạo điều kiện hỗ trợ công tác đánh giá đất chưa
sử dụng hoặc không phù hợp với hệ thống sử dụng đất hiện tại của các hộ gia đình muốn
đầu tư trồng điều.
Nếu chất đất phù hợp cho trồng điều, tỉnh sẽ có những ưu đãi về quyền s
ử dụng đất cho các
hộ dân và các tổ chức kinh tế để có thể thế chấp vay vốn của ngân hàng hay các quỹ tín
dụng.
2.3.2 Chính sách về thuế

Đối với đất mới khai hoang hoặc trước có trồng các loại cây khác nhưng hiện nằm trong
vùng ưu tiên phát triển cây điều thì áp dụng các chính sách về thuế giống như đối với cây
công nghiệp dài ngày (được miễn hoặc giảm thuế trong giai đoạn kiến thiết).
Quyết định 80 cũng đề ra rằng tỉnh sẽ bao cấp phân bón và cây giống trong 2 đến 3 năm đến
cuối năm 2005. Chính sách này áp dụng ở nh
ững huyện nằm trong quy hoạch phát triển
điều (trợ giá cây giống 50 %), nhưng chính sách trợ giá này lại không áp dụng cho những
huyện không thuộc vùng quy hoạch phát triển điều của tỉnh (như huyện Lak).
2.3.3 Chính sách về vốn

Quyết định số 80 còn chỉ ra rằng tỉnh nên ưu tiên đầu tư cho sản xuất điều thông qua các
nguồn vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển Dak lak và Ngân hàng chính sách xã hội.
Tỉnh nên hỗ trợ các dự án đầu tư cho cây điều của các doanh nghiệp, nông trường, hợp tác
xã thông qua việc phân bổ công quỹ cho trợ giá cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tập
huấn về các kỹ thuật nông nghiệp và chế biế
n cũng như phát triển vườn ươm.
Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đặc biệt là Ngân hàng Chính sách Xã hội nên thực
hiện các chính sách đảm bảo tín dụng trung hạn cho các hộ gia đình và nông trường với ít
nhất là 3 đến 4 triệu đồng một héc ta cho những vườn mới trồng mà không phải thế chấp và
1,5 đến 2 triệu đồng một héc ta chi phí điều hành các nông trường điều.
Cuối cùng, Quyết định 80 yêu cầu tỉnh phân bổ
ngân sách để khuyến khích sản xuất và sử
dụng các phụ phẩm từ điều để làm thức uống, mứt, dầu…cũng như phát triển thị trường cho
các phụ phẩm này.
Các chính sách nêu trên rất giống những phương pháp đã áp dụng vào giữa những năm 90
cho việc phát triển ngành cà phê ở Dak Lak. Về cơ bản, nhà nước sẽ trợ cấp: (i) lãi suất liên
quan đến các nông sản xuất khẩu khi giá trên thị
trường quốc tế giảm, (ii) hỗ trợ một số mặt
hàng xuất khẩu khi xảy ra tình trạng thua lỗ do khả năng cạnh tranh yếu hoặc do một số
nguyên nhân khác, và (iii) có chế độ khuyến khích, động viên các nhà xuất khẩu tiếp cận
được các thị trường mới, quảng bá các sản phẩm xuất khẩu mới hay tăng sản lượng xuất
khẩu đến các thị trường nước ngoài.



6
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
2.4 Mức độ phù hợp cho việc sản xuất điều ở Dak Lak
Cây điều là loại cây xanh nhiệt đới phát triển nhanh. Cây điều phát triển tới độ cao 12m, rất
nhạy cảm với sương giá (nhiệt độ tối thiểu là trên 5
0
C). Vì vậy cây ưa những vùng không
quá cao (thường là độ cao không quá 600m so với mực nước biển). Mặc dù điều có thể chịu
được nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình tháng vào khoảng 27 °C được coi là lý tưởng. Lượng
mưa trung bình năm khoảng 1,000 đến 2,000 mm, có mùa khô rõ ràng sẽ cho cây điều điều
kiện sinh trưởng lý tưởng, nhưng cây cũng dễ tính với điều kiện khô hạn hơn (Bảng 2). Nên
tránh độ ẩm cao bởi nó có th
ể giảm khả năng ra hoa, thụ phấn và đậu quả cũng như tăng
nguy cơ sâu bệnh. Cây điều cũng sống được trên những vùng đất cát pha, bạc màu với độ
pH vào khoảng từ 4.5 đến 6.5. Như vậy, cây điều không đòi hỏi phải chăm sóc nhiều và các
thực hành nông nghiệp như: bón phân, tưới, phun thuốc, tạo hình, mặc dù được khuyến cáo
cho thâm canh, vẫn có thể giới hạn ở
mức thấp nhất đối với quy mô hộ gia đình.
Bảng 2 Yêu cầu của cây điều và đặc điểm đất đai ở Dak Lak
Đặc điểm vật lý Đơn vị Yêu cầu của cây Đặc điểm vùng
Nhiệt độ trung bình năm
0
Celcius 27.0 23.5
Nhiệt độ thấp nhất
0
Celcius
≥ 5.0
11.0 -15.0
Nhiệt độ cao nhất
0
Celsius 45.0 36.0 - 40.0
Độ ẩm không khí trung bình
năm
% 85 83 - 85
Lượng mưa trung bình năm mm 1,000 - 2,000 1,400 - 2,400
Tốc độ gió trung bình năm m/s 2-3 2-3
Độ cao m asl < 600 500 (trung bình)
Nguồn: Sở NN & PTNT, 2004; FAO, 2001
So sánh các đặc điểm vùng của tỉnh Dak Lak như đất đai, khí hậu, địa hình… với các yêu
cầu của cây điều sẽ cho phép ta đánh giá về tính phù hợp của loại cây trồng này. Bản đồ về
sự phù hợp của đất trong Hình 3 được xây dựng với tỷ lệ 1:250,000 nên có thể không rõ chi
tiết của từng huyện. Hơn nữa, bản đồ được phát triển dựa trên các thông tin chung về cây
trồng (FAO, ECOCROP) ch
ứ không tính đến đặc điểm riêng của từng giống điều ở Việt
Nam. Chính vì vậy, nhiều đơn vị trong bản đồ được xếp vào loại khá phù hợp (loại S2); đa
phần, mức phù hợp này chỉ ra nguy cơ xói mòn nhẹ, tầng trên cùng là đá, dưới là tầng đất
cái và đất cát pha, loại đât này có thể gây khó khăn cho cây sinh trưởng ở giai đoạn kiến
thiết. Mặc dù vậy, chuyế
n khảo sát cho thấy rõ ràng là các loại đất này vẫn có tiềm năng lớn
cho trồng điều, và vì vậy, những loại đất thuộc loại khá phù hợp trên bản đồ có thể được coi
là phù hợp (Bảng 3, Ảnh 1).
Nhìn chung, bản đồ về sự phù hợp của đất khá trùng khớp với kế hoạch phát triển điều của
tỉnh, ưu tiên 7 Huyện: Ea Sup, Buôn Đôn, Cu M’gar, Ea Kar, Krông Pak, Krông Ana và
Krông Bông (Sở NN & PTNT, 2004). Điều này cho thấ
y, ngoài công tác xoá đói giảm nghèo
và tạo thu nhập ở vùng sâu vùng xa, tỉnh cũng rất quan tâm tới việc giảm lượng nước sử
dụng để tưới cho cây cà phê ở những vùng ven cao nguyên đất đỏ vốn không phù hợp cho
cây cà phê.
Nhìn cận cảnh hơn vào một số huyện nghèo vùng sâu vùng xa như Lak và Ea H’Leo
1
cũng
giúp ta thấy được tiềm năng đáng kể ở những huyện này. Đúng là phần lớn đất ở Huyện Lak
là đât thấp, khó thoát nước với kết cấu đất sét đặc vốn không phù hợp cho trồng điều, nhưng
cả huyện Lak và Ea H’Leo đều có địa hình chia cắt, gồm các loại đất cát pha do đá granite
sinh ra trên độ dốc vừa phải (cao nhất là 8 %). Các vùng này có thể phát triển cây điều
được, hơn nữa, huyện Lak là huyện loại 3 (huyện nghèo nhất) và điều được coi là cây lâm

1
Huyện Ea H’Leo không nằm trong chương trình phát triển điều của tỉnh, nhưng nhận được hỗ trợ của Uỷ Ban
Dân tộc Miền núi của tỉnh cho chương trình phát triển nông lâm nghiệp; hiện huyện đang thực hiện chương trình
cho phát triển cây điều và cây cacao vốn được coi là cây lâm nghiệp


7
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
nghiệp (chương trình 327 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc) nên trở thành loại cây nông lâm
nghiệp lý tưởng để trồng trên các vùng đất dốc, trống, góp phần xoá đói giảm nghèo. Các
quan chức huyện Lak rất mong muốn khuyến khích phát triển cây điều trong vùng, nhưng do
không nằm trong chương trình của tỉnh, huyện không được hưởng lợi từ các chính sách hỗ
trợ phát triển điều. Tuy nhiên, cả hai huyện đều rất tin tưởng vào l
ợi ích mà cây điều có thể
mang lại. Vì vậy, Ea H’Leo muốn tăng diện tích điều (hiện nay là 2,815ha) lên 4,000 ha và
dự định xây dựng một nhà máy chế biến trong vòng từ nay đến 2010. Huyện Lak hiện có
nguồn vốn trên 300 triệu đồng (thực hiện ở 3 xã: Ea H’Leo, Ea Sol, Ea Hiao) trong năm
2006. Lak hiện có diện tích trồng điều là 172 ha và đang tiến hành một chương trình trình
diễn điều với WASI và Sở NN & PTNT. Mặc dù không nằm trong kế hoạch phát tri
ển điều
của tỉnh, huyện Lak hiện vẫn đang phát triển trồng điều theo chương trình 132 và dự định
tăng diện tích trồng điều đến 500ha trong năm 2006.
Bảng 3 Mức độ phù hợp của đất theo từng huyện (ha)
Huyện
Phù hợp
(S1)
Khá phù hợp
(S2)
Hơi phù hợp
(S3)
Không phù hợp
(N)
Cu M'Gar 38,674 11,493 2,243 30,238
Krông Ana 23,067 5,704 329 33,788
Krông Buk 17,589 31,578 263 14,739
Buôn Ma Thuột 16,544 5,047 - 15,183
Ea H’Leo 13,330 32,590 4,870 83,933
Krông Pach 13,275 16,837 415 32,423
Krông Năng 10,325 22,895 1,688 26,990
Buôn Đôn 4,340 16,322 9,230 107,701
EaKar 2,764 5,849 - 95,645
Krông Bông 2,397 5,325 508 118,889
Lak 2,150 9,397 813 113,220
Ea Sup 440 48,368 4,233 120,554
M'Drak - - 130,471 137,593
Tổng 144,895 211,405 155,063 930,896

Hình 3 Độ phù hợp về mặt vật lý của đất đối với trồng điều ở tỉnh Dak Lak
tỉ lệ: 1:250 000
Ảnh 1 Đất cát pha, kết
cấu tốt, tơi xốp
(Acrisol), giàu chất
hữu cơ












PHU YEN
M D'RAK
KHANH HOA
LAM DONG
KRONG BONG
KRONG PACH
KRONG BUK
KRONG NANG
EA KAR
EA SOUP
GIA LAI
EA HLEO
CU M'GAR
BUON MA THUOT
LAK
KRONG ANA
DAK NONG
CAMBODIA
BUON DON
12º30'
12º00'
107º30'
108º00'
109º00'
0
kilometres
20
13º00'
13º30'
108º30'
Suitability for Cashew
Very suitable
Moderately suitable
Marginally suitable
Not suitable
rất phù hợp
khá phù hợp
hơi phù hợp
không phù hợp


8
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
3 Chuỗi cung ứng ở Dak Lak
3.1 Sản xuất
3.1.1 Hệ thống canh tác

Nhận thấy có ba hệ thống sản xuất như sau:
i. Vườn của những hộ nông dân cá thể

Các nhà sản xuất là hộ nông dân thường sở hữu từ một vài cây đến khoảng 4 héc ta
điều. Giống được trồng thường tuỳ vào từng vùng. Có nhiều khác biệt lớn giữa nông
dân trồng điều từ giống cây ghép hay trồng điều thực sinh.
ii. Các công ty chế biến nhà nước có lâm trường

Một số công ty chế biến được hình thành trên cơ sở các lâm/nông trường cà phê nhà
nước (vd Nhà máy chế biến Chư Quynh vốn là Việt Đức 5). Sự khác nhau giữa hệ
thống mới và cũ là cây điều được trồng trên loại đất tốt hơn. Nông dân làm việc trên
đất của công ty được tập huấn và hỗ trợ đầu vào.
iii. Các doanh nghiệp nông lâm nhà nước

Nông dân thuê đất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp quyết định vùng đất nào dành
cho trồng trọt và khai hoang. Nông dân chịu trách nhiệm quản lý vườn của mình và
các khoản đầu vào cho canh tác. Nông dân sau đó sẽ nộp sản cho doanh nghiệp
(khoảng 40-70kg/ha/năm ở Ea Sup, tuỳ vào sản lượng và phần hỗ trợ từ doanh
nghiệp), phần còn lại thuộc về nông dân.
3.1.2 Giống điều

Khảo sát thực tế cho thấy có rất nhiều loại giống khác nhau trên thị trường do nhiều nhà
cung cấp khác nhau đưa ra. Giống có thể do những đối tượng sau bán:
- Doanh nghiệp nhà nước địa phương (vd: Ea H’Leo);
- Phòng khuyến nông huyện (vd: Lak) có hoặc không sự tham mưu của WASI, được hoặc
không được trợ giá của tỉnh, tuỳ vào thực tế là huyện đó có được coi là có tiềm năng phát
triển điều hay không theo kế ho
ạch phát triển điều của tỉnh (vd: Phòng khuyến nông
huyện Lak không được hỗ trợ cho việc đưa giống cho nông dân); các loại giống được
khuyến cáo sử dụng là ES05, ES08
2

- Các nông dân từ các tỉnh khác như Bình Phước (vd: ở Ea H’Leo; SC13, EK15, SC40,
BS20, BGW15);
- Hội nông dân huyện với sự tham mưu của WASI (vd: ở Ea H’Leo).
Ở Dak Lak, từ năm 1992 đã có nghiên cứu về cây điều do WASI thực hiện. Quá trình nghiên
cứu này bị gián đoạn rất lâu trong khoảng những năm 90 bởi vì lúc đó canh tác cà phê được
ưu tiên. Đến năm 1999 việc nghiên cứu lại được bắt đầu lại. Từ 2000 đến 2001, viện WASI

bộ chọn ra 171 giống điều tốt nhất ở Ea Sup, Ea Kar, Cu M’gar và Buôn Đôn. Sau 2 năm,
đến 2002, chỉ còn 106 giống được chọn, trong đó 5 giống đã được uỷ ban khoa học của Bộ
NN&PTNT chính thức công nhận (đó là các giống ES-04, EK-24, BD-01, KP-11 và KP-12).
Các giống đó được chọn vì năng suất cao, cỡ hạt to và tỉ lệ nhân cao (Sở NN & PTNT,
2004).
Trong khi phỏng vấn với các nông dân và nhà chế biến, chúng tôi thu được những thông tin
khá trái ngược về nhữ
ng điểm yếu và điểm mạnh của cây điều ghép. Mặc dù cây điều ghép
được chính thức cho là mang lại sản lượng cao hơn và chất lượng tốt hơn (cỡ nhân to hơn),
một số nhà sản xuất và chế biến vẫn tin rằng cây điều thực sinh vẫn tốt hơn. Một nhà chế
biến tư nhân ở Ea Kar thậm chí chỉ thu mua điều nguyên liệu từ cây
điều thực sinh (Ảnh 2).

2
Viết tắt theo nguồn gốc của giống, vd: ES = Ea Sup, EK = Ea Kar, BD = Buôn Đôn.


9
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
Ảnh 2 Cây điều ghép mới trồng trên đất có độ dốc cao ở huyện Lak và cây ghép đã trưởng
thành ở Ea H’Leo







3.1.3 Các phương pháp canh tác

Làm đất: khai hoang và làm đất phần lớn được làm thủ công bằng cách đốt cây cối đang
mọc trên đất đó. Tuỳ vào khả năng tài chính, các nông dân cá thể hay nông dân hợp đồng
với các doanh nghiệp quốc doanh có thể sử dụng máy cày (Ảnh 3) (vd: ở Ea Sup).
Ảnh 3 Làm đất bằng máy ở huyện Ea Sup







Quản lý vườn ươm: trong chuyến khảo sát, chúng tôi chỉ thăm được các vườn ươm do nông
dân dân tộc thiểu số thực hiện ở làng Chăm với sự giám sát của phòng khuyến nông
huyện và sự hỗ trợ của dự án phát triển nông thông Dak Lak ở Ea H’Leo (Ảnh 4). Mặc dù
hạt chưa nảy mầm nhưng quan sát ban đầu cho thấy các bầu ươm có vẻ hơi ngắn (27 cm)
nếu so với khuyến cáo của WASI (30cm). Kích thướ
c tối ưu là 33 x 13 cm. Chiều cao của
bầu ươm rất quan trọng vì rễ của cây điều là rễ ăn sâu. Tất cả những bầu ngắn có thể cản
trở sự phát triển của rễ. Để tránh rễ ăn xuống đất ngoài bầu, nên thường xuyên dịch
chuyển bầu. Không rõ đất bầu được trộn như thế nào nhưng trông có vẻ rất tốt (tơi xốp).
Tuy nhiên,
đất làm bầu được khuyến cáo là chỉ sử dụng đất mặt có nhiều chất hữu cơ và
có hàm lượng nước và dinh dưỡng cao.
Ảnh 4 Vườn ươm do trạm khuyến nông huyện hướng dẫn với sự hỗ trợ của dự án phát triển
nông thôn Dak Lak ở làng Chăm, Xã Ea Sol, Huyện Ea H’Leo



10
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
Trồng điều: Nông dân dùng rất nhiều phương pháp canh tác khác nhau (Ảnh 5). Về cơ bản,
chúng tôi thấy có ba phương pháp chính. (i) Phương pháp đơn giản nhất là trồng cây
giống trực tiếp xuống đất vườn, làm hố có cỡ vừa với bầu nhựa, không cần thêm phân
bón. (ii) Một số nông dân trồng cây giống trong hố trồng với kích thước 0.5 x 0.5 x 0.5 m
hoặc 0.6 x 0.6 x 0.6 m không bón thêm phân. (iii) Cách tiến bộ nhất và tốt nhất là như cách
2 nhưng có bổ sung phân hữ
u cơ (compost). Phương pháp này có lợi ích là cung cấp cho
cây con đủ chất dinh dưỡng, cũng như cải tạo chất đất, nghĩa là tăng hàm lượng chất dinh
dưỡng và nước trong đất cát pha. Kỹ thuật sau được khuyến cáo trên các vườn trình diễn
của trạm khuyến nông và Dự án PTNT DL ở huyện Lak và Ea H’Leo. Nông dân được
khuyên đào hố với kích thước 0.6 x 0.6 x 0.6 m và bỏ thêm khoảng 15 – 20 kg phân bón
hữu cơ trộn với 0.5 kg NPK mỗi hố.
Ảnh 5 Cây điề
u mới trồng có (trái) và không (phải) cải tạo đất

Mật độ trồng: các nhà cung cấp khác nhau cũng cho những lời khuyên khác nhau. Hiện nay
Trung tâm khuyến nông khuyên cáo mật độ 5 x 5 m, WASI 7 x 7 m và Sở KHCN 8 x 8 m.
Mật độ khuyến cáo tuỳ vào chất đất và độ dốc; độ dốc càng cao thì mật độ trồng ban đầu
càng cao, đất càng xấu thì mật độ cây trồng càng thưa. Mật độ phổ biến nhất là 7 x 8 m,
nhưng cần chuyển giao kỹ thuật tốt hơn cho nông dân.
Làm cỏ: Làm cỏ chủ yế
u bằng phương pháp thủ công, một số nông dân có điều kiện kinh tế
tốt hơn thì thuê một công ty phun thuốc diệt cỏ (vd: Ea Sup). Ở những vùng nghèo và vùng
sâu, vùng xa (Lak, Ea H’Leo), các vườn điều thường đầy cỏ (Ea H’Leo, Lak). Ở những
vùng đất có độ dốc cao, không nên làm đất để tránh xói mòn.
Xen canh: Phần lớn nông dân có vườn điều lớn đều trồng xen canh các loại cây màu như
đậu, ngô, sắn… để sử dụng và đôi khi là cả bán nếu
đất tốt, cho năng suất cao (vd: đậu
xanh ở Ea Sup). Phần không sử dụng đến của cây xen canh được để lại ngay trên vườn.
Ngoài việc giảm rủi ro thu nhập và có thêm nguồn lương thực, xen canh bằng các loại cây
họ đậu có lợi ích là tăng chất dinh dưỡng trong đất, trong khi đó, việc để lại phần cây
không sử dụng sau khi thu hoạch cũng làm giảm nguy cơ xói mòn trên đất dốc và cải thiện
kết cấu
đất.
Tưới tiêu: Tưới tiêu vốn không phổ biến cho cây điều ở Dak Lak. Mặc dù WASI và TTKN có
khuyến cáo nên tưới cho cây điều non trong một hoặc hai năm đầu, nhiều vườn điều chưa
bao giờ được tưới trông vẫn rất tốt ở Krông Ana, Ea Sup và Ea Kar. Một số nông dân tưới
trong năm đầu và năm thứ 2, bắt đầu vào tháng 2, cách một tháng nhưng lượng nước tưới
không được tính chính xác.
Quản lý phân bón: Sử dụ
ng phân bón rất khác nhau. Nông dân dân tộc thiểu số thường
phông bón phân, họ cho ràng chỉ cần bón phân khi cây đã cho quả. nhiều nông dân khác
có dùng phân bón tổng hợp NPK (thường là tỷ lệ 16:16:8) một hoặc hai năm một lần với
khoảng 1-5 kg mỗi cây. Nông dân đào rãnh, bỏ phân theo tán cây, thời điểm bón thường là
tháng 6 và tháng 9. Tuy nhiên, nhiều tài liệu nghiên cứu lại cho rằng tỷ lệ NPK như vậy
không phù hợp với yêu cầu của cây. Tốt nhất nên sử dụng NPK 4:1:1 (xem Trang 32).


11
Báo cáo khảo sát – “Hỗ trợ phát triển ngành
điều ở Dak Lak”
Quản lý sâu bệnh: Các loại bệnh phổ biến nhất ở Dak Lak được tóm tắt ở Bảng 4. Mặc dù tỷ
lệ sâu bệnh khá cao, nông dân hiếm khi áp dụng các biện pháp quản lý sâu bệnh (thuốc
trừ sâu hay thiên địch). Ở Ea Sup, nông dân được tập huấn kỹ thuật quản lý sâu bệnh
thông qua các trạm khuyến nông và hội nông dân… Nhiều nông dân khác thuê các công ty
bảo vệ thực vật để làm công tác quản lý sâu bệnh. Trong trường hợp này việc quản lý sâu
bệ
nh được cơ giới hoá và áp dụng cho toàn vườn chứ không chỉ tập trung chữa những
cây đã nhiễm sâu bệnh.
Bảng 4 Các loại sâu bệnh thường gặp ở tỉnh Dak Lak
Tên thông dụng Triệu chứng
Sâu đục thân
(Plocaederus
obesus)
Đây là một loại sâu nguy hiểm có khả năng tàn phá cây điều. Triệu chứng
chính là lá vàng, cành khô, có những lỗ ở phần thân chính có chảy nhựa

(Ảnh 6
).

Sâu đục nõn
(Alcides sp.)
Một loại rệp màu nâu đỏ thường xuất hiện khi cây đâm chồi hoặc chùy.
Nhộng và sâu hút nhựa từ nõn (Ảnh 7).
Bệnh thán thư
(Anthracnose)
Nấm Colletotrichum gleosporioides là nguyên nhân gây bệnh anthracnosis.
Bệnh phát triển với những đốm hoại thư nâu sậm hoặc những vết thương
trên lá, quả và hạt. Bệnh này thường phổ biến vào mùa mưa và hoàn toàn
có thể làm chết mầm non mới nhú và tiếp tục giết chết hàng loạt mầm tiếp
sau. Độ nguy hại của bệnh rất phong phú, tuỳ từng vùng, từng năm và tuỳ
điều ki
ện môi trường (Ảnh 8).
Bọ xít muỗi
(Helopeltis Antonil S.)
Bọ xít muỗi tạo ra những vết thương màu đen trên cuống lá, gân lá, và trên
bề mặt lá. Đặc điểm tiêu biểu khi bọ xít muỗi ăn thân cây là mất màu, có
những chỗ hoại thư hoặc thương tổn; những vết thương tương tự cũng xảy
ra với quả và hạt khi đang trong thời kỳ phát triển. Khi bọ xít muỗi phát triển
mạnh, mầm cây s
ẽ chết, đây là một trường hợp điển hình của bệnh chết
khô. Khi bệnh phát triển nghiêm trọng, cả cây điều trông như bị cháy ( Ảnh
9).
Sâu đục lá
(Acrocercops sp.)
Cây non dễ bị loại sâu này tấn công nhất. Nhộng của loài bướm xám bạc
này đục lá non và gây hại nghiêm trọng (Ảnh 10).
Sâu cuốn lá
(Lepidoptera)
Loài sâu nhỏ do côn trùng sinh ra ăn lá non và cuốn lá lại với nhau (Ảnh
10). Khi bệnh phá triển nhiều và ít mưa rào, sâu cuốn lá không những có
thể làm cho cả cây bị rụng lá, mà còn ăn cả vào chùm hoa. Cây non đặc
biệt dễ bị gây hại.
Mối
Mối gây hại cho rễ và thân cây điều. Mối ăn vào vỏ rễ và nhánh, đặc biệt là
ở cây già. Chúng làm thành đống hoặc tổ trên những phần thân chết của
cây (Ảnh 11).
Nguồn: FAO

Ảnh 6 Sâu đục thân

Ảnh 7 Sâu đục nõn












Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét