Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập đã
hình thành và phát triển ở Việt Nam trong hơn mười sáu năm qua, trở thành nhu cầu tất
yếu đối với hoạt động kinh doanh và góp phần nâng cao chất lượng quản lý doanh
nghiệp.
Kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận độ
tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính, góp phần đáng kể vào hoạt động sắp xếp, đổi
mới, cổ phần hóa doanh nghiệp và thu hút các hoạt động đầu tư của nước ngoài, tạo điều
kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước. Thiết lập và duy trì được một cơ chế kiểm soát
chất lượng kiểm toán chặt chẽ, có hiệu quả, các công ty kiểm toán sẽ đảm bảo với các
doanh nghiệp và các nhà đầu tư rằng: Kết quả kiểm toán trước khi đến với các nhà đầu
tư đã được kiểm soát, chất lượng kiểm toán được bảo đảm. Từ đó củng cố được niềm tin
của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư vào chất lượng kiểm toán, giúp gia tăng niềm tin
của khách hàng và mở rộng thị trường.
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150
của Tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra một thời kỳ hội nhập mạnh mẽ với nền
kinh tế khu vực và thế giới. Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng
trong mọi ngành nghề để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường đầy cạnh tranh như
hiện nay. Trong đó, hoạt động kiểm toán độc lập cũng không thể nằm ngoài quy luật trên.
Vấn đề chất lượng và kiểm soát chất lượng đã trở thành vấn đề sống còn đối với các
doanh nghiệp kiểm toán độc lập.
Xuất phát từ vấn đề này, em đã lựa chọn đề tài: “Kiểm soát chất lượng kiểm toán
trong công ty kiểm toán độc lập”. Nội dung đề tài gồm các phần:
I. Quá trình hình thành kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
II. Mục đích, phạm vi và thực trạng của kiểm toán độc lập.
III. Một số vấn đề chủ yếu về kiểm soát chất lượng kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
IV. Thực trạng việc kiểm soát chất lượng kiểm toán ở các công ty kiểm toán độc
lập.
V. Các biện pháp nâng cao hiểu quả của quá trình kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán.
I. Quá trình hình thành kiểm toán độc lập ở Việt nam
Kiểm toán và đặc biệt là kiểm toán độc lập xuất hiện và phát triển cùng với sự
phát triển của nền kinh tế kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã trở thành nhu cầu tất
yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý của các doanh nghiệp.
Ở Việt nam, hoạt động kiểm toán xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế nước ta chuyển
đổi sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường.
Trước năm 1975 đã có văn phòng kiểm toán của các công ty kiểm toán quốc tế
hoạt động ở Sài gòn. Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động kiểm toán của các văn
phòng này không còn thích hợp với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung lúc bấy giờ.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, các hoạt động kinh tế được chỉ đạo
thống nhất, định sẵn. Cùng với chế độ sở hữu tập thể đã dẫn đến việc xác định quyền lợi,
trách nhiệm, quyền hạn của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cùng các cấp lãnh đạo khác
không rõ ràng. Việc kiểm tra các thông tin kinh tế ở thời kỳ này mang tính tuân thủ là
chủ yếu và việc kiểm tra được thực hiện bởi các cơ quan chức năng (thuế, tài chính, cơ
quan chủ quản ). Các thông tin này là cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch và
xây dựng kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo. Mặt khác với cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch
hoá tập trung thì không thể tồn tại một doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế nào được xem
là độc lập để thực hiện đầy đủ chức năng kiểm toán. Do vậy vào thời kỳ này không xuất
hiện nhu cầu về kiểm toán. Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh
nghiệp theo các hình thức sở hữu khác nhau được thành lập và phát triển mạnh, các
doanh nghiêp này đóng vai trò và ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế,
đồng thời các doanh nghiệp nhà nước chuyển sang thực hiện cơ chế hạch toán kinh
doanh độc lập. Với sự chuyển đổi này cho thấy đã xuất hiện đầy đủ các điều kiện và yêu
cầu cho sự ra đời của hoạt động kiểm toán độc lập đó là:
- Về khách quan: Do có sự đầu tư nước ngoài vào Việt nam, tất sẽ phát sinh nhu
cầu cần phải có hoạt động kiểm toán cũng như nhu cầu tư vấn của bản thân các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đây là thông lệ và cũng là yêu cầu của công ty mẹ. Mặt
khác về phía quản lý nhà nước cũng cần phải có được thông tin đáng tin cậy để đánh giá
2
thực trạng đầu tư cũng như thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong khi không thể áp
dụng các hình thức duyệt quyết toán như đối với các doanh nghiệp nhà nước.
- Về chủ quan: Khi tính chủ động trong kinh doanh của các doanh nghiệp được
phát huy, các doanh nghiệp hạch toán kinh doanh độc lập, theo đó các yêu cầu thông tin
kinh tế trung thực và đáng tin cậy là hết sức quan trọng. Các thông tin này không chỉ
phục vụ cho cho một đối tượng là nhà nước mà còn phục vụ cho nhiều các đối tượng
khác như Ngân hàng (tư cách là người cho vay), đối tác kinh doanh
Với các yêu cầu mang tính khách quan và chủ quan như trình bày ở trên đã hình
thành nhu cầu kiểm toán, theo đó Công ty kiểm toán đầu tiên của Việt nam được thành
lập (tháng 5 năm 1991). Tiếp sau là hàng loạt các công ty kiểm toán khác ở mọi thành
phần kinh tế cũng được thành lập. Như vậy sự xuất hiện kiểm toán ở Việt nam là tất yếu
khách quan, hoạt động kiểm toán độc lập thực sự cần thiết trong nền kinh tế thị trường và
là nhu cầu của nền kinh tế chứ không phải là sự bắt buộc của các qui định pháp lý.
II. Mục đích và phạm vi và thực trạng của hoạt động kiểm toán độc lập
1) Mục đích của kiểm toán độc lập:
Trong nền kinh tế thị trường các thông tin tài chính có độ tin cậy, chính xác và
trung thực hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể trong các hoạt
động kinh tế. Kiểm toán độc lập hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu này của nền kinh tế.
Luật pháp nhiều nước khẳng định rằng, chỉ những báo cáo đã được xem xét và có chữ ký
của kiểm toán viên độc lập mới được coi là hợp pháp, làm cơ sở cho nhà nước tính thuế
cũng như các bên quan tâm khác đưa ra các quyết định kinh tế trong mối quan hệ với
doanh nghiệp. ở nước ta, trong Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân
ban hành kèm theo Nghị định số 07/CP ngày 29/1/1994 của Chính phủ đã chỉ rõ “Sau
khi có xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thì các tài liệu, số liệu kế toán và báo
cáo quyết toán của các đơn vị kế toán là căn cứ cho việc điều hành, quản lý hoạt động ở
đơn vị, cho các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính nhà nước xét duyệt quyết
toán hàng năm của các đơn vị kế toán, cho cơ quan thuế tính toán số thuế và các khoản
phải nộp khác của đơn vị đối với ngân sách Nhà nước, cho các cổ đông, các nhà đầu tư,
các bên tham gia liên doanh, các khách hàng và các tổ chức, cá nhân xử lý các mối quan
hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình hoạt động của đơn
vị”.
3
Như vậy mục đích tổng quát của kiểm toán là cung cấp sự đảm bảo cho bên thứ
ba là những người sử dụng các thông tin tài chính rằng các thông tin họ được cung cấp có
trung thực, hợp lý hay không. Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều đối tượng khác nhau
sử dụng kết quả kiểm toán với những mục đích khác nhau. Đối với Ngân hàng, những
đối tượng cho vay vốn, họ cần biết rằng số vốn họ cho vay có được sử dụng đúng mục
đích hay không, tình hình tài chính của đơn vị có cho thấy khả năng hoàn trả hay không.
Đối với cơ quan thuế, căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán để tính và thu
thuế, tương tự, đối với các cơ quan chức năng cũng căn cứ vào báo cáo tài chính được
kiểm toán để thực hiện chức năng của mình. Đối với doanh nghiệp được kiểm toán mong
muốn, thông qua kiểm toán, có được báo cáo tài chính phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn
mực kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), phát hiện và ngăn ngừa các sai sót và
gian lận. Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp, các cổ đông họ cần biết một cách đầy đủ,
đúng đắn về kết quả kinh doanh Tóm lại, kiểm toán phải mang lại sự thoả mãn cho
những người sử dụng kết quả kiểm toán sự tin cậy, mức độ trung thực của các thông tin
tài chính mà họ được cung cấp.
2) Phạm vi của kiểm toán độc lập
Để hình thành ý kiến nhận xét về các báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có
được các căn cứ vững chắc cũng như các thông tin cốt yếu trong công việc ghi chép kế
toán và các nguồn số liệu đáng tin cậy khác đã được dùng làm cơ sở cho việc xây dựng
các báo cáo tài chính, hay nói cách khác, kiểm toán viên phải có đủ các bằng chứng kiểm
toán thích hợp. Do vậy phạm vi kiểm toán sẽ là những công việc, thủ tục kiểm toán cần
thiết mà kiểm toán viên xác định và thực hiện trong quá trình kiểm toán để thu thập đầy
đủ các bằng chứng thích hợp cho ý kiến kiểm toán hay nói như chuẩn mực kiểm toán là
để đạt được mục tiêu kiểm toán. Những công việc, thủ tục kiểm toán sẽ phụ thuộc vào
nội dung kiểm toán, tuy nhiên những thủ tục kiểm toán này phải được xác định trên cơ sở
chuẩn mực kiểm toán, phù hợp với yêu cầu của tổ chức nghề nghiệp, phù hợp với pháp
luật và các thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán. Các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và
thích hợp được thu thập thông qua các thủ nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản và
bằng các phương pháp như kiểm tra, quan sát, điều tra, xác nhận, tính toán và qui trình
phân tích. Việc thực hiện các phương pháp này một phần tuỳ thuộc vào thời gian thu thập
các bằng chứng kiểm toán.
4
Xác định phạm vi kiểm toán có ý nghĩa quan trọng, mà trước hết các đơn vị được
kiểm toán cần có những hiểu biết nhất định về kiểm toán, yêu cầu của kiểm toán và việc
các kiểm toán viên tiến hành các thủ tục kiểm toán mà họ cho là cần thiết theo đó tạo
điều kiện, cung cấp đầy đủ cho kiểm toán viên. Việc các đơn vị được kiểm toán không
thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán, lẩn tránh trách nhiệm hoặc từ
chối cung cấp những thông tin, bằng chứng cần thiết, hay ngăn chặn công việc của kiểm
toán viên đều dẫn đến việc phạm vi kiểm toán bị giới hạn, trong trường hợp này, nếu
kiểm toán viên không thể thực hiện được các thủ tục kiểm toán thay thế khác một cách
hợp lý, khi đó cần đưa ra ý kiến từ chối. Tuy nhiên đôi khi do hạn chế về thời gian, hoàn
cảnh cũng có thể dẫn đến phạm vi kiểm toán bị giới hạn. Trong những trường hợp như
vậy, kiểm toán viên phải cố gắng tìm ra các phương pháp hợp lý để thu thập được các
bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để có thể nêu ý kiến “chấp nhận toàn bộ”
trong báo cáo kiểm toán. Nếu không, tuỳ theo tính chất, mức độ trọng yếu và các bằng
chứng bổ sung mà kiểm toán viên đánh giá mức độ cần thiết đề đưa ra ý kiến phù hợp.
3) Thực trạng của hoạt động kiểm toán độc lập
Hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam ra đời năm 1991 và ngày càng thể hiện vai
trò quan trọng trong nền kinh tế. Nếu năm 1991 chỉ có 2 công ty kiểm toán độc lập và 15
nhân viên thì đến nay cả nước đã có hơn 136 công ty với hơn 5 nghìn nhân viên, cung
cấp hơn 20 loại dịch vụ nghề nghiệp cho khách hàng.
Tuy nhiên, trong đội ngũ kiểm toán viên nước ta hiện nay chỉ có hơn 888 kiểm
toán viên hành nghề có chứng chỉ kiểm toán viên (thống kê của Hội Kiểm toán viên hành
nghề Việt Nam - VACPA), trong số đó chỉ có khoảng 300 người có chứng chỉ kiểm toán
viên quốc tế. Tính bình quân mỗi công ty kiểm toán mới chỉ có 6,5 kiểm toán viên có
chứng chỉ. Có một số công ty kiểm toán chỉ có 3 kiểm toán viên với vỏn vẹn 6 khách
hàng.
Từ năm 2006 trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng
khoán, môi trường kinh tế của Việt Nam càng đòi hỏi tính minh bạch trong thông tin tài
chính. Ước tính, mức cầu từ dịch vụ kiểm toán độc lập tăng gấp 10 lần so với năm 2006.
Bên cạnh đó, nhu cầu tư vấn tài chính của các doanh nghiệp ngày càng lớn, cần
những nhà cung cấp thật sự có đẳng cấp. Các công ty kiểm toán nước ngoài với lợi thế về
thương hiệu và nhân lực cấp cao đang "ép sân" các công ty kiểm toán trong nước.
5
Nhận xét về năng lực của kiểm toán độc lập Việt Nam, TS. Thịnh Văn Vinh, Học
viện Tài chính nói: "Mặc dù quy mô đã có những bước phát triển nhưng chưa thực sự có
đầy đủ các kiểm toán viên, cũng như chưa đủ trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu
thực tế đặt ra".
Năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam rất yếu so với các công
ty nước ngoài. Hệ thống khách hàng chưa rộng lớn, chưa vững chắc. Hoạt động kiểm
toán báo cáo tài chính chưa thực hiện kiểm toán toàn diện cho tất cả các lĩnh vực cần
thiết của nền kinh tế thị trường. Nhiều lĩnh vực theo quy định đã bắt buộc kiểm toán
nhưng vẫn đang còn bỏ ngỏ chưa thực hiện kiểm toán như các doanh nghiệp tư nhân,
công ty TNHH, các hợp tác xã
Các công ty kiểm toán độc lập chưa biết hợp tác với nhau và cạnh tranh còn thiếu
lành mạnh. Mức phí dịch vụ trung bình của các công ty kiểm toán Việt Nam chỉ bằng
một nửa, thậm chí một phần ba so với mức phí cùng loại của công ty nước ngoài. Một số
công ty, do cạnh tranh giảm giá phí đã cắt giảm một số thủ tục, quy trình soát xét chất
lượng kiểm toán nên chất lượng dịch vụ cung cấp giảm
Vai trò của kiểm toán viên có thể rất súc tích trong nhận xét của GS.TS Vương
Đình Huệ, Tổng kiểm toán Nhà nước: "Kiểm toán viên vừa phải là quan tòa công minh
của quá khứ, vừa phải là người phán xử thông thái của hiện tại, lại vừa là người dẫn
đường sáng suốt cho tương lai".
Thế nhưng, nhiều chuyên gia lại có ý kiến là, điểm yếu nhất của kiểm toán độc lập
Việt Nam là "con người". Theo ông Bùi Văn Mai, Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm
toán, Bộ Tài chính: "Khả năng đánh giá bao quát và đưa ra ý kiến tư vấn chiến lược của
đội ngũ kiểm toán viên Việt Nam hiện nay chắc chắn chưa thể bằng kiểm toán viên quốc
tế". Ông Vương Đình Huệ cũng cho biết: "Phấn đấu đến 2010, nước ta sẽ có khoảng
3.000 nhân viên chuyên nghiệp, một nửa trong số đó có thể đăng ký hành nghề".
Về việc phát triển năng lực của các công ty kiểm toán độc lập, nhiều chuyên gia
cũng có ý kiến, nên liên kết các công ty kiểm toán thành những doanh nghiệp lớn có quy
mô nhất định về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, loại hình dịch vụ. Ngoài ra, một doanh
nghiệp kiểm toán có thể trở thành thành viên của một hãng kiểm toán lớn, chẳng hạn như
VACO, điều này sẽ giúp quảng bá và thúc đẩy hình ảnh của thương hiệu rất nhiều.
6
Một hạn chế lớn khác xuất phát từ nhận thức, các doanh nghiệp chưa hiểu rõ được
vai trò của kiểm toán trong chiến lược phát triển lâu dài của mình. Hiện tại, có tới 60%
khách hàng của các công ty kiểm toán trong nước là kiểm toán theo luật định. Thị phần
khách hàng tự nguyện đã tăng lên nhưng chưa đáng kể. Nhiều doanh nghiệp vẫn có khái
niệm "bị kiểm toán" chứ không phải là "được kiểm toán", vì vậy, cần thúc đẩy tuyên
truyền về lợi ích của các hoạt động của kiểm toán bằng nhiều kênh khác nhau.
Hạn chế thứ ba là môi trường pháp lý đối với kiểm toán độc lập chưa được hoàn
thiện. Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kiểm toán độc lập hiện nay là rất thấp, chủ yếu
dựa trên Nghị định số 07/CP, đã ra đời từ cách đây 13 năm, Quyết định số 76/2004/TT-
BTC và Quyết định 87/2005/QĐ-BTC. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng nên ban hành luật
kiểm toán độc lập, các doanh nghiệp kiểm toán bắt buộc đề phòng những gian lận kiểm
toán khi có sự thông đồng giữa doanh nghiệp được kiểm toán và các doanh nghiệp kiểm
toán.
III. Một số vấn đề chủ yếu về kiểm soát chất lượng kiểm toán độc lập ở Việt
Nam
Đối với hoạt động kiểm toán, kiểm soát chất lượng kiểm toán có thể được hiểu là
một hệ thống chính sách và biện pháp để nắm bắt và điều hành hoạt động kiểm toán đạt
chuẩn mực chung. Hệ thống chính sách và biện pháp đó bao gồm: quan điểm về kiểm
soát, hệ thống các quy định nghiệp vụ kiểm toán và kiểm soát, cơ cấu tổ chức bộ máy
kiểm soát, chính sách về nhân sự, các hoạt động kiểm tra, soát xét, thu thập thông tin, xác
nhận Kiểm soát chất lượng kiểm toán được thực hiện trong toàn bộ quá trình kiểm toán
của một cuộc kiểm toán, do nhiều cấp độ kiểm soát tiến hành, với nhiều phương pháp
kiểm soát khác nhau.
Mục tiêu chung của kiểm soát chất lượng kiểm toán là nhằm hỗ trợ bộ phận kiểm
toán của công ty kiểm toán, bảo đảm cho kiểm toán viên của mình tuân thủ đúng các
chuẩn mực nghề nghiệp hiện hành và các chuẩn mực chất lượng theo quy định đặt ra,
nhằm tạo ra những sản phẩm kiểm toán đạt tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng yêu cầu của
các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán. Các mục tiêu cụ thể là:
• Việc kiểm toán được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực kiểm toán, quy trình
kiểm toán, phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán và các quy chế, quy định khác
trong hoạt động kiểm toán;
7
• Các thành viên của đoàn kiểm toán hiểu rõ và nhất quán về kế hoạch kiểm toán,
tổ chức thực hiện kiểm toán, lập báo cáo kết quả kiểm toán.
• Các ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán có đầy đủ bằng
chứng kiểm toán thích hợp, phù hợp với các chuẩn mực đã được quy định. Tất cả các lỗi,
thiếu sót và các vấn đề không bình thường phải được nhận biết, ghi lại bằng văn bản và
giải quyết đúng đắn hoặc báo cáo cho người có thẩm quyền cao hơn xem xét, xử lý.
• Đạt được các mục tiêu kiểm toán đã đặt ra; báo cáo kiểm toán phải bao gồm đầy
đủ các ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán liên quan đến cuộc
kiểm toán;
• Rút ra những kinh nghiệm nhằm cải thiện hoạt động kiểm toán trong tương lai.
Những kinh nghiệm đó cần phải được nhận biết, ghi chép và phải được đưa vào kế hoạch
kiểm toán kỳ sau và trong các hoạt động phát triển nhân sự.
Như vậy, kiểm soát chất lượng kiểm toán đã được thừa nhận như một chức năng
của quản lý hoạt động kiểm toán, là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chuyên môn nghề
nghiệp của mọi công ty kiểm toán, là một trong những chuẩn mực kiểm toán quan trọng
trong hoạt động kiểm toán. Do vậy, việc thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát chất
lượng kiểm toán là một trong những nhiệm vụ không thể thiếu được của các công ty
kiểm toán.
Thiết lập và duy trì được một cơ chế kiểm soát chất lượng kiểm toán chặt chẽ, có
hiệu quả, các công ty kiểm toán sẽ đảm bảo với các doanh nghiệp và các nhà đầu tư
rằng, kết quả kiểm toán trước khi đến với các nhà đầu tư đã được kiểm soát, chất lượng
kiểm toán được bảo đảm, từ đó củng cố được niềm tin của các doanh nghiệp và các nhà
đầu tư vào chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên. Ngược lại,
nếu chất lượng kiểm toán không được kiểm soát, hoặc kiểm soát không có hiệu quả thì
niềm tin của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư vào chất lượng kiểm toán và đạo đức
nghề nghiệp của kiểm toán viên khó tránh khỏi sự lung lay.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 “Kiểm soát chất lượng hoạt động
kiểm toán”: Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử
dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm
toán viên; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến
8
đóng góp của kiểm toán viên, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời
gian định trước với giá phí hợp lý.
Như vậy, chất lượng hoạt động kiểm toán có thể được xem xét dưới ba góc độ:
- Mức độ người sử dụng thông tin thoả mãn đối với tính khách quan và độ tin cậy
của kết quả kiểm toán.
- Mức độ đơn vị được được kiểm toán thoả mãn về ý kiến đóng góp nhằm mục
đích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
- Báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong hợp
đồng kiểm toán và chi phí dịch vụ kiểm toán ở mức hợp lý.
Nội dung, quy mô và trình tự tiến hành thủ tục kiểm soát chất lượng hoạt động
kiểm toán được vận dụng tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng cuộc kiểm toán. Tuy
nhiên, có những chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán mà các
công ty kiểm toán phải xây dựng và thực hiện trong mọi cuộc kiểm toán để phù hợp với
chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt Nam chấp
nhận. Đó là:
1. Các công ty kiểm toán phải luôn xem xét về tính tuân thủ nguyên tắc đạo đức
nghề nghiệp của các nhân viên của mình. Việc theo dõi, kiểm tra sự tuân thủ nguyên tắc
đạo đức nghề nghiệp bao gồm kiểm tra tính độc lập, chính trực, khách quan, năng lực
chuyên môn, tính thận trọng, bí mật, tư cách nghề nghiệp. Các công ty kiểm toán có thể
yêu cầu cán bộ công nhân viên chuyên nghiệp nộp bản giải trình về tính độc lập đối với
khách hàng, phân công người có đủ thẩm quyền kiểm tra tính độc lập của các nhân viên.
Trong quá trình đào tạo và hướng dẫn thực hiện, các công ty kiểm toán cần nhấn mạnh
đến tính độc lập và tư cách nghề nghiệp.
2. Công ty kiểm toán phải xem xét đến kỹ năng và năng lực chuyên môn của các
nhân viên chuyên nghiệp. Năng lực chuyên môn của các nhân viên này cần được xem xét
không những trong quá trình thực hiện kiểm toán, mà phải được cân nhắc qua quá trình
tuyển dụng và đào tạo nhân viên. Thiết lập các tiêu chuẩn cho từng cấp bậc, chức danh
và xác định cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho các nhân viên là cách thức hiệu quả để
tăng động lực cho các kiểm toán viên không ngừng nâng cao khả năng chuyên môn. Hơn
nữa, để góp phần nâng cao năng lực và kỹ năng cho các nhân viên, các công ty kiểm toán
9
cần tiến hành đánh kết quả công tác và định kỳ thông báo cho họ triển vọng và cơ hội
thăng tiến của từng cá nhân.
3. Công việc kiểm toán phải được hướng dẫn và giám sát thực hiện đầy đủ ở tất cả
các cấp cán bộ, nhân viên. Đối với mỗi cuộc kiểm toán, thành phần trong nhóm kiểm
toán bao giờ cũng được xác định cụ thể, phù hợp với đối tượng kiểm toán và yêu cầu
pháp lý của cuộc kiểm toán, cơ cấu bao gồm: giám đốc (partner), chủ nhiệm kiểm toán
(manager), giám sát kiểm toán (supervisor), kiểm toán viên chính (senior auditor) và các
trợ lý kiểm toán. Cấp độ giám sát kiểm toán sẽ tăng dần lên theo phạm vi của đối tượng
và tính chất pháp lý của cuộc kiểm toán. Bên cạnh việc tuân thủ các quy định trong việc
soát xét công việc kiểm toán của công ty trong từng nhóm kiểm toán, việc giám sát có thể
do các kiểm toán viên trong các nhóm kiểm toán khác thực hiện.
4. Các công ty kiểm toán khi cần thiết có thể tham khảo ý kiến của các chuyên gia
tư vấn. Việc tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên gia sẽ tăng mức độ tin cậy của ý kiến
kiểm toán về các lĩnh vực chuyên môn phức tạp, những ngành nghề kinh doanh phức tạp.
Tuy nhiên, khi tham khảo ý kiến của chuyên gia, công ty kiểm toán luôn luôn phải xem
xét đến năng lực chuyên môn và tính độc lập, khách quan của chuyên gia tư vấn.
5. Việc cân nhắc đến khả năng phục vụ khách hàng của công ty kiểm toán và tính
chính trực của nhà quản lý công ty khách hàng, là nhân tố quan trọng quyết định đến chất
lượng kiểm toán. Nếu công ty kiểm toán không có những nhân viên chuyên nghiệp, am
hiểu về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng thì họ nên nghĩ đến quyết định không thực
hiện kiểm toán toán đối với khách hàng đó. Nếu những nghi ngại về tính chính trực của
nhà quản trị quá nghiêm trọng, công ty kiểm toán cũng có thể từ chối kiểm toán đối với
khách hàng đó.
6. Công ty kiểm toán phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện các
chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán của công ty.
IV. Thực trạng việc kiểm soát chất lượng kiểm toán ở các công ty kiểm toán
độc lập
Nhìn chung các công ty kiểm toán đều tập trung vào việc tiến hành các hoạt động
nhằm kiểm soát chất lượng kiểm toán ngày một hiệu quả hơn. Đó là việc thực hiện các
biện pháp nhằm phòng ngừa các nguyên nhân gây ra kém chất lượng. Hay có thể nói đây
10
là những biện pháp tăng cường, phát huy các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
hoạt động kiểm toán. Cụ thể đó là các hoạt động về:
1. Công tác tuyển dụng và đào tạo kiểm toán viên:
Các công ty kiểm toán đều xác định đội ngũ kiểm toán viên là quan trọng nhất,
công tác tuyển dụng, đào tạo nhân viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ của
công ty. Khi tuyển dụng, các công ty đều đặt ra yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo
đức nghề nghiệp như: có trình độ tốt về kinh tế, tài chính, kế toán và kiểm toán; giỏi về
ngoại ngữ, độc lập, chính trực, khách quan…. Trong thực tế, công tác tuyển dụng và đào
tạo của các công ty khái quát như sau:
+ Về công tác tuyển dụng: Các công ty kiểm toán là doanh nghiệp Nhà nước và
các công ty kiểm toán quốc tế đều có qui chế về thi tuyển và thực hiện tuyển dụng nhân
viên qua nhiều bước. Đối với các công ty kiểm toán TNHH trong nước, do mới thành lập
và qui mô nhỏ nên việc tuyển dụng chưa thành hệ thống và thiếu chặt chẽ.
+ Về công tác đào tạo: Đây là hoạt động rất quan trọng của các công ty kiểm
toán. Trên thực tế do có sự khác biệt về đầu tư, kinh nghiệm nên giữa các công ty, hoạt
động này còn rất khác nhau. Đối với các công ty kiểm toán quốc tế, do tiềm năng kinh tế
và sự đầu tư của công ty mẹ cũng như hệ thống hoàn chỉnh của hãng nên hoạt động đào
tạo có thể nói là rất cơ bản. Công tác đào tạo thực hiện dưới nhiều hình thức, đào tạo
trong nước và ngoài nước. Nội dung đào tạo theo chuyên nghành và theo từng cấp bậc
của nhân viên, đào tạo bằng việc kèm cặp qua thực tế, chuyển đổi văn phòng để bổ sung
và tích luỹ kinh nghiệm. Nội dung đào tạo không chỉ là về kiến thức kinh tế (tài chính,
thuế, kế toán, kiểm toán) mà còn về các nội dung kỹ năng quản lý, kỹ năng giao tiếp thu
hút khách hàng, ….
Đối với các công ty kiểm toán là các doanh nghiệp nhà nước nhìn chung đều coi
trọng công tác đào tạo và chất lượng đào tạo ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên do các điều
kiện chủ quan và khách quan, nên hoạt động đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế. Các công ty
kiểm toán thuộc Bộ Tài chính có nhiều ưu thế hơn trong công tác đào tạo do có sự trợ
giúp của dự án EURO TAPVIET. Bên cạnh sự hỗ trợ của dự án, các công ty như VACO.
11
AFC, A&C đều có chương trình đào tạo đối với các nhân viên mới hay các chương trình
đào tạo cập nhật bổ sung kiến thức về thuế, các chuẩn mực quốc tế về kế toán, kiểm toán
cũng như các vấn đề mới nảy sinh trong qúa trình thực hành kiểm toán. Các công ty đều
có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ về kinh phí cho các nhân viên tham gia các lớp,
khoá đào tạo bên ngoài để nâng cao trình độ, kiến thức về luật pháp, quản lý, ngoại ngữ,
…. Riêng đối với VACO, do có một bộ phận là thành viên của công ty kiểm toán quốc tế
Deloitte Touche Tohmatsu (DTT) nên được thừa hưởng, tiếp cận và trợ giúp về mặt kỹ
thuật từ DTT. Hàng năm VACO đều cử từ 1 đến 2 nhân viên đi các văn phòng khác của
hãng DTT trên thế giới để thực hành, trao đổi kinh nghiệm.
Đối với các công ty kiểm toán TNHH trong nước, mặc dù đều xác định được sự
cần thiết của công tác đào tạo nhưng do hạn chế về lực lượng nên trong thực tế đến nay
vẫn chưa có công ty nào có được hệ thống đào tạo cơ bản. Hoạt động đào tạo chủ yếu là
hướng dẫn kỹ thuật kiểm toán cho các nhân viên mới do các cán bộ đã có kinh nghiệm
truyền đạt lại. Đây thực sự là khó khăn cho các công ty nhỏ, thiếu đầu tư, đặc biệt trong
bối cảnh cạnh tranh với những công ty lớn có lịch sử phát triển lâu dài, tiềm năng kinh tế
hùng mạnh hoặc là các công ty là doanh nghiệp nhà nước được sự giúp đỡ không nhỏ từ
phía Bộ Tài chính và các Bộ nghành liên quan.
2. Về qui trình, kỹ thuật kiểm toán và hồ sơ kiểm toán
Mặc dù Nhà nước chưa công bố đầy đủ chuẩn mực kiểm toán, nhưng trên thực tế,
hầu hết các công ty đã xây dựng qui trình và hồ sơ kiểm toán chuẩn cho mình. Tất cả các
công ty kiểm toán quốc tế đều có các hướng dẫn từ tổng hợp đến chi tiết trong qui trình
kỹ thuật kiểm toán, đồng thời một số kỹ thuật trong qui trình kiểm toán đã được vi tính
hoá.
Trong số các công ty kiểm toán của Việt nam thì có VACO là công ty duy nhất áp
dụng đồng bộ chương trình kiểm toán của hãng nước ngoài (công ty DTT). Tuy nhiên
trong quá trình thực hành kiểm toán, nhiều nội dung chưa được thực hiện đầy đủ, các
biểu mẫu chưa được áp dụng thống nhất. Các công ty kiểm toán khác của Việt nam cũng
đều thiết lập các tài liệu hướng dẫn, qui trình, kỹ thuật kiểm toán riêng của mình và tuân
theo các chuẩn mực kiểm toán. Mức độ chi tiết và hệ thống của các tài liệu chưa cao và
mức độ khác nhau giữa các công ty. Đối với các công ty TNHH trong nước thì các tài
liệu này còn rất hạn chế.
12
Mặc dù không có qui định chi tiết, hướng dẫn cách lập hồ sơ kiểm toán, tuy nhiên
các công ty đều hình thành và áp dụng cách thức lập hồ sơ kiểm toán và đánh tham chiếu
một cách rõ ràng, khoa học. Các nội dung, phần hành công việc kiểm toán được sắp xếp
theo trình tự nhất định, có chỉ mục và tham chiếu rõ ràng. Các hồ sơ kiểm toán lưu trữ
của các công ty kiểm toán quốc tế và VACO có đầy đủ các thông tin cần thiết phục vụ
cho việc kiểm tra soát xét. Đối với hồ sơ kiểm toán của các công ty kiểm toán khác mà
đặc biệt là các công ty TNHH trong nước thì lưu tại hồ sơ kiểm toán còn thiếu nhiều các
tài liệu cần thiết, mặc dù nội dung kiểm toán đó đã được tiến hành.
Việc ghi chép lập hồ sơ kiểm toán có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc kiểm
soát và đảm bảo chất lượng kiểm toán. Hồ sơ kiểm toán thể hiện chất lượng công việc
kiểm toán đã tiến hành.
3. Về nghiên cứu phát triển hệ thống
Không có công ty nào ở Việt nam thực hiện hoạt động này. Tuy nhiên các công ty
quốc tế hoạt động ở Việt nam luôn được cập nhật những thay đổi trong công tác quản lý
cũng như những vấn đề về kỹ thuật nghiệp vụ cần phải thay đổi cho phù hợp với các yêu
cầu mới, những biến động của nền kinh tế từ phía văn phòng chính hoặc văn phòng khu
vực mà công ty này trực thuộc.
4. Hoạt động kiểm tra tính tuân thủ kiểm toán trong toàn công ty.
Hoạt động này nhằm đảm bảo rằng các cuộc kiểm toán được thực hiện bởi các bộ
phận, văn phòng trong công ty đều tuân thủ đúng qui định của công ty và chuẩn mực hay
được xem là đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của công ty.
Đối với các công ty kiểm toán quốc tế hoạt động ở Việt nam, các công ty này chịu
sự kiểm tra của công ty khác trực thuộc hãng, mà trong công ty không tổ chức bộ phận
nào thực hiện công tác này. Việc kiểm tra ở các công ty này là một bộ phận trong hoạt
động kiểm soát chất lượng của toàn hãng.
Đối với các công ty kiểm toán của Việt nam, hoạt động này chưa được thực hiện,
ngoài công ty VACO có tổ chức thành chương trình hoạt động kiểm tra hàng năm đối với
công việc kiểm toán thực hiện ở các chi nhánh, văn phòng của công ty cũng như ở các
phòng ban trong công ty.
5. Về trang thiết bị phục vụ công việc kiểm toán
13
Đối với hoạt động kiểm toán thì điều kiện làm việc, thiết bị tốt, đầy đủ giúp các
kiểm toán viên thực hiện công việc thuận tiện hơn, nhanh và kịp thời hơn đồng thời góp
phần nâng cao tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên.
Nhìn chung các công ty kiểm toán đều trú trọng trong việc đầu tư, tạo điều kiện
làm việc tốt nhất có thể được cho các kiểm toán viên. Đối với các công ty kiểm toán
nước ngoài, trang thiết bị tương đối tốt, máy tính được trang bị cho từng kiểm toán toán
viên và kèm theo đó là một số phần mền trợ giúp, phục vụ trong quá trình kiểm toán. Các
máy tính đều có thể truy nhập vào mạng Internet và mạng của Công ty để khai thác, trao
đổi và sử dụng các thông tin cần thiết. Các máy móc và phương tiện khác cũng được
trang bị đồng bộ như máy Photocopy, đèn chiếu, ôtô tất cả các thiết bị, dụng cụ này rất
thuận tiện cho quá trình làm việc và đào tạo của công ty, nâng cao tính chuyên nghiệp và
tự tin hơn của các kiểm toán viên.
Đối với các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước với sự trợ giúp của Bộ
Tài chính, dự án EU và qua thời gian hoạt động, tích luỹ, đến nay mức độ đầu tư của các
công ty này nói chung là tốt. Đặc biệt là VACO các thiết bị như máy tính, máy
photocopy, điều chiếu, tương đối nhiều và đáp ứng tốt nhu cầu kiểm toán viên, phương
tiện đi lại tốt. Đối với các công ty khác, số lượng máy tính có hạn chế hơn đặc biệt là
máy tính xách tay, nhưng nhìn chung vẫn đáp ứng được yêu cầu công việc. Tất cả các
công ty vẫn chưa thiết lập được hệ thống mạng nội bộ để có thể trao đổi, khai thác thông
tin chung.
Đối với các công ty kiểm toán TNHH trong nước, nhìn chung các trang thiết bị
vẫn còn hạn chế do khả năng đầu tư. Nhiều công ty vẫn chưa có cả máy photocopy, máy
tính xách tay chỉ trang bị cho một số ít đối tượng chủ chốt. Mạng máy tính nội bộ chưa
có, phương tiện đi lại, giao dịch vẫn rất hạn chế
6. Đánh giá, lựa chọn khách hàng đảm bảo uy tín công ty và chất lượng dịch vụ.
Đánh giá sơ bộ khách hàng trước khi tiến hành cam kết cung cấp dịch vụ kiểm
toán là công việc hết sức cần thiết và cũng là yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán. Đặc biệt
đối với các khách hàng mới cần tìm hiểu khả năng có thể cung cấp dịch vụ kiểm toán
được hay không, các rủi ro có thể có và mức độ của rủi ro khi chấp nhận cung cấp dịch
vụ, khả năng đảm bảo tính độc lập và không bị hạn chế của kiểm toán viên.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét