Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt
LỜI MỞ ĐẦU
Văn hố ứng xử của người việt đã được hình thành trong q trình
giao tiếp qua 4000 năm dựng nước và giữ nước. Cái đẹp trong văn hố
ứng xử được cha ơng ta lưu giữ, truyền lại từ đời này sang đời khac. Ngày
nay mặc dù xã hộ đã có nhiều thay đổi nhưng giao tiếp ứng xử vẫn có tầm
quan trọng đặc biệt. Nó tạo nên các mối quan hệ đẹp có văn hóa, có đạo
đức trong cộng đồng dân cư, trong tình bạn trong tình u, trong gia đình,
trong nhà trường, trong kinh doanh, đàm phán- thương lượng khi có
những bất cồng có thể dẫn đến xung đột.
Giao tiếp ứng xử có văn hố, có đạo đức là cơ sở để có những mối
quan hệ thân thiện trong cộng đồng, quan hệ tình nghĩa trong gia đình,
quan hệ hợp tác trong kinh doanh là cơ sở để tạo ra mội trường xã hội có
lơi cho sức khoẻ của con người
Vì vậy chúng ta cần nghiên cứu cái đẹp trong văn hố ứng xử của
người việt để tìm hiểu, kế thừa và phát huy những giá trị cao đẹp tinh hoa
của cuộc sống
Bài viết gồm 3 phần chính:
I) Cái đẹp trong văn hố ứng xử được hình thành trong q trình
giao tiếp của con người
II) Những biểu hiện của cái đẹp trong văn hố ứng xử
III) Một số bí quyết trong văn hố ứng xử
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
CHƯƠNG I
CÁI ĐẸP TRONG VĂN HỐ ỨNG XỬ ĐƯỢC HÌNH THÀNH
TRONG Q TRÌNH GIAO TIẾP CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM
1. BẢN CHẮT CỦA CÁI ĐẸP
Cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm của mỹ học. Cái đẹp có
mặt ở khắp mọi nơi trong cuộc sống quanh ta, được biểu hiện qua mn
vàn những sự vật hiện tượng với những kích thước hình dáng màu sắc
phẩm chất khác nhau, nhưng nó khơng tồn tại vĩnh viễn, hằng cửu mà nó
vừa mang tính thời sự vừa mang tình mn thửa. Cái đẹp ln hướng tới
chân- thiện- mỹ và có tính nhân dân, tính dân tộc tính nhân loại.
2. VĂN HỐ ỨNG XỬ
Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tình thần do con người
sáng tạo ra trong q trình lịch sử( từ điển việt nam). Văn hố là hướng
tới cái đẹp, hướng tới con người và làm đẹp cuộc sống.
Văn hố ứng xử là lối sống, lơI suy nghĩ, lối hành động, là triết lý
sống của con người đối với tự nhiên xã hội trong một phạm vi hẹp tới một
phạm vi rộng.
Bản chắt của văn hố ứng xử là chữ tâm và chữ nhẫn. Con người
khơng thể giao tiếp ứng xử tốt khi mà một phía có thiên chí. Giao tiếp
ứng xử đòi hỏi cả hai bên phải có tấm lòng, tình cảm, thiện chí mới đạt
kết quả. Đó là chữ tâm. Và văn hố ứng xử con người phải “nhẫn”, tức là
phải có sự kiên trì nhẫn lại, nhường nhịn nhau,thẩm chí đơi khi cũng phải
thiết thòi đơi chút có thể mới đạt hiệu quả giao tiếp tốt. Nếu có cả “ tâm”
và “ nhẫn” thì sẽ đạt kết quả tốt trong giao tiếp ứng xử. ĐIều đó đơi khi
thay đổi số phận của cả một cuốc đời.
3. CÁI ĐẸP TRONG VĂN HỐ ỨNG XỬ
Cái đẹp trong văn hóa ứng xử của người việt đã hình thành trong
q trình giao tiếp từ rất sớm và ngày càng phong phú. Những giá trị cao
đẹp đó được ơng cha ta lưu truyền cho thế hệ sau và đến ngày nay vẫn con
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
ngun giá trị vơ cùng to lớn đối với nhân dân ta. Văn hố ứng xử trong
q trình giao tiếp gồm hành loạt các hệ thống: ứng xử trong gia đình,
làng xã trong họ mạc, giữa các dòng họ với nhau, giữa các thành viên
trong cộng đồng giữa những người đồng nghiệp, giữa những người cùng
giới và khác giới…
Trước hết chúng ta đề cập đến cái đẹp trong ứng xử của tình u
nam nữ. tuổi trẻ đầy sức sống, ai biết mà chẳng muồn u và khao khát
được u. tình u làm đẹp cuộc sống, làm đơi lứa trở nên vui tươI và u
đời hơn. Trước đây ơng cha ta thường có quan niệm nên chọn người
mn đẳng hộ đối trong cưới xin: “ lấy vợ xem tơng lấy chồng xem
giống”, hay “ trâu ta ăn cỏ đồng ta”. nhưng hiện nay thì xã hội đã tiến bộ
hơn nên trong tình u nam nữ đã được tự do chọn lựa người mình u: “
ép dầu ép mỡ ai lỡ ép dun”.Trong tình u có rất nhiều đìêu khó có thể
lường trước, có thể nên đồi mà cũng có thể tan vỡ. Và dù trong trường
hợp nào thì hai bên cũng phải tỉnh táo xử lý để có thái độ xử sử nhẹ
nhàng, có lý có tình:
“Khơng đến được với nhau
Em đi lấy chồng
Ta như con thuyền mắc cạn giữa dòng sơng…
Ngày em lên xe hoa
Thuyền tròng trành nước mắt
Mây thang lang bạc trắng trên đầu
Ta gửi lòng ta
Lại
Khúc
Sơng
Sâu
( Lời cuối – Thế Hùng)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
Trong tình cảm vợ chồng thì cái đẹp của ứng xử là chữ tâm và chữ
nhẫn cả hai bên đều phải u thương nhau thật lòng, quan tâm chăm sóc
lẫn nhau, nhường nhịn nhau thì mới hạnh phúc.
Trong cuộc đời vợ chồng mấy chục năm gắn bó với nhau khơng thể
trành khỏi đơi lúc nòng giận, cãi vã với nhau. Trong những trường hợp
như thế người vợ thường phải biết nhẫn tức là nhịn nhường kiên nhẫn
chịu đựng, là người “ tháo ngòi nổ” trong các tình huống như vậy
“Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì”
hay “ Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sơi nhỏ lửa thì đời nào khê”
Trong gia đình thì người vợ là một phần khơng thể thiếu. Nếu gia
đình mà thiếu vắng người vợ thì sẽ khơng hồn chỉnh. Người vợ hiền dịu,
đảm đang chăm lo cơng việc gia đình tạo điều kiện cho chồng n tâm
phát triển sự nghiệp thì gia đình ln vui vẻ,hạnh phúc. Trái lại người vợ
xấu tình trá nết thì chỉ làm khổ chồng con mà thơi vì vậy các cụ ta có câu
“ giàu vì bạn sang vì vợ”, “ gai ngoan làm sang cho chồng” vợ còn là tay
hòm chìa khố cho chồng “ trai có có vợ như giỏ có hom”
Gia đình êm âm hạnh phúc sẽ tạo nên sức mạng vơ song vượt qua
mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống: “thuận vợ thuận chồng tát biển
đong cũng cạn”.
Người vợ Việt Nam khơng chỉ giỏi việc nước đảm việc nhà mà còn
rất thuỷ chung với chơng. Đây là một phaamr chất vơ cùng q báu của
người phụ nữ Việt Nam. Mặc dù chồng nghèo khó thì cũng khơng chê mà
cùng chia sẻ mọi khó khăn buồn vui với chồng: ‘chồng em áo rách em
thương, chồng ngưòi áo gấm sơng hương mặc người”. Hoặc khi chồng gặp
điều khơng may khơng còn lành lặn thì vẫn ở bên cạnh chồng chăm sóc
cho chồng:
“Thiếu phụ hát cho chồng nghe
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
Qn cả cơng viên bao người qua lại
Bài hát ngân vang ngân dàI ngân mãi
Nhớ về …dĩ vãng xa xưa
Ngưòi chồng gượn cưỡie lăn đung đưa
Bàn tay ngủ n bất động
Bàn chân ngủ n bất động
Chỉ nụ cười gượng gạo
Chỉ những giọt nước mắt nghẹn ngào lăn trên gò má”
(Nhớ về dĩ vãng-Thế Hùng)
Ngay cả khi ngưòi chồng khơng may mất đi thì người vợ vẫn một
lòng ni con thờ chồng: “ghe bầu chở lái về đơng, làm thân con gái thờ
chồng ni con”bởi họ quan niệm: “vợ chồng sống gửi thịt chết gửi
xương”. Sau khi người chồng mất đi, người phụ nữ coi việc ở vạy thờ
chồng nI con là chung thuỷ với chòng. Đó là hạn chế bởi họ chịu ảnh
hưởng quan niệm “tam tong”đối với người phụ nữ của Nho giáo. Nhưng
mặt khác quan niệm tứ đức “cơng dung ngơn hạnh” đối với người phụ nữ
thì vẫn ln đúng đắn, là đòi hỏi cần thiết là chuẩn mực của người phụ nữ
tồn diện của thời đại.
Đó là về phía người vợ còn người chồng thì phải có cách xử sự thế
nào cho đúng? Lẽ dĩ nhiên nếu người vợ đã hết mực u thương chồng
con thì họ sẽ đươc đền đáp lại. Trước một người vợ đảm đang thấo vát,
người chồng khơng thể khơng cảm động mà đối xử tốt với vợ u thương
vợ con hơn, n tâm xây dựng sự nghiệp đem lại nền tảng kinh tế vững
chấc cho gia đình ổn định. Ơng cha ta có những câu nghi lại tình cảm của
người chồng giành cho vợ như: “của chồng cơng vợ”, “nhất vợ nhì trời”
như sự nghi lòng tạc dạ về cơng lao của người vợ trong gia đình.
Trước kia chúng ta có nhà thơ Tú Xương viết bài thơ “Thương vợ”
ca ngợi người vợ tần tảo, vất vả quanh năm của ơng để “nI đủ năm con
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
với một chồng” thì nay chúng ta có nhà thơ Thế Hùng với bài “Vợ ơI”
cũng thể hiện tình cảm u thương sâu sắc với người vợ thân u của
minh:
“Em đi vắng
Nhà hoang tàn giá lạnh
Con mải chơi qn bố bữa cơm chiều
Mở tủ lạnh thấy tồn là đá
Bếp chỏng trơ tồn những nồi niêu
Em đi vắng
Anh cơ đơn buồn tủi
Lẻ một mình phòng vắng ngắt như tờ
Con lớn theo chồng, con sau theo bạn
Thui thủi căn phòng trống trải bơ vơ
Em đi vắng
Đêm ơm chăn trằn trọc
Ngày đã dài đêm thao thức dài hơn
Về đi em cho anh đở khổ
Cứ bơ vơ cứ lỡ dở thế này
Khi xa em
Anh tột cùng nỗi khổ
Thiếu một người rất vợ –là em
( Vợ ơi- Thế Hùng)
Bởi vậy nên vợ chồng u thương, gắn bó đến hết cuộc đời:
Ba mươi năm sau
Chúng mình
Tóc cước
Anh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Mang tặng em
Chiếc lược
Một thời
Chải
Tóc
Em
Xanh
( Q lúc tuổi già_Thế Hùng)
Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ máu thịt nên vơ cùng
đặc biệt. Ngưòi cha người mẹ nào cũng dành cho con cái mình những điều
tót đẹp nhất , mong cho con cái mình những điều may mắn nhất. Vì vậy
cha mẹ ln cố gắng dạy dỗ cho con cái mọi điều hay lẽ phải, hằng mong
cho con cái sau này trở thành người có ích cho xã hội:
Dạy con từ thuở còn thơ
Đến khi cả lớn ắt khơn hơn người
Dạy ăn, dạy nói, dạy cười
Dạy đi thong thả dạy ngồi nết na
Cha mẹ nào cũng mong muốn con cái mình khoẻ mạnh, đẹp đẽ khơn
ngoan hơn người và gặp nhiều hạnh phúc bởi con cái là một phần cớ thể của cha
mẹ táI sinh: “ cá chuối đắm đuối về con”. Vì thế cha mẹ khơng quản ngại hy
sinh vất vả nI con khơn lớn nên người. Ngay cả khi con cái đã lớn cha mẹ vẫn
ln ở bên cạnh cầu chúc cho con cái mình gặp nhiều hạnh phúc may mắn:
Con
Hãy u đắm say
Như mẹ con đã từng
u bố
Tình thiêng liêng
Dành trọn vẹn một người
Rồi làm mẹ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Làm bà
Xây
Tổ
Ấm
Chỉ chồng và cháu con
Là nhất ở trên đời
( Thơ tặng con gái – Thế Hùng)
Hạnh phúc lớn nhất của người con là có đầy đủ cả cha lẫn mẹ, có gia đình
n ấm hạnh phúc “ con có cha như nhà có nóc”. Trước cơng lao to lớn của cha
mẹ con cái phải ln ghi nhớ và đền đáp báo hiếu cha mẹ
“ Cơng cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Người con nào cũng phải đặt chữ hiếu lên hành đầu, chăm sóc cha
mẹ khi già yếu và nơi nương tựa, là nguồn an ủi của cha mẹ. Mỗi khi nghĩ
về mẹ con cái ln bày tỏ tình cảm thiêng liêng sâu sắc đối với người mẹ
tần tảo lam lũ của mình đang vất vả lo cho con cái:
“ Mẹ ơ !
Mẹ dã gánh con hai lần tản cư giặc giã
Giấu làm sao tóc mẹ bạc trắng trời”
( Tóc bạc mẹ già- Thế Hùng)
“ Con hèn q khơng giúp gì được mẹ
Phơi thân gày bán xổ số ven đường
Mẹ sinh con mong về giá nương tựa
Tóc điểm sương rồi nhìn mẹ mà thương”
( Mẹ- Thế Hùng)
Khi nghĩa về cha một người cha siêng năng lam lũ, mong cho con
cái mình khơn lớn trưởng thanh, người con đã bộc lộ cảm xúc:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
“ Cha cũng như cây héo gầy – tám mười năm
Rễ siêng năng nhọc nhằn ni con khơn lớn
Con như chiếc lá đầu cành xanh đến biếc cả trời xanh
Nhìn những chiếc lá vàng cuối cùng lắc lay trong gió
Con rùng mình sẽ có một ngày mất cha…
Sẽ khơng có nước mắt nào đủ cho một người cha như thế
Sự liêm trung trác tuyệt đến vơ cùng
(Nhớ về cha mùa đơng năm hai ngàn lẻ một- Thế Hùng)
Tình anh chị em trong gia đình là tình cảm gắn bó khơng thể tách rời. Vì
vậy anh chị em ruột thịt phải thương u, đùm bọc lẫn nhau:
“Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc,dở hay đỡ đần”
Anh em thì phải nhường nhịn lẫn nhau, đồn kết với nhau,
khơng nên tranh giành gây mất đồn kết bởi:
“Khơn ngoan đối đáp người ngồi
Gà cùng một mẹ chờ hồI đá nhau”
Hoặc: “Anh em chém nhau bề sống, khơng chém nhau bề lưỡi”. Và
khi gặp khó khăn thì phải giúp đỡ lẫn nhau: “ chị ngã em nâng”
“Trong quan hệ với họ tộc phải nhớ đến tổ tiên, nguồn gốc gia
đình, dòng họ: “ chim có tổ, người có tơng”, “ nước có nguồn cây có
gốc”. Con cháu có bổn phận phải nhớ đến cội nguồn, nhớ về q cha đất
tổ. Dù có đi xa thì cũng phải làm trọn bổn phận lễ nghĩa với gia đình họ
mạc
“ Ở nơi ấy
có dòng sơng xẻ nửa con đò
Có vườn nhãn mẹ trồng thời con gái
Có cánh cò chở nỗi nhớ qua sơng.
….
Mai
Xa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Xa đồng xu trên má
Xa nụ cười trên mơi
Xin cho tơi gửi lại cuối trời
Hạt nhãn đen đen q mình trong mắt”
(Vườn nhãn q tơi- Thế Hùng)
Trong cách ứng xử với họ tộc, phải có thái độ kính trên nhường
dưới, tơn trọng các phép tắc, lễ nghi của họ tộc, khơng được làm điều gì
tai tiếng, có lỗi với họ tộc:
“ Giấy rách phải giữ lấy lề”
Đối với hàng xóm láng giềng và mọi người xung quanh nên có thái
độ gần gủi thân thiện bởi trong cuộc sống khơng phải ai cũng được tồn
vẹn, nhiều khi còn phải có sự giúp đỡ của hành xóm láng giềng nên phải:
“ bán anh em xa mua láng giêng gần” và “ bà con em tối lửa tắt đèn
nhau”. Người khơn ngoan, thơng minh bao giờ cũng có thái đọ cởi mở,
hồ nhã với tất cả mọi người xung quanh. Người xưa thường bảo: “ thức
lâu mới biết đêm dàI, ở lâu mới biết rằng người có nhân” hoặc
Hoạ hổ, hoạ bì, nan hoạ cốt,
Tri nhân, tri diện, bất tri tâm
(Vẽ hổ, vẽ hình dáng, khó vẽ xương
Biết người biết mặt, chưa chắc biết tâm”
Ý nói con người có cả cái xấu và cái tốt thế nên phải có kinh
nghiệm, có sự tinh tế phân biệt thật giả tốt xấu có thái đọ ứng xử phù hợp.
Với bạn bè đồng nghiệp nên có thái độ thân thiện hồ đồng tránh
tính ích kỷ, ghen tị bởi đó là một điều tệ hại. Ngưòi thơng minh bao giờ
cũng biết co duỗi đúng lúc, tuỳ cơ mà ứng biến. Với cấp trên thì nên có
thái độ tơn trọng, học hỏi và làm tốt nhiệm vụ chun mơn của mình.
Khơng nên nói xấu sau lưng người khác và hoặc có thái độ xu nịnh q
đáng. Nếu có một lời khen đúng lúc đúng chỗ thì tất cả đều vui vẻ, thoải
mãi đơi khi rất được rất được việc. Với cấp dưới thì nên nghiêm túc thân
trọng, giúp đỡ, giảm bớt sự căng thẩng khơng đáng có.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
Như vậy cách giao tiếp ứng xử giữa người với người là vơ cùng
quan trọng. Vì vậy cần có thái độ, cách xử sử sao cho phù hợp với vị thế
của mình trong gia đình cũng như ngồi xã hội.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
CHƯƠNG II
BIỂU HIỆN CỦA CÁI ĐẸP TRONG VĂN HỐ ỨNG XỬ
Trong văn hố ứng xử, cái đẹp được biểu hiện rất phong phú, đa
dạng từ lời ăn tiếng nói cho đến cử chỉ, hành động và thể hiện ở cả trang
phục, diện mạo nữa. tất cả những yếu tố đó góp phần tạo nên một con
người lịch sự, nghiêm túc, đáng tin cậy. Trong đó, lời nói là phương tiện
cơ bản nhất của con người trong giao tiếp ứng xử.
1. Lời nói đóng vai trò vơ cùng quan trọng trong đời sống con
người. Lời nói là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất của con người. Thơng
qua lời nói, con người sẽ thể hiện mình có phải là người có văn hố lịch
sử hay khơng có hiểu biết hay khơng. ơng cha ta thường nói: lời nói gói
vàng. Quả đúng như vậy, chỉ bằng lời nói nhẹ nhàng đúng lúc đúng chỗ
mà có thể đạt được kết quả như ý muốn. Thế nên” lời nói khơng mất tiền
mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” bởi “ nói ngọt lọt đên xương”
Việc phát ngơn đòi hỏi hai u cầu là lời nói phải đúng vai xã hội (
tức cương vị của một người, những u cầu, những mong đợi của xã hội
đối với cương vị đó ) và lời nói phải phù hợp với trình độ của người nghe.
Đây là hai u cầu cần thiết trong giao tiếp. Trong giao tiếp tránh tình
trạng nói văng mạng, khơng suy nghĩ. Như vậy là khơng tơn trọng người
khác, có thể gây nên hậu quả xấu bởi vì “ trượt chân thì dễ, trượt miệng
thì khó” chính vì vậy người việt ln nhắc nhở nhau khi nói năng hành
động phải cân nhắc lựa chọn cho phù hợp “ uốn lưỡi bảy lần trước khi
nói”.
Trong giao tiếp hằng ngày, người lịch sự bao giờ cũng nói năng nhẹ
nhàng, từ tốn , đặc biệt phải chú ý đến ngơI thứ, địa vị của người đối
thoại để xưng hơ cho phù hợp:
“Sao em
Gọi chú bằng anh
Tuổi xn ai có để dành được đâu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Đẹp lòng nhau chỉ một câu
Rất may mái tóc trên đầu còn xanh”
(Sao em gọi chú bằng anh- Thế Hùng)
Một nét đẹp trong giao tiếp của người Việt là khi đi và về đều có
lời chào hỏi với người lớn trong nhà. đó là biểu hiện của sự tơn trọng
phép tắc gia đình và cũng là sự quan tâm đến nhau.
“Một lời nói hay ấm long ba đơng, một câu nói dở rét lạnh sáu
tháng”. Câu danh ngơn này đã thể hiện sự quan trọng của lời nói trong
giao tiếp. Chỉ bằng lời nói thơi ta đã có thể chứng minh mình có là người
hiểu biết, có đáng tin cậy hay khơng. Và cuộc đời một con người có thể
thay đổi rất lớn bởi lời nói của mình. Một người đã phát ngơn những lời
nói đúng mực, hồ nhã thì sẽ được đáp lại bởi sự tơn trọng của người
khác. “Nói là gieo, nghe là gặt”. “Trong cuộc đời con người có ba thứ mất
đi mà khơng lấy lại được là tên đã bay, lời đã nói và những ngày đã qua”.
Lời nói hay nhưng phải đúng lúc, đúng chỗ: “Khơng phải người ấy thì lời
ấy khơng nên nói. Khơng phải lúc ấy, tuy có người ấy cũng khơng nên
nói. Có người ấy, gặp lúc ấy nhưng khơng phải chỗ ấy cũng khơng nên
nói”.
2) Trong giao tiếp,bên cạnh lời nói là phương tiện cơ bản nhất thì
ngơn ngữ cơ thể cũng đóng vai trò vơ cùng quan trọng. Trong các yếu tố
thuộc ngơn ngữ cơ thể thì mắt là phương tiện giao tiếp hiệu quả nhất.
Người ta thường nói đơi mắt là cửa sổ tâm hồn, cặp mắt có thể nói gần
bằng hay hơn cả lời nói . người lịch sử khi giao tiếp thì mắt cũng nhìn
thẳng điều đó chứng tỏ họ đang quan tâm đến vấn đang đề cập tới và quan
tâm tới người đời diện. Người có cặp mắt láo lun biểu hiện một trạng
thái cá nhân giang sào lừa dối. Như vậy ngơn ngữ của đơi mắt thật đa
dạng và phức tạp khơn lường. Qua ánh mắt của người đối diện, ta có thể
biết được họ là người tốt hay người xấu, có đáng tin cậy hay khơng.
Sau ánh mắt nụ cười là một phương tiện truyền đạt tin tức rất hiệu
quả nụ cười còn là chỉ báo của sức khỏe vầ hạnh phúc cho ta về những
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
người xung quanh. Một nụ cưới có thể thay thế lời chào đơi khi nụ cười
có thể thay thế trong trường hợp từ chối khéo mà khơng làm mất lòng
người khác. Đơi khi trong lòng khơng thích nhưng khơng tiện từ chối
thẳng thửng thì mỉm cười là một cách biểu đạt hiệu quả mang ý nghĩa vạn
bất đắc dĩ phải như vậy, mong được thơng cảm. Tóm lại “ một nụ cười
khơng làm nghèo người ban phát nó mà làm giàu người nhận nó”
Trong giao tiếp ứng xử tư thế của tay chân khi ngồi, đứng cũng rất
quan trọng. Tư thế ngồi lý tưởng nhất là khi ngồi nửa người phía trên hơn
đổ về phía trước, lưng chớ dựa hẳn vào tấm dựa lưng của ghế, hai tay đặt
ngay ngắn trên đùi, gót giày áp sát vào nhau. Khi giao tiếp thì ngồi thoải
mái trò chuyện khơng nên xê qua dịch lại ra cắI điều sốt ruột khơng n.
Còn khi đứng giao tiếp thì thời gian khơng kéo dài. Trong nghi lễ
trang trọng thì phải đứng nghiêm trang, thẳng thắn, khơng được lắc lư
lệch vai hoặc khom lưng. Nếu đứng với người thân quen có thể hơn suồng
sã một chút tạo khơng khí thân ái gần gủi, giải toả sức ép tâm ly giúp đối
phương bớt căng thẳng.
Cự ly giữa hai người khi nói chuyện thì hết sức quan trọng mỗi
người nên giành cho mình một khoảng khơng gian riêng, khi giao tiếp tạo
ra cự ly thích hợp gần như là phản ứng tự nhiên thuộc về bản năng. Khi
hai bên mặc cả mua bán với nhau thì nên ngồi hai bên trước bàn lớn, mỗi
người cách mép bàn một nắm tay. Khi hai bên cùng ngồi nói chuyện nên
giữ khoảng cách và một sảI tay. Khi hai bên ngồi cùng quanh bàn khoảng
cách có thể rút lại gần hơn. nếu đứng nói chuyện, cự ly thích hợp nhất là
hai sảI tay, khơng nên gần hoặc xa q.
Trong giao tiếp cự động của tay rất phong phú: bắt tay, vẫy tay, xua
tay, giơ ngón tay… để biểu đạt tình cảm, truyền tảI tin tức người lịch sự
thì khi bắt tay ngón tay hơI gấp về phía trong, lòng bàn tay vụm lại, biểu
hiện sự thành tâm và thân mật. Trong các động tác tay, cần dùng từ thế
người để phối hợp, khơng nên chỉ cử động tay còn người lại ngay đơ khi
chìa bàn tay thì ngòn cái khơng được t ra, nếu khơng thể dựng ngòn cái
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét