sản xuất và khu vực thị trường có lợi nhất.
1.1.1.2 Khái niệm về sức cạnh tranh
Điểm lại lý thuyết cạnh tranh và sức cạnh tranh trong lịch sử có thể thấy hai
trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển (với các đại biểu tiêu biểu như A.Smith,
John Stuart Mill, Darwin và C.Mác), Trường phái hiện đại (với 3 quan điểm tiếp cận:
Tiếp cận theo tổ chức ngành; Tiếp cận tâm lý; Tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo). Hiện
nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về sức cạnh tranh, và hiện chưa có một lý thuyết
nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này. Do đó không có lý thuyết “chuẩn”
về sức cạnh tranh, chúng ta chỉ có thể hiểu rằng: Sức cạnh tranh của một nền kinh tế
là thực lực và lợi thế mà nền kinh tế có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của
nó so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường thế giới nhằm thu được lợi ích
ngày càng cao cho nền kinh tế của mình.
Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được các quốc
gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất là: Phương pháp thứ nhất do
Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranh toàn cầu;
Phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trong
cuốn Niên giám cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp trên đều do một số Giáo sư
đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF
như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng.
1.1.2. Phân loại các cấp độ của sức cạnh tranh
Ngày nay khi thị trường hàng hoá càng phát triển thì sự cạnh tranh diễn ra
càng gay gắt. Một chủ thể kinh tế khi tham gia vào thị trường bao giờ cũng phải chịu
sức ép cạnh tranh từ rất nhiều phía khác nhau của nền kinh tế. Dựa vào những quan
sát, các nhà kinh tế học đã phân chia cấp độ của sức cạnh tranh một cách tương đối
bao gồm: sức cạnh tranh của quốc gia, sức cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành, sức
cạnh tranh của sản phẩm trong cùng 1 ngành.
1.1.2.1. Sức cạnh tranh quốc gia
Theo diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) năm 1997: “ Sức cạnh tranh quốc gia là
khả năng nền kinh tế quốc dân đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao về kinh tế,
thu nhập và việc làm”. Sức cạnh tranh của quốc gia được cấu thành từ 8 nhóm yếu tố
chính (với 155 chỉ tiêu ) bao gồm: độ mở của nền kinh tế, vai trò và hiệu lực của
chính phủ, hệ thống tài chính tiền tệ, trình độ phát triển công nghệ, cơ sở hạ tầng,
trình độ quản lý của doanh nghiệp, số lượng và chất lượng lao động và trình độ phát
5
triển của thể chế.
Theo công bố mới đây trong báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2006-2007
của Diễn đàn kinh tế thế giới, thứ hạng của Việt Nam xếp theo Chỉ số năng lực cạnh
tranh tổng hợp là 77 trên 125 quốc gia, Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng là 86.
Trong khi đó thứ hạng tương ứng theo các chỉ số trên của Việt Nam tại báo cáo năm
2005-2006 là 74 và 81. Như vậy, thứ hạng của Việt Nam theo các chỉ số năng lực
cạnh tranh tổng hợp và tăng trưởng năm 2006 đều sụt giảm so với năm 2005.
1.1.2.2. Sức cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp
Trong những năm vừa qua các doanh nghiệp của Việt Nam đang dần dần lớn
mạnh và đang trên đà phát triển. Song chúng ta vẫn nhận thấy còn rất nhiều vấn đề
đáng lo lắng và một trong những vấn đề đáng lưu tâm nhất hiện nay là về việc nâng
cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế. Để giải quyết
được vấn đề về sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kì hội nhập, chúng ta cần
phải nắm thật rõ khái niệm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thực chất sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo cách đơn giản nhất có thể hiểu
là “ khả năng nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được “. Vì
vậy khi thị phần tăng lên, cho thấy sức cạnh tranh cũng đựơc nâng cao. Sức cạnh
tranh của doanh nghiệp còn là khả năng hãng đã bán được hàng nhanh và nhiều hơn
so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trường cụ thể về một loại hàng hoá cụ thể.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của OECD định nghĩa sức cạnh
tranh là: “ khả năng của doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia hoặc khu vực tạo ra
thu nhập tương đối cao hơn và mức độ sử dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn đối
mặt với cạnh tranh quốc tế ”.
Trên thực tiễn ở Việt Nam, khi đánh giá về khả năng cạnh tranh tầm vi mô, các
so sánh quốc tế đều ghi nhận thành tựu trung bình của Việt Nam vào tốp 3 trong ngũ
phân vị (xếp thứ 38/80 nước), nhất là đánh giá tốt việc triển khai mạnh các dự án FDI
kèm theo chuyển giao công nghệ và việc thi hành Luật Doanh nghiệp, tạo điều kiện
thuận lợi cho khu vực ngoài Nhà nước phát triển bình đẳng vì sự nghiệp phát triển
đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lĩnh vực chỉ tiêu hiệu quả của Việt Nam còn rất
kém.
1.1.2.3. Sức cạnh tranh của hàng hoá
Sức cạnh tranh của một loại sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ nào đó trên thị
6
trường trong nước và quốc tế là sự thể hiện tính ưu việt hay tính hơn hẳn của nó cả về
định tính và định lượng.Nói cách khác, cạnh tranh giữa các sản phẩm trên thị trường
là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn tiêu dùng của các sản phẩm đối với khách
hàng trên một thị truờng cụ thể và trong một thời gian nhất định.
Cuối cùng, sức cạnh tranh của sản phẩm còn có thể hiểu là sự vượt trội so với
các sản phẩm cùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm tham gia
cạnh tranh đều đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng. Có nghĩa là, những sản
phẩm mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên 1 đơn vị giá cả là những sản phẩm có khả
năng cạnh tranh cao hơn.
Nhìn chung, để nâng cao được sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp/ ngành thì
điều quan trọng nhất là phải nâng cao chất lượng sản phẩm và lấy sức cạnh tranh của
sản phẩm làm nền tảng phát triển. Bởi lẽ, sản phẩm đại diện cho doanh nghiệp trên
thị trường, do vậy sức cạnh tranh của sản phẩm chính là một phần tạo tiền đề hình
thành nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sức cạnh tranh của quốc
gia và sức cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành cũng gắn bó rất mật thiết và phụ thuộc
lẫn nhau. Một quốc gia có vị thế cạnh tranh tốt trên trường quốc tế sẽ giúp các doanh
nghiệp dễ dàng thâm nhập vào các thị trường quốc tế hơn, từ đó xây dựng được sức
cạnh tranh cho doanh nghiệp/ngành được tốt hơn. Nói cách khác, sức cạnh tranh của
quốc gia là một điều kiện đủ để sức cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành được nâng
cao. Ngược lại, khi các doanh nghiệp/ngành có một sức cạnh tranh tốt thì sẽ thu được
nhiều lợi nhuận, đem lại nguồn thu lớn cho kinh tế của quốc gia, tác động tích cực
đến nền kinh tế, từ đó cũng góp phần nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia dưới con
mắt của bạn bè năm châu. Qua đó, chúng ta thấy được, mối quan hệ hết sức mật thiết
của 3 cấp độ cạnh tranh trên. Việc phân loại hoàn toàn mang tính chất tương đối.
1.1.3. Tiêu chí đánh giá sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu
Để đánh giá sức cạnh tranh của một mặt hàng, chúng ta có rất nhiều tiêu chí xét
ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên đặt trong phạm vi bài nghiên cứu về các sản
phẩm xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, thì để đánh giá tổng quát về sức cạnh tranh
của hàng hóa chúng ta cần so sánh các sản phẩm đó với các đối thủ cạnh tranh dựa
trên những tiêu chí cơ bản như: doanh thu của sản phẩm, thị phần của sản phẩm, giá,
chi phí của sản phẩm, chất lượng sản phẩm, mức độ vệ sinh và uy tín của sản phẩm.
1.1.3.1. Mức doanh thu hàng dệt may xuất khẩu
Doanh thu của một sản phẩm nào đó qua các năm là một chỉ tiêu trực tiếp
7
phản ánh sức cạnh tranh của 1 loại hàng hóa, bởi số lượng tiêu thụ của hàng hóa thể
hiện sức hấp dẫn của nó trong mắt người tiêu dùng. Qua đó người ta có thể đánh giá
được sức cạnh tranh của hàng hóa này so với hàng hóa khác. Khi một hàng hóa được
tiêu thụ với số lượng nhiều hơn so với các hàng hóa cùng loại thì hàng hóa đó được
coi là có sức cạnh tranh cao trên thị trường đang xét.
Theo kinh tế học vi mô, doanh thu được xác định bởi công thức sau:
TR= P.Q
Trong đó
TR: Doanh thu
P : Giá của sản phẩm
Q : Lượng tiêu thụ sản phẩm.
1.1.3.2. Thị phần hàng dệt may xuất khẩu
Nếu một hàng hóa chiếm được một thị phần cao hơn so với các mặt hàng thay
thế cùng loại trên thị trường thì có thể tất yếu khẳng định sức cạnh tranh của hàng
hóa đó là rất cao. Hiện nay thị phần có thể được hiểu là thị phần trong nước và thị
phần chiếm lĩnh trên thế giới. Bên cạnh đó, một hàng hóa của một doanh nghiệp có
sức cạnh tranh lớn khi nó có khả năng thâm nhập và chiếm lĩnh được nhiều thị trường
khác nhau một cách nhanh hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác. Đặc biệt là phải
liên tục giữ vững và duy trì được thị phần của mình.
Để xác định qui mô thị trường thị phần, chúng ta có công thức tính thị phần của
hàng hóa xuất khẩu trên một thị trường như sau:
MS =
%100x
M
MA
Trong đó:
MS là thị phần của hàng hóa.
MA là số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường
M là tổng số lượng hàng hóa cùng loại được tiêu thụ trên thị trường.
Việc xác định chỉ tiêu này sẽ phản ánh một cách đúng nhất thị phần của một
loại hàng hóa trên thị trường so với các loại hàng hóa cùng loại. Chỉ tiêu đánh giá ở
trên càng lớn tương ứng với việc thị phần của hàng hóa đó chiếm lĩnh càng lớn thì
sức cạnh tranh của hàng hóa càng lớn, và nguợc lại hàng hóa sẽ có sức cạnh tranh yếu
kém nếu thị phần của nó chỉ chiếm một phần nhỏ không đáng kể trên thị trường.
1.1.3.3.Chi phí sản xuất và giá hàng dệt may xuất khẩu
Cạnh tranh bằng chi phí có thể được coi là một xuất phát điểm, một nguyên
8
nhân chính dẫn đến quá trình cạnh tranh trên thị trường. Chi phí được tính ở hầu như
tất cả các khâu từ sản xuất, phân phối,….Tuy nhiên chi phí chỉ là điều kiện cần, điều
kiện ban đầu để đem lại tiền đề vững chắc nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho sản
phẩm.
Trên thị trường hàng hóa, giá cả của hàng hóa có thể được sử dụng như một
chiến lược để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Thực tế cho thấy chiến lược giá
cả đã đem đến thành công cho rất nhiều công ty như hãng hàng không Southwest của
Hoa Kỳ, công ty bách hóa tổng hợp lớn nhất thế giới Wal- Mart thành công với chiến
lược giá cả thấp Các công ty có thể đặt giá sản phẩm thấp hơn giá thị trường để
chấp nhận mức lãi suất thấp nhưng bù lại có được số lượng tiêu thụ sản phẩm lớn, và
từ đó nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm với người tiêu dùng. Tuy nhiên những
công ty đi đầu về giá cả thấp cũng không thể bất cẩn vì rất có thể sẽ có một công ty
khác với giá cả thấp hơn sẽ bất thình lình xuất hiện trên thị trường, làm mức độ cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường càng trở nên gay gắt.Việc cân đối chênh lệch giữa
hai yếu tố này là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
giữa các đối thủ khác nhau trên cùng một thị trường hoặc ở các thị trường khác nhau.
Bằng việc sẽ tính được mức chênh lệch giữa giá bán và chi phí để từ đó có giải
pháp cân đối 2 yếu tố này một cách hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong việc
nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
1.1.3.4. Chất lượng hàng dệt may xuất khẩu
Tiêu chuẩn về chất lượng hàng hóa được qui định theo ISO9000. Nhằm đảm
bảo lợi ích cho người tiêu dùng, tránh tình trạng bị sử dụng những hàng hóa kém chất
lượng. Đây là hệ thống tiêu chuẩn quốc tế được coi là không bắt buộc, tuy nhiên các
sản phẩm khi được có bằng ISO 9000 sẽ nâng cao được sức cạnh tranh hơn rất nhiều
so với các sản phẩm khác. Bởi lẽ, điều đó thể hiện sự ổn định về chất lượng của sản
phẩm, sự minh bạch trong sản xuất của doanh nghiệp và tạo được lòng tin với người
tiêu dùng.
Bên cạnh hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, mỗi quốc gia đều có những
hệ thống đánh giá chất lượng sản phẩm riêng. Vì vậy, những sản phẩm ngoài việc có
bằng ISO 9000 còn có thể thực hiện việc công nhận các tiêu chuẩn chất lượng của
nước nhập khẩu để từ đó tạo được uy tín lớn hơn từ phía thị trường nhập khẩu.
1.1.3.5. Mức độ vệ sinh công nghiệp, đảm bảo môi trường của hàng dệt may
xuất khẩu
9
Hiện nay nhà nước và các tổ chức quốc tế đã đưa ra các qui định nhằm đánh
giá và đảm bảo an toàn cho người sử dụng hàng hóa, bảo vệ môi trường sinh thái và
tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong thương mại quốc tế. Các qui định này
thường được cụ thể hóa qua các tiêu chuẩn như sau:
Tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái: Được qui định trong tiêu chuẩn
ISO14000. Trong đó qui định đối với các cơ sở sản xuất ngoài việc đảm bảo chất
lượng sản phẩm còn phải có tránh nhiệm và các biện pháp giải quyết đối với các chất
phế thải gây ô nhiễm môi trường và việc khai thác nguồn nguyên liệu tránh tình trạng
mất cân bằng sinh thái.
Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội: là hệ thống tiêu chuẩn SA8000. Trong đó,
qui định đối với các cơ sở sản xuất phải đảm bảo điều kiện làm việc đủ tiêu chuẩn vệ
sinh an toàn, trách nhiệm bình thường cho người lao động, đảm bảo quyền lợi và lợi
ích theo các qui định của tổ chức lao động quốc tế và liên hiệp quốc đã đưa ra. Đồng
thời, cấm việc sử dụng lao động cưỡng bức, lao động trẻ em và lao động quá tuổi để
tham gia sản xuất sản phẩm.
1.1.3.6. Mức độ uy tín hàng dệt may xuất khẩu trên thị trường
Theo tâm lý người tiêu dùng, điều gì sẽ khiến họ thực sự tin tuởng vào một
sản phẩm và để họ đưa ra được quyết định mua sản phẩm đó? Ta thấy rằng, bên cạnh
những yếu tố như giá cả, mẫu mã, chất lượng,…. một yếu tố cũng góp phần đáng kể
vào quyết định của người tiêu dùng chính là uy tín hay thương hiệu của sản phẩm
trên thị trường. Tỉ lệ phần trăm số luợng khách hàng mua sản phẩm có uy tín và
thuơng hiệu sẽ cao hơn rất nhiều so với các sản phẩm chưa có vị thế và thương hiệu
trên thị trường. Tuy nhiên, uy tín của sản phẩm trên thị trường không thể chỉ xây
dựng trong một thời gian ngắn hạn mà nó còn thể hiện cả một quá trình dài cố gắng
xây dựng thương hiệu, cố gắng hoàn thiện không ngừng sản phẩm, dịch vụ chăm sóc
khách hàng để sản phẩm luôn tồn tại trong tâm trí người tiêu dùng. Chính vì những lẽ
đó, so sánh mức độ uy tín của sản phẩm trên thị trường cũng là một trong những tiêu
chí để đánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa.
1.1.4. Các công cụ thường dùng để nâng cao sức cạnh tranh hàng dệt
may xuất khẩu
Căn cứ vào những tiêu chí đánh giá về sức cạnh tranh của hàng hóa,chúng ta dễ
dàng gặp được những công cụ thường dùng tương ứng nhằm mục đích nâng cao sức
cạnh tranh của hàng hóa. Ví dụ như cạnh tranh về chất lượng sản phẩm như thay đổi
10
kiểu dáng, mẫu mã cho bắt mắt của người tiêu dùng, điều chỉnh lại công thức chế
biến …. Tuy nhiên, sẽ không quá ngạc nhiên nếu một sản phẩm khác lại có khả năng
cạnh tranh mạnh hơn hẳn và đánh bật các đối thủ chỉ nhờ vào công cụ định giá sản
phẩm thấp hơn giá thị trường và bằng với giá kì vọng của khách hàng. Vậy đâu là
công cụ sẽ đem lại hiệu quả nhất? Thực chất, để nâng cao được sức cạnh tranh của
hàng hóa, chúng ta cần biết cách sử dụng linh hoạt đồng thời các công cụ khác nhau.
Sau đây là 3 công cụ chính:
1.1.4.1 Cạnh tranh bằng chất lượng hàng dệt may xuất khẩu
Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng
của các doanh nghiệp trên thị trường. Trong điều kiện hiện nay, mức sống của người
dân ngày càng đựơc nâng cao, tức là nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu
dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xu hướng thay vị trí cho sự
cạnh tranh bằng chất lượng.
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện
nhất định về kinh tế kỹ thuật thể hiện ở nhiều mặt khác. Do vậy để nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm, doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao
chất lượng sản phẩm như đáp ứng được đầy đủ tiêu chuẩn về chất lượng của nhà
nước, các tổ chức, các thị trường qui định.
Bên cạnh đó chất lượng sản phẩm còn phải đem lại lợi ích tiêu dùng tối đa và
đạt được kì vọng tối đa cho khách hàng. Khi đó người tiêu dùng sẽ tăng khối lượng
hàng hóa tiêu thụ, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Đó là điều kiện không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn giành được thắng lợi
trong cạnh tranh đi đầu về chất lượng. Khi chất lượng không còn được đảm bảo,
không thoả mãn nhu cầu khách hàng thì ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh
nghiệp và kết quả này sẽ thể hiện rõ ràng nhất sự tụt giảm sức cạnh tranh của hàng
hóa, và doanh nghiệp đó
1.1.4.2. Cạnh tranh bằng giá bán hàng dệt may xuất khẩu
Giá cả sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán hay
doanh nghiệp bán dự định có thể nhận được từ người mua thông qua việc trao đổi
hàng hoá đó trên thị trường.Hiện nay, có rất nhiều cách để định giá bán sản phẩm.
Các cách thường sử dụng bao gồm:
Thứ nhất, chính sách định giá thấp là cách định giá bán thấp hơn mức giá thị
trường. Chính sách định giá thấp có thể hướng vào các mục tiêu khác nhau, tuỳ theo
11
tình hình sản xuất của thị trường và đựơc chia ra theo các cách khác nhau như: (1)
Định giá thấp hơn so với thị trường nhưng cao hơn giá trị sản phẩm(2) Định giá bán
thấp hơn giá thị trường và cũng thấp hơn giá trị sản phẩm
Thứ hai là chính sách định giá cao tức là mức giá bán cao hơn mức giá thống
trị trên thị trường và cao hơn giá trị sản phẩm. Chính sách định giá cao được áp dụng
trong rất nhiều trường hợp (1) Khi sản phẩm mới tung ra thị trường, người tiêu dùng
chưa biết rõ chất lượng của nó, chưa có cơ hội để so sánh về giá áp dụng giá bán cao
sau đó giảm dần; (2) Khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, áp
dụng giá cao (giá độc quyền ) để thu lợi nhuận độc quyền; (3) Áp dụng với các sản
phẩm thuộc loại cao cấp, hoặc sản phẩm có chất lượng đặc biệt tốt phù hợp với người
tiêu dùng thuộc tầng lớp thượng lưu; (4) Đối với các sản phẩm thuộc loại không
khuyến khích người tiêu dùng mua, áp dụng giá bán cao để thúc đẩy họ tìm sản phẩm
thay thế.
Thứ ba là chính sách ổn định giá bán tức là giữ nguyên giá bán theo thời kỳ và địa
điểm. Chính sách này giúp doanh nghiệp thâm nhập, giữ vững và mở rộng thị trường.
Thứ tư là chính sách định giá theo giá thị trường. Đây là cách định giá phổ
biến của các doanh nghiệp hiện nay tức là giá bán sản phẩm xoay quanh mức giá thị
trường của sản phẩm đó.
Thứ năm là chính sách giá phân biệt. Với cùng một loại sản phẩm nhưng doanh
nghiệp định ra nhiều mức giá khác nhau
Thứ sáu là chính sách bán phá giá. Đây là chính sách định mức giá bán thấp
hơn hẳn giá thị trường và thấp hơn cả giá thành sản xuất. Mục tiêu của bán giá là tối
thiểu hoá rủi ro hay thua lỗ hoặc để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội mức sống của người
dân không ngừng nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh quan trọng nhất
của doanh nữa nhưng nếu doanh nghiệp biết kết hợp công cụ giá với các công cụ
khác thì kết quả thu được sẽ rất to lớn.
1.1.4.3. Cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ hàng dệt may xuất khẩu
Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, sản xuất tốt chưa
đủ để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình, mà còn phải biết tổ chức
mạng lưới bán hàng, đó là tập hợp các kênh đưa sản phẩm hàng hoá từ nơi sản xuất
đến người tiêu dùng sản phẩm ấy. Thông thường kênh tiêu thụ sản phẩm của doanh
12
nghiệp được chia thành: A là kênh trực tiếp ngắn, từ doanh nghiệp đưa sản phẩm đến
tay người tiêu dùng, B là kênh trực tiếp dài ( từ DN tới người bán lẻ, sau đó đến tay
người tiêu dùng), C là kênh gián tiếp ngắn ( từ DN tới các đại lý, tiếp đó phân tới các
người bán lẻ và sau cùng đến tay người tiêu dùng).
Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng. doanh nghiệp có thể tiến hành một
loạt các hoạt động hỗ trợ như: Tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng, tổ chức hội
nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh tế
Cho đến nay, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm đang dần trở thành một chính sách
tốt và chiếm ưu thế, thậm trí quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trên thị
trường. Trước nhất là làm tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá thông qua việc thu hút sự
quan tâm của khách hàng tới sản phẩm của doanh nghiệp. Tiếp theo là cải thiện vị trí
hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường ( thương hiệu, chữ tín của doanh nghiệp).
Cuối cùng là mở rộng quan hệ làm ăn với các đối tác trên thị trường, phối hợp với
các chủ thể trong việc chi phối thị trường, chống hàng giả.
1.1.5. Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng dệt
may xuất khẩu
1.1.5.1. Đặc điểm của hàng dệt may xuất khẩu
Đặc trưng của sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có yêu cầu mặt hàng phong
phú, đa dạng tùy thuộc vào thị hiếu, văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, địa lý, khí
hậu, giới tính, tuổi tác và thu nhập của người tiêu dùng của thị trường nhập khẩu.
Sản phẩm dệt may xuất khẩu mang tính thời trang cao, vì vậy phải thường
xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng được tâm lý
chuộng cái mới, có những nét độc đáo riêng và gây ấn tượng đối với người tiêu dùng.
Ngoài ra, khi buôn bán các sản phẩm dệt may còn rất chú trọng đến yếu tố
thời vụ trong năm. Vì hàng hóa xuất khẩu đến các thị trường khác nhau thì có thời
tiết và khí hậu khác nhau.
Dệt may còn là ngành thu được lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn tương đối
nhanh do qui mô vốn đầu tư thấp ( ngành may là 2,6triệu USD/dự án, ngành dệt đạt
trên 16triệu USD/dự án).
Cuối cùng, đặc điểm của hàng dệt may là một trong những ngành đóng góp
chủ chốt và tạo công ăn việc làm, thu hút một lượng lớn lao động so với các ngành
khác. Theo tổng Cục Thống kê, năm 2006 số lượng lao động của ngành dệt may
13
chiếm 82,75% so với các ngành thủy sản, điện tử, ô tô, vận tài biển, ngân hàng, viễn
thông, bảo hiểm.
1.1.5.2. Các nhân tố đặc trưng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng dệt may
xuất khẩu
Việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất
khẩu là rất cần thiết. Qua đó, chúng ta có thể đưa ra những giải pháp liên quan đến
nhân tố nào để góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu.
a. Cho đến nay, không ai có thể phủ nhận được vai trò và vị trí quan trọng của
yếu tố chất lượng sản phẩm trong cạnh tranh. Bởi lẽ
Chất lượng là một yếu tố cấu thành nên sản phẩm và tạo nên giá trị sử dụng cho
sản phẩm đó. Đây là một trong những tiêu chí ban đầu để người mua đưa ra quyết
định tiêu dùng của mình. Thuộc tính này không loại trừ bất kì một loại hàng hóa nào,
trong đó có cả hàng dệt may.
Một doanh nghiệp không thể phát triển bền vững nếu không quan tâm đến vấn
đề chất lượng của sản phẩm. Khi chất lượng của hàng hóa được nâng cao và thỏa
mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì sự tác động sẽ trở nên rất mạnh mẽ đến
sức cạnh tranh của mặt hàng đó trên thị trường. Và đây chính là sự lựa chọn phát
triển theo chiều sâu của doanh nghiệp và là một lựa chọn thông minh và đúng đắn.
Đặc biệt khi đưa sản phẩm vượt biên giới đến với tay của những người tiêu dùng của
các nước khác như sản phẩm dệt may xuất khẩu.
b. Khi ta đặt mình vào một thị trường với rất nhiều đối thủ cạnh tranh thì giá
cả luôn giữ một vai trò tương đối quan trọng
Thực tế khi các doanh nghiệp cung ứng những sản phẩm cùng loại thì vẫn
luôn xuất hiện tình trạng giá cả chênh lệch với nhau. Đặt giả thiết những sản phẩm
này tương đối giống nhau về mẫu mã, chất lượng, dịch vụ liên quan thì ngay lập tức
nguời tiêu dùng sẽ lựa chọn những sản phẩm phù hợp với túi tiền của họ. Bởi lẽ, mức
độ tiêu dùng của khách hàng bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thu nhập của chính
bản thân họ và chỉ khi đạt được cả 2 điều kiện là đạt lợi ích tiêu dùng và trong giới
hạn ngân sách cho phép. Khi đó khách hàng mới chấp nhận trao đổi buôn bán.
Cho đến nay, qua quá trình so sánh, giá hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam
luôn đạt ở mức giá khá cao so với các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc - một nước
xuất khẩu hàng dệt may giá rẻ hàng đầu trên thế giới. Chính điều đó đã là nhân tố tác
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét