Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

tt_chulai


4
của Chu Lai mà khẳng định những phát hiện mới của nhà văn: "Với khúc bi tráng mới
cùng Chu Lai muốn thể hiện cách nhìn của anh về chiến tranh qua những tình huống bi
kịch để chiêm nghiệm xem con người đã làm thế nào để vượt thoát ra khỏi những tình
huống bi kịch ấy ” [48].
2. Thành tựu ở đề tài số phận người tính thời hậu chiến: Có khá nhiều bài viết về
vấn đề này và đều khẳng định lòng trung thực, sự dũng cảm và khả năng “đào sâu” tận
cùng hiện thực của nhà văn phát hiện những "mảnh đời" còn khuất lấp, từ đó rút ra
những triết lí nhân sinh sâu sắc. Đó là Bùi Việt Thắng [101], Nguyễn Hương Giang
[42] , Hồng Diệu [29] , Nguyễn Thanh Tú [115] , Theo nhà văn Ma Văn Kháng, tiểu
thuyết của Chu Lai đã “đối mặt trực tiếp với những vấn đề bức bối của đời sống xã hội
hôm nay” [l17].
3. Vấn đề đổi mới quan niệm về hiện thực và con người.
Ở vấn đề này, chúng tôi bắt gặp ý kiểm của nhà phê bình Lê Thành Nghị; "Chu
Lai đã không ngần ngại đưa ra ánh sáng những điều lâu nay còn bị dấu kín" [85].
Trong luận văn, thạc sĩ "Tiểu thuyết Chu Lai thời kì đổi mới", tác giả Nguyễn Văn
Chung đã khẳng định Chu Lai "Từ cái nhìn sâu sắc về hiện thực chiến tranh" đã đi đến
"cái nhìn đa diện về hiện thực thời bình”, từ "thân phận con người trong chiến tranh"
đến "thân phận con người trong cuộc sống đời thường"v.v
4. Vấn đề đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết của Chu Lai.
Đây là vấn đề được các nhà nghiên cứu phê bình đề cập đến nhiều nhất. Đó là ý
kiến của GS. Phan Cự Đệ: Tiểu thuyết của Chu Lai "không chỉ đa dạng trong các
phương thức tiếp cận mà cả trong các biện pháp nghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm,
“dòng ý thức”, “nghệ thuật đồng hiện ” [38]. Các ý kiến của Nguyễn Hương Giang.
[42], Đỗ Văn Khang [118], Hồng Diệu [29] cũng khẳng định những thành công
trong vấn đề đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết của Chu Lại.
Tác giả Nguyễn Thanh Tú nhận xét về thời gian nghệ thuật trong Cuộc đời dài
lắm và ăn mày dĩ vãng [115], Lý Hoài Thu lại phân tích đánh giá về không gian nghệ
thuật và thời gian nghệ thuật trong Cuộc đời dài lắm [l15], Nguyễn Tiến Hải lại nhận
xét về xung đột truyện trong tác phẩm này [l15].
Nhìn một cách khái quát toàn bộ tiểu thuyết của Chu Lai trong thời kì đổi mới,
Nguyễn Văn Chung lại chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong "nghệ thuật thể hiện trong
tiểu thuyết Chu Lai ở các phương diện: - Cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật,
ngôn ngữ và giọng điệu [LV.Th.s- Tiểu thuyết Chu Lai thời kì đổi mới].
5. Một số tồn tại trong tiểu thuyết Chu lai:
Chúng tôi thấy xuất hiện không nhiều ý kiến về vấn đề này. Trong Hội thảo tiểu
thuyết ăn mày dĩ vãng, các tác giả Hồng Diệu, Lê Thành Nghị, Thiếu Mai, đều nhận
xét: Văn nhiều lời, ngôn ngữ đôi chỗ chưa thật chọn lọc, một vài chi tiết nghệ thuật

5
còn "thô"
Nhìn chung, với năm vấn đề lớn kể trên, một số đặc điểm quan trọng trong thi
pháp tiểu thuyết Chu Lai đã được đề cập đến. Nhưng nhiều vấn đề mới chỉ được "cày
xới" với những nhận xét mang tính khái quát mà chưa được chứng minh thấu triệt và
tường minh một công trình mang cái nhìn tổng thể về thế giới nghệ thuật trong tiểu
thuyết Chu Lai vẫn còn vắng bóng. Và đây là “khoảng trống” để chúng tôi thực hiện
đề tài của mình.
III - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ tiểu thuyết của Chu Lai được xuất bản từ 1979 đến 2005.
Đề tài tập trung khảo sát, đánh giá một số phương diện cơ bản nhất của thế giới
nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai như:
- Kiểu nhân vật trung tâm
- Cảm hứng nghệ thuật
- Không gian và thời gian nghệ thuật
IV - Phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp phân tích tác phẩm văn học
2. Phương pháp nghiên cứu theo thi pháp thể loại tiểu thuyết
3. Phương pháp lịch sử
4. Phương pháp thống kê, so sánh
V - Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, cấu trúc của đề
tài gồm 3 chương:
1- Chương 1 : Hành trình sáng tác tiểu thuyết và quan niệm nghệ thuật về hiện
thực và con người trong tiểu thuyết của Chu Lai.
2- Chương 2: Cảm hứng nghệ thuật họ ứng và tương giao với kiểu nhân vật trung
tâm trong tiểu thuyết của Chu lai.
3- Chương 3: Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai.






6
Chương 1
HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT VÀ QUAN NIỆM NGHỆ
THUẬT VỀ HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI CỦA CHU LAI.

1. Hành trình sáng tác tiểu thuyết của Chu Lai:
Một hành trình đi từ mô hình tiểu thuyết sử thi đến mô hình tiểu thuyết "phi sử
thi". Điểm qua hành trình sáng tác tiểu thuyết của Chu Lai từ 1978 đến nay, qua hàng
loạt tác phẩm xuất thiện dồn dập trên văn đàn của ông, chúng tôi tạm phân chia hành
trình sáng tác ấy làm hai chặng đường tương ứng với hai mô hình tiểu thuyết có tính
kế thừa - tiếp biến:
1.1. Chặng đường thứ nhất với mô hình tiểu thuyết sử thi (1978 - 1985). Ở chặng
đường này, chúng ta có thể điểm đến một số tiểu thuyết.
- Nắng đồng bằng (1978)
- Đêm tháng hai ( 1982)
- Út teng (1983)
- Gió không thổi từ biển (1985)
Mô hình tiểu thuyết sử thi hình thành và phát triển rầm rộ ở Việt Nam từ 1945
đến 1975. Cấu trúc thể loại và đặc trưng nghệ thuật của nó đã được chúng tôi trình bầy
khá kĩ trong chuyên khảo Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1965 - 1975 nhìn tư góc độ thể
loại. Có thể tóm tắt một số đặc điểm thi pháp thể loại nổi bật của thể loại tiểu thuyết
này:
- Cảm hứng sử thi là cảm hứng chủ đạo
- Thế giới nhân vật được xây dựng theo nguyên tắc phân tuyến - đối lập một cách
tuyệt đối.
- Kiểu nhân vật lí tưởng là người anh hùng cách mạng trong chiến đấu và sản
xuất
- Kết cấu lịch sử - sự kiện là phổ biến
- Giọng điệu ngưỡng mộ ngợi ca là giọng điệu chủ đạo
Các tiểu thuyết của Chu Lai sáng tác thời kì này nhìn chung vẫn là sự vận động
theo "quan tính" của "dòng chảy" tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945 - 1975. Nhưng
cũng trong các tiểu thuyết ấy đã manh nha những dấu hiệu của loại hình tiểu thuyết phi
sử thi sẽ nở rộ sau khởi điểm "Đổi mới" 1987.
1.2. Chặng đường thứ hai với mô hình tiểu thuyết phi sử thi (1986 - 2005).
Những dấu hiệu của loại hình tiểu thuyết phi sử thi đã xuất hiện ở chặng đường sáng

7
tác trước nay kết tinh lại trong một cấu trúc - thể loại ổn định. Hai chặng đường sáng
tác tiểu thuyết của Chu Lai là những minh chứng có tính điển hình cho quá trình
chuyển đổi hệ hình tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại từ 1945 đến
nay. Những sáng tác của Chu Lai thời kì này mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống
đương đại. Số phận người lính thời kì "Hậu chiến" trở thành một chủ đề lớn xuyên
suốt. Hình tượng người lính sau chiến tranh vượt tên trên thử thách và bi kịch mang vẻ
đẹp bi tráng, có sức lay động và ám ảnh mạnh mẽ đối với người đọc. Có thể kể tên
hàng loạt tiểu thuyết của Chu Lai mang đặc điểm và sức mạnh lay động ấy:
- Sông xa (1986)
- Bãi bờ hoang lạnh (1990)
- Vòng tròn bội bạc (1990)
- Ăn mày dĩ vàng (1992)
- Phố (1993)
- Ba lần và một lần (2000)
- Cuộc đời dài lắm (2002)
- Khúc bi tráng cuối cùng (2004)
- Người im lãng (2005)
Qua hành trình sáng tác của Chu Lai, chúng ta có những minh chứng để khẳng
định: - hai mô hình tiểu thuyết sử thi và sử thi khác biệt nhau nhưng không loại trừ
nhau. Trong mô hình tiểu thuyết sử thi vẫn có những
đặc điểm được mô hình tiểu thuyết phi sử thi kế thừa, tiếp biến và phát triển.
Chúng tôi sẽ chứng minh cho luận điểm này ở các chương - phần tiếp theo.
2. Khái niệm thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết.
2.1. Khái niệm thế giới nghệ thuật:
Trong Từ điển Thuật ngữ văn học nhóm tác giả biên soạn đã định nghĩa về Thế
giới nghệ thuật: " Khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật ( một tác phẩm,
một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu). Thế giới nghệ thuật
nhấn ngạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng, được tạo ra theo các nguyên
tắc tư tưởng và nghệ thuật ( ) khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc
đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan văn
hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ" [1 - 201, 202] .
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu: thế giới nghệ thuật là toàn bộ các
phương diện nội dung và hình thức nằm trong chỉnh thể thẩm mĩ, được xây dựng bằng
một hệ thống nguyên tắc tư tưởng - nghệ thuật vừa bị chi phối bởi cá tính sáng tạo của
người nghệ sĩ, vừa bắt nguồn từ thế giới quan, đặc điểm văn hoá và cảm hứng thời đại

8
của thời đại ấy.
2.2. Khái niệm thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết:
Đây là khái niệm chưa được cắt nghĩa rành mạch và trọn vẹn trong bất cứ một
công trình lý luận văn học nào. Theo suy nghĩ còn hạn hẹp của chúng tôi: - thế giới
nghệ thuật trong tiểu thuyết vừa mang những đặc điểm chung của thế giới nghệ thuật
trong sáng tác văn học vừa có những đặc điểm riêng gắn với đặc trưng thể loại của nó .
Đặc điểm riêng ấy là "chất văn xuôi" vừa trữ tình bay bổng vừa thô nhám xù xì như
chính cuộc sống đời thường đa dạng quanh ta, là tính khách quan được nhà văn cố tình
lạo ra như một "ảo giác nghệ thuật" nhằm thuyết phục người đọc, là khả năng mở rộng
"biên độ" không gian - thời gian nghệ thuật mà không một thể loại văn học nào có thể
sánh kịp, là sự quan tâm đặc biệt đến số phận con người đa
đoan và phức tạp trong dòng chảy lịch sử - đặc biệt là số phận những con người
nhỏ bé, những "con người nếm trải" đắng cay rồi trưởng thành nhờ cuộc đời dạy bảo
Từ những khái niệm và giới thuyết kể trên, chúng ta có thể khẳng định sau khi
theo dõi sự chuyển đổi nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật xây dựng mô hình hiện thực và
con người trong tiểu thuyết của Chu Lai: - Có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ hệ thống
nguyên tắc tư tưởng - nghệ thuật của loại hình tiểu thuyết sử thi (ở chặng đường sáng
tác thứ nhất) sang hệ thống nguyên tắc tư tưởng - nghệ thuật của loại hình tiểu thuyết
"phi sử thi" (ở chặng đường sáng tác thứ hai của Chu Lai).
3. Sự chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong tiểu
thuyết của Chu Lai.
3.1. Sự chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực.
3.1.1. Thế giới phân tuyến - đối tập "Địch - Ta" trong tiểu thuyết sử thi chuyển
sang thế giới phân tuyến - đối lập giữa các nhóm người và trong mỗi con người trong
tiểu thuyết phi sử thi.
3.1.1.1. Mô hình thế giới phân tuyến - đối lập trong tiểu thuyết sử thi của Chu
Lai:
Ở chặng đường sáng tác thứ nhất, các tiểu thuyết của Chu Lai, dù độ đậm nhạt có
khác nhau ít nhiều đều xây dựng mô hình thế giới theo nguyên tắc phân tuyến - đối lập
"địch - ta" của loại hình tiểu thuyết sử thi.
Trong hàng loạt tiểu thuyết sử thi hiện đại Việt Nam xuất hiện trước 1975 như:
Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Vùng trời (Hữu Mai ), Của biển (Nguyên
Hồng), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Bão biển (Chu Văn), mô hình thế giới phân tuyến -
đối lập "địch ~ ta" đã được xác lập rõ ràng. Các tiểu thuyết Nắng đồng bằng, Út Teng,
Đêm tháng hai, Gió không thổi từ biển của Chu Lai cũng xây dựng mô hình thế giới
nghệ thuật theo nguyên tắc ấy. Trong tiểu thuyết Nắng đồng bằng của Chu Lai, chúng
ta bắt gặp một bức tranh hiện thực với hai mảng Tối - Sáng đang giao tranh dữ dội.

9
Bên địch là những đồn bốt, ấp chiến lược ngột ngạt, tăm tối và thác loạn. Trong đó,
các nhân vật phản diện xuất hiện như: - quận trưởng Xầm đen đúa, cố vấn Mĩ, sĩ quan
và binh lính Nguỵ Tất cả đều được xây dựng theo nguyên tắc "Biếm hoạ" để trở
thành những con người - quỷ xấu xa. Đây cũng chính là nguyên tắc nghệ thuật rất phổ
biến trong tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945 - 1975, một nguyên tắc được sử dụng để
xây dựng các hình tượng nhân vật phản diện. Các nhân vật thằng Xăm (Hòn Đất của
Anh Đức) Ba Phổ (Gia đình má Bẩy của Phan Tứ) Ba răng vàng (Rừng U Minh của
Trần Hiến Minh) là những minh chứng cho nguyên tắc nghệ thuật ấy. Tương phản
với mảng hiện thực đen tối kia là mảng hiện thực bi hùng đang ngày một rực sáng chủ
nghĩa anh hùng cách mạng và niềm tin chiến thắng. Đó là căn cứ của trung đội Đặc
công vùng ven Sài Gòn, là những cánh rừng Trường Sơn bất khuất: ở đó, những người
anh hùng mang vẻ đẹp lí tưởng xuất hiện: - Linh, Năm Thuý, Sáu Hoà, Út Cò Ngẳng
Nhưng ngay trong mô hình thế giới nghệ thuật phân tuyến - đối lập đậm chất sử
thi này đã xuất hiện những dấu hiệu của chất tiểu thuyết đích thực. Nhữmg dấu hiệu
mới hé lộ này sẽ trở thành phổ biến trong các sáng tác ở chặng đường sau của Chu Lai:
Đó là sự khốc liệt của chiến tranh với những cái chết nhuốm màu bi thảm:
Cái chết của Tùng, Ma Ngọc Lang, hành động tự sát của Toàn, cảnh xử tử út
Hạnh Đó là sự oan ức của Linh từ bệnh quan liêu và duy ý chí của một số cán bộ
lãnh đạo cấp trên Tất cả những tín hiệu này mới thấp thoáng xuất hiện như khúc
nhạc dạo đầu đề báo hiệu những cao trào sẽ bùng nổ sau đó.
3.1.1.2. Mô hình thế giới phân tuyến - đối lập trong tiểu thuyết phi sử thi của Chu
Lai.
Khảo sát các tiểu thuyết xuất hiện ở chặng đường sáng tác thứ hai của Chu Lai,
chúng tôi thấy nguyên tắc phân tuyến - đối lập vẫn được sử dụng nhưng không dừng
lại ở sự phân chia địch - ta một cách cơ giới và hình thức. Khái niệm Địch và Ta cũng
không còn ổn định và bất biến như
trước. Sự phân tuyến - đối lập xuất hiện giữa các nhóm người (ở bên địch cũng
như bên ta) và trong mỗi con người.
Trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, bức tranh hiện thực chiến tranh
thời quá khứ được đan xen, lồng ghép với bức tranh hiện thực thời "Hậu chiến" trong
hiện đại. Trong cả hết bức tranh hiện thực ấy, ranh giới phân tuyến vừa rõ ràng vừa
mong manh:- rõ ràng khi đối lập ta với địch trong quá khứ, người tốt và kẻ xấu trong
hiện tại, mong manh khi trong mỗi con người cái tốt và cái xấu không phải bao giờ
cũng phân chia ranh giới rõ ràng. Ngay với nhân vật chính diện Hai Hùng - một mẫu
người hùng lí tưởng thời chiến, bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp của anh, ta còn biết
anh từng có những lúc muốn tự thương để rờn xa cuộc chiến, đã từng ăn cắp sữa của
thương binh
Với nhân vật lí tưởng Ba Sương cũng thế. Người con gái kiên trung tuyệt vời

10
trong chiến tranh lại sa ngã trong thời bình. Nhân vật phản diện Địch đến với Ba
Sương thực ra là đến với phần “đen đúa” tăm tối trong con người cô. Nhưng chính với
cái nhìn con người ở cả hai phương diện con người công dân và con người cá nhân
như thế, nhân vật người anh hùng lí tưởng không còn xa cách, đơn giản một chiều mà
gần gũi hơn, người hơn, và cũng thật hơn.
Với sự phân tuyến - đối lập mềm dẻo và nhân bản như thế, ta bắt gặp các nhân
vật chính diện và phản diện không phải bao giờ cũng có bản chất trùng khít với "Vai"
của nó: - Phó bí thư huyện uỷ Ba Tiến lại hèn nhát; tên đại uý Tường lại nhân ái dù
vốn nhu nhược nhưng có lúc lại dũng cảm lạ thường khi cứu Ba Sương Và như vậy,
với duyên tắc phân tuyến - đối lập xây dựng hệ mô hình thế giới nghệ thuật ở hai
chặng đường sáng tác của Chu Lai, chúng ta thấy chất sử thi ngày mờ nhạt đi cùng với
kinh nghiệm cộng đồng, chất tiểu thuyết ngày một đậm lên cùng với sự chiếm lĩnh vị
trí chủ đạo của kinh nghiệm cá nhân. Quá trình chuyển đổi quan niệm nghệ thuật này
của Chu Lai có sự gặp gỡ và tương đồng với nhiều nhà văn khác: -
Nguyễn Minh Châu từ dấu chân người tính đến Bức tranh; Nguyễn Khải từ
Chiến sĩ đến Gặp gỡ cuốií năm, Lê Lựu từ Mở rừng đến Thời xa lắng.v.v
3.1.2. Cái nhìn phản ánh - miêu tả với chiến tranh dần chuyển sang cái nhìn hồi
ức - phân tích về chiến tranh:
Trong các tiểu thuyết của Chu Lai xuất hiện ở chặng đường thứ nhất, chất sử thi
vẫn đậm nét dù chất tiểu thuyết đã manh nha xuất hiện. Hiện thực chiến tranh trở thành
đối tượng miêu tả, việc thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực sẽ dẫn đến sự thay
đổi cái nhìn về chiến tranh.
Trong các tiểu thuyết của Chu Lai ở thời kì này, kinh nghiệm cộng đồng và cảm
hứng thời đại mang tính anh hùng ca trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt quan niệm nghệ
thuật của Chu Lai. Quan niệm nghệ thuật quy định nội dung và định hướng cái nhìn
phản ánh - miêu tả về chiến tranh: - một hiện thực chiến tranh được tái hiện theo trục
sự kiện - mà ở đây là các trận đánh. Hệ thống sự kiện nổi lên hàng đầu còn số phận
những người lính chỉ ở vị trí thứ hai. Họ tham gia vào các sự kiện và qua đó bộc lộ
phẩm chất hoặc anh hùng hoặc hèn nhát của mình. Trong tiểu thuyết "Nắng đồng
bằng" của Chu Lai, cốt truyện được triển khai theo dòng sự kiện: - Hành quân (tr.7);
Vượt sông (tr.19); Về đồng bằng (tr.29 - 33); Vào ấp chiến lược (tr.33-35); Đi lấy gạo
bị thương vong (tr.39 - 5l); Đánh ổ phục kích Mĩ (tr.57 - 58) Với hệ thống sự kiện ấy,
nhân vật chủ yếu bộc lộ tính cách bằng ngôn ngữ và hành động, độc thoại nội tâm
cũng đã xuất hiện nhưng còn thưa thớt, đặc biệt các lời độc thoại nội tâm chủ yếu là lời
nửa trực tiếp, giọng điệu của người trần thuật và giọng điệu của nhân vật luôn song
trùng, thống nhất với nhau, tính cách nào thì ngôn ngữ hành động và suy nghĩ như thế
ấy, không hề có sự so le khập khiễng như trong các tiểu thuyết ở chặng đường sáng tác
thứ hai của Chu Lai. Nhân vật Linh với những phẩm chất anh hùng của mình đã luôn

11
nói, làm và nghĩ như một người anh hùng. Chiến tranh được miêu tả như "ta muốn" và
"ta cần" phải miêu tả sao cho phục vụ tốt nhất cho yêu cầu lịch sử, cho thắng lợi cuối
cùng, chứ không phải như những gì vẫn diễn ra trong hiện thực. Bởi thế, qua cái nhìn
phản ánh - miêu tả, bộ mặt chiến tranh hiện ra với sắc thái bi hùng, trong đó cái Hùng
được tô đậm lên, cái Bi được giảm nhẹ đi. Sự khốc liệt và đau thương của chiến tranh
đã được miêu tả, nhưng chiến tranh và số phận con người chưa được khám phá với
chiều sâu nhân bản cần có và phải có.
Ở các tiểu thuyết sáng tác trong chặng đường thứ hai của Chu Lai, với các vấn đề
trên, chúng ta gặp một quy định ngược lại. Cái nhìn hồi ức - phân tích lại tô đậm cái Bi
và giảm nhẹ cái Hùng của hiện thực chiến tranh. Thực ra, cả hai cái nhìn có phần cực
đoan ở hai chặng đường sáng tác của Chu Lai đều có phần chưa thoả đáng: "Khi cực
đoan mọi chân lý sẽ trở thành phi lí!". Khi Chu Lai khái quát rằng chiến tranh là "một
luật chơi tàn bạo" [2 - 55] và "Chiến tranh không phải cái gì khác ngoài chuyện ngày
nào cũng phải chôn nhau mà chưa đến lượt chôn mình" [7], thì đó là những khái quát
từ sự thật chiến tranh mà nhà văn đã trải nghiệm. Nhưng sự thật ấy có thể điển hình
hoặc chưa điển hình. Mỗi người lính đều cảm nhận chiến tranh theo cách của riêng
mình. Và không phải tất cả những gì ta nhìn thấy, trải qua đều mang trong nó bản chất
của sự thật. Nếu khái quát vội vàng có thể sa vào tình trạng “Thầy bói xem voi”. Nếu
mỗi người lính cách mạng chỉ chiến đấu vì: "tồn tại trên bản năng tự vệ quật cường.
Mình không giết nó thì nó giết mình" [7] thì tại sao dân tộc Việt Nam lại chiến thắng
trong cuộc chiến đấu không cân sức với tên Gôliát của thế kỉ XX là Đế cuốc Mĩ?. Tuy
nhiên, đó không chỉ là hạn chế của riêng Chu Lai mà còn là hạn chế của nhiều tác giả
viết về chiến tranh sau thời điểm "Đổi mới" 1987 như Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến
tranh, Xuân Đức với Bến đò xưa lặng lẽ, Trần Văn Tuấn với Rừng thiêng nước
trong
Khi cái nhìn hồi ức - phân tích về chiến tranh thay thế cho cái nhìn phản ánh -
miêu tả, số phận người lính nói riêng - số phận con người nói chung trở thành "tâm
điểm", dòng chảy lịch sử ở thời điểm chiến tranh trở thành cái "nền" để từ đó nhà văn
khám phá nỗi đau và sức mạnh của con người Việt Nam trước những thử thách của cả
thời chiến tranh và thời “hậu chiến”. Những "mảng" hiện thực có được từ kinh nghiệm
cá nhân của nhà văn ( có thể là điển hình hoặc không điển hình) không còn phải né
tránh mà được phơi bầy trần trụi trên mặt giấy. Trong cảnh xử tử tên gián điệp út Hạnh
[1,304 - 307], cây gậy trên tay Linh vung lên sắp quật vỡ đầu nó thì vướng vào cành
cây nên phải dừng lại. Thực ra "cây gậy" kinh nghiệm cá nhân của nhà văn đã vướng
phải "cành cây" chuẩn mực nghệ thuật của loại hình tiểu thuyết sử thi: - người anh
hùng cách mạng không được phép được miêu tả với hành động "phản thẩm mĩ" (dù có
thật trong chiến tranh) như thế. Nhưng trong tiểu thuyết ăn mày dĩ vãng, nhân vật Hai
Hùng đã ra lệnh cho Tuấn đập chết sáu tên chiêu hồi, tình báo Nguỵ: "Một trong sáu ụ
đất ấy, trên bề mặt vẫn còn vương lại mấy lọn tóc dài của đàn bà ( ) - con Phượng

12
hoàng tóc dày quá - Đập mãi không chết " [3 - l99]. Cái nhìn hồi ức phân tích trong
loại hình tiểu thuyết phi sử thi đã khái quát một bộ mặt chiến tranh nói riêng, bộ mặt
cuộc sống nói chung phong phú đa dạng hơn, "thật hơn" theo góc nhìn từ kinh nghiệm
cá nhân của nhà văn. Trong tiểu thuyết Cuộc đời dài lắm của Chu Lai, cuộc chiến
tranh Biên giới 1979 đã được tái hiện trong hồi ức, không phải là cảnh chiến trận đẫm
máu mà là một kỉ niệm thấm đẫm nhân tính: - Vũ Nguyên và Bằng đã cố tình "phạm
luật, khi thả A linh - một nữ tù binh. Ranh giới Địch - Ta đã mờ đi bởi tình người. Các
tiểu thuyết sử thi Việt Nam trước 1975 và các tiểu thuyết của Chu Lai ở chặng đường
sáng tác thứ nhất sẽ không chấp nhận tình tiết đó.
3.2. Sự chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về con người của Chu Lai:
3.2.1. Từ cái nhìn sử thi với con người "đơn phiến" chuyển sang cái nhìn tiểu
thuyết với con người lưỡng diện - đa tạp.
Trong loại hình tiểu thuyết sử thi Việt Nam hiện đại 1945 - 1975. Nguyên tắc
phân tuyến đối lập đã "chia đôi" thế giới nhân vật thành "hai nửa" chính diện và phản
diện. Đó là những con người "đơn phiến" mang phẩm chất đạo đức định sẵn và bất
biến. Cơ sở để phân tuyến là ý thức hệ chính trị, là lập trường giai cấp. Bởi vậy, nhân
vật chính diện nhất định phải tối đẹp. Nhân vật phản diện dứt khoát phải xấu xa. Các
tiểu thuyết của Chu Lai ở chặng đường sáng tác thứ nhất tuy không "rập khuôn"
nguyên tắc phân tuyến - đối lập ấy, chất sử thi không còn thuần nhất mà đã bắt đầu
"pha trộn" chất tiểu thuyết, nhưng các nhân vật trong tiểu thuyết ở thời kì này của Chu
Lai vẫn là những con người "đơn phiến". Đọc Nắng đồng bằng, ta gặp những nhân vật
thật tốt đẹp: Sáu Hoá, Linh, Thuý, Thanh, Út Cò Ngẳng Tuy đã được cá thể hoá ở
ngoại hình, quê quán, cá tính, số phận nhưng họ giống nhau ở nhân cách, ở tinh thần
cách mạng Đó là những nhân vật thuộc kiểu nhân vật loại hình có đời sống tâm hồn
như những "Viên ngọc không tì vết", một vài nhược điểm nhỏ của họ (Tính nóng nảy
của Linh, tật hay uống rượu của Sáu Hoá ) càng khiến họ đáng yêu hơn, người hơn.
Ngược lại, các nhân vật phản diện xấu xa cả ngoại hình lẫn nhân cách cũng luôn có
một phẩm chất xã hội duy nhất tương ứng với chức năng xã hội và chức năng văn học
của chúng: - tên quận trưởng Xầm đen đúa và tàn bạo, bọn lính Mĩ thú vật, lũ lính
Nguỵ hèn nhát, bạc nhược. Duy nhất nhân vật Kiêu từ chính diện chuyển sang phản
diện. Nhưng Chu Lai đã đưa ra hàng loạt tín hiệu báo trước cho người đọc về sự phản
bội tất yếu của nhân vật này: - sự hèn nhát đã thành "truyền thống" ở Kiêu (Bỏ nhiệm
vụ, tìm cách bảo mạng trong một trận đánh, né tránh trước những nhiệm vụ nguy
hiểm ); ngoại hình với môi trên rất mỏng, nói năng dẻo quẹo mắt hay liếc ngang
Ngoại hình của nhân vật Kiêu đã "tố cáo" bản chất của hắn.
Nhưng ở hàng loạt tiểu thuyết sau này như Phố, ăn mày dĩ vãng, Ba lần và một
lần cái nhìn tiểu thuyết đã thay thế cái nhìn sử thi để vẽ lên một thế giới mà trong đó
con người đa đoan, cuộc đời đa sự đầy ắp cả hợp lí và phi lí. Kiểu nhân vật con người
lưỡng diện - đa tạp xuất hiện như một hệ quả tất yếu của cái nhìn tiểu thuyết. Nhân vật

13
Vũ Nguyên trong "Cuộc đời dài lắm" là một nhân vật chính diện mang tính lí tưởng.
Vậy mà khi Vũ Nguyên còn là một người lính, anh đã làm ngơ cho Bằng thả tự do cho
nữ tù binh A Linh. Khi đã là một giám đốc, Vũ Nguyên tuy đã có vợ vẫn yêu say đắm
Hà Thương. Trong loại hình tiểu thuyết sử thi, một cán bộ lãnh đạo cao cấp như Vũ
Nguyên không thể vi phạm kỉ luật quân đội và có những “vi phạm” về đạo đức lối
sống như thế. Nhân vật Tám Cọp (Ăn mày dĩ vãng ) là một chỉ huy dũng cảm lập bao
chiến công. Nhưng người anh hùng này lại có "bệnh" hay "vồ" phụ nữ. Các nhân vật
xuất hiện với phẩm chất đạo đức không phải bao giờ cũng trùng khít với chính nó: -
Hai Tính cứa đứt dây võng để hại Sáu Nguyện vì thù hằn (Ba lần và một lần); Huấn
giết chết Trung đội trưởng Thành để trả thù riêng (Vòng tròn bội bạc) Những con
người lưỡng diện - đa tạp này hoặc tha hoá trước thử thách hoặc "nếm trải" thử thách
rồi trưởng thành nhờ cuộc đời dạy bảo. Chính vì thế, họ trở thành nhân vật đích thực
của tiểu thuyết chứ không phải là nhân vật của các “Sử thi mới”.
3.2.2. Từ những người anh hùng - hợp thời trở thành những người anh hùng - lạc
thời.
Đây không phải là phát hiện mới của Chu Lai. Nhiều nhà văn lớp trước và cùng
thời với Chu Lai đã phản ánh hiện tượng mang tính quy luật này. Những người anh
hùng rực rỡ vinh quang trong chiến trận, khi trở về với những thương tật cả trên thân
thể và tâm hồn đã không dễ hoà nhập vào cuộc sống đời thường. Một số người trở lên
lạc lõng bơ vơ, vật vã trong cả bi kịch vật chất và tinh thần. Bảo Ninh trong Thân phận
tình yêu đã viết thật xúc động và ám ảnh về hiện tượng đó. Nhân vật Kiên cô độc đi
giữa cuộc đời với những vết thương khủng khiếp trong tâm hồn. Những ác mộng đêm
đêm kéo anh trở về với Trường gọi hồi, đồi Xáo thịt đầy xác chết và máu. Tỉnh dậy
trong đêm, Kiên thấy gối đầm đìa nước mắt. Chiến tranh đã đi qua nhưng hậu quả của
nó để lại thật nặng nề và tàn bạo trên từng mảnh đất, từng số phận con người. Và
những người lính trở về đời thường đã trở thành những anh hùng - lạc thời hay nói
chính xác hơn là hết thời. Họ không thể tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn và hạnh
phúc trong cuộc sống.
Hoà vào “dàn đồng ca” hát bài hát bi thảm thời hậu chiến, Chu Lai đóng góp
giọng hát riêng của mình, làm phong phú và sâu sắc hơn những tìm tòi, khám phá về
thân phận người lính sau chiến tranh. Đó là số phận của Sáu Nguyện trong Ba lần và
một lần, Lãm với cuộc sống trên hè phố trong Phố và đặc biệt là Hai Hùng trong Ăn
mày dĩ vãng. Người đội trưởng đội đặc nhiệm lừng lẫy một thời, người anh hùng trận
mạc từng khiến kẻ thù khiếp sợ và gọi anh bằng cái tên "ác ôn Việt cộng", giờ đây trở
thành một kẻ ăn mày đặc biệt : - ăn mày dĩ vãng. Bản chất trung thực và thẳng thắn
của một người lính đã khiến anh không thể hoà nhập với mặt trái của cơ chế thị
trường. Ngoài 40 tuổi mà nhàu nát, già nua như ông già ngoài 50 tuổi, không gia đình,
không nghề nghiệp, không tiền bạc, người anh hùng lạc thời ấy đi tìm Ba Sương, cũng
là đi tìm quá khứ đẹp đẽ bi hùng của chính mình. Nhưng Ba Sương đã chết về phương

Xem chi tiết: tt_chulai


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét