Chơng I
Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
và đánh giá hệ thống KSNB trong kiểm
toán báo cáo quyết toán ngân sách bộ
1.1. Vai trò của bộ, ngành trong quản lý NSNN và sự cần thiết nghiên
cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo quyết toán
ngân sách bộ
1.1.1. Vị trí, vai trò của bộ, ngành trong quản lý NSNN
NSNN là một hệ thống thống nhất bao gồm ngân sách trung ơng và ngân
sách các cấp chính quyền địa phơng, trong đó ngân sách trung ơng bao gồm:
ngân sách các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ngân sách các
tổ chức chính trị - Chính trị xã hội, Tổ chức xã hội và Tổ chức xã hội nghề
nghiệp cấp trung ơng, gọi tắt là ngân sách cấp bộ (đơn vị dự toán cấp I trực
thuộc ngân sách trung ơng).
Nh vậy, ngân sách cấp bộ là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống
NSNN, báo cáo quyết toán ngân sách của các bộ là cơ sở để tổng hợp, lập báo
cáo Tổng quyết toán NSNN. Báo cáo quyết toán ngân sách cấp bộ phản ánh một
cách tổng hợp và trình bày tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, tình hình cấp
phát, tiếp nhận kinh phí của Nhà nớc, kinh phí viện trợ, tài trợ và tình hình sử
dụng từng loại kinh phí. Ngoài ra các đơn vị có hoạt động thu sự nghiệp còn phải
tổng hợp tình hình thu, chi và kết quả của từng loại hoạt động sự nghiệp, hoạt
động kinh doanh trong kỳ, đồng thời cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính cần
thiết cho việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi, quản lý tài sản của Nhà nớc.
Việc tổng hợp, phân tích, đánh giá các hoạt động của từng đơn vị nói riêng và
toàn xã hội nói chung giúp cho các cơ quan chức năng của Nhà nớc có cơ sở để
4
khai thác các nguồn thu, điều chỉnh các khoản chi một cách hợp lý, từ đó định ra
cơ chế quản lý kinh tế, tài chính phù hợp với thực tế để phát triển kinh tế- xã hội.
Việc thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ của bộ, ngành đóng vai trò
quan trọng trong việc thực hiện các chiến lợc kinh tế xã hội của đất nớc. Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra là việc thực hiện tốt các nhiệm vụ đợc giao phải trên cơ sở
sử dụng NSNN và các nguồn lực một cách có hiệu quả. Trong điều kiện chính
phủ hạn chế việc bội chi ngân sách, việc quản lý và sử dụng kinh tế, hiệu quả mọi
nguồn lực trở thành yếu tố quyết định trong công tác quản lý NSNN.
1.1.2. Vai trò của KSNB trong quản lý tài chính ở một bộ
Các bộ, ngành đều hoạt động dựa vào kinh phí NSNN cấp với các khoản
chi tiêu phải tiết kiệm, phù hợp với dự toán và tình hình thực tế. Điều đó có nghĩa
là cần tìm ra các biện pháp giảm bớt các chi phí hành chính, quản lý các rủi ro,
đổi mới hoạt động sao cho kinh tế và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, công tác kiểm
tra tài chính cũng cần đẩy mạnh với mục tiêu xoá bỏ mọi hành vi gian lận, lãng
phí trong chi tiêu ngân sách và lành mạnh hoá các quan hệ tài chính của các bộ,
ngành. Những đòi hỏi khách quan và bức xúc kể trên đã làm tiền đề cho việc
thiết lập hệ thống KSNB trong các bộ, ngành và công tác kiểm tra, kiểm soát cần
đợc thực hiện độc lập, có tổ chức, liên tục trong mọi giai đoạn hoạt động. Tác
dụng của KSNB trong phạm vi một bộ thể hiện cụ thể trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất: kiểm tra, kiểm soát góp phần hớng dẫn nghiệp vụ và củng cố
nền nếp hoạt động tài chính, kế toán của bộ, ngành.
Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính của các bộ, ngành đều bao
gồm những quan hệ đa dạng, luôn biến đổi và đợc cấu thành bởi hàng loạt
nghiệp vụ cụ thể từ khâu lập dự toán, thực hiện dự toán và quyết toán NSNN. Để
hớng các nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt các quan hệ trên, không chỉ
cần có định hớng đúng và thực hiện tốt các quan hệ, mà còn cần thờng xuyên
soát xét việc thực hiện để hớng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn.
5
Hoạt động tài chính lại bao gồm nhiều mối quan hệ phân phối, thanh toán.
Tính phức tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặt chẽ giữa các
quan hệ tài chính với lợi ích của con ngời, quan hệ giữa các đơn vị dự toán cấp
I, cấp II, cấp III thuộc bộ. Hoạt động tài chính chỉ thực sự có hiệu quả khi có
những hớng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp quản lý thông qua việc kiểm tra,
kiểm soát thờng xuyên.
Thứ hai: kiểm tra, kiểm soát tạo niềm tin cho các đối tợng quan tâm đến
thông tin tài chính và sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán. Những đối tợng
quan tâm chủ yếu gồm:
- Các cơ quan Nhà nớc cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền
kinh tế bằng hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế. Đặc biệt với ngân sách của
Nhà nớc, với kinh phí đã cấp cho các bộ, ngành càng cần đợc giám sát chặt chẽ
theo hớng đúng pháp luật và có hiệu quả. Chỉ có hoạt động kiểm tra, kiểm soát
phát triển trên cơ sở khoa học thực sự mới đáp ứng đợc những yêu cầu thông tin
cho những chính sách của Nhà nớc, những quyết định đúng đắn của đơn vị.
- Các nhà quản lý cần thông tin trung thực không chỉ trên báo cáo quyết
toán ngân sách bộ mà còn những thông tin cụ thể về tài chính, về hiệu quả và
hiệu năng của mỗi bộ phận để có những quyết định trong mọi giai đoạn quản lý,
kể cả tiếp nhận kinh phí và điều chỉnh các hoạt động Những thông tin đó chỉ
có đợc thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát đợc tổ chức khoa học.
- Ngời lao động cũng cần có thông tin đáng tin cậy về phân phối thu
nhập, về thực hiện chính sách tiền lơng và bảo hiểm nhu cầu đó chỉ có thể đáp
ứng thông qua hệ thống kiểm tra, kiểm soát hoàn chỉnh.
Tất cả những đối tợng quan tâm này không cần hoặc không thể biết tất cả
kỹ thuật nghiệp vụ của nghề quản lý, của lĩnh vực tài chính, kế toán nhng cần
biết thực trạng của hoạt động này. Chỉ có kiểm tra, kiểm soát mới mang lại cho
họ niềm tin vào những xác minh độc lập và khách quan. Có thể nói việc tạo ra
6
niềm tin cho những ngời quan tâm là yếu tố quyết định sự ra đời và phát triển
của kiểm tra, kiểm soát với t cách là một hoạt động độc lập.
Thứ ba: kiểm tra, kiểm soát góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản
lý tài chính tại các bộ, ngành. Kiểm tra, kiểm soát không chỉ có chức năng xác
minh mà còn có chức năng t vấn. Chức năng này phát huy tác dụng rất lớn trong
các đơn vị đợc kiểm tra, kiểm soát thờng xuyên. Trong điều kiện đó, việc tích
luỹ kinh nghiệm qua thực tiễn sẽ là cơ sở cho những bài học trong tơng lai.
Tóm lại, hoạt động kiểm tra, kiểm soát nảy sinh và phát triển từ chính nhu
cầu quản lý. Khi nhu cầu kiểm tra cha nhiều và phức tạp, kiểm tra đợc thực
hiện đồng thời với các chức năng quản lý khác. Khi nhu cầu kiểm tra, kiểm soát
gia tăng do nội dung các hoạt động quản lý vĩ mô và vi mô ngày càng phức tạp
thì kiểm tra đợc tách ra một hoạt động độc lập với bộ máy tổ chức chuyên môn
độc lập.
1.1.3. Bản chất của KSNB
Quá trình quản lý bắt đầu từ việc lập kế hoạch, xây dựng các mục tiêu có
liên quan và tổ chức thực hiện kế hoạch, mục tiêu đã định trên cơ sở những
nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Thông thờng các hoạt động
nghiệp vụ đó có thể xảy ra sai sót và điều kiện môi trờng cũng có thể thay đổi
trong quá trình thực hiện kế hoạch. Do vậy, trong mỗi giai đoạn của quá trình
quản lý cần phải kiểm tra để phát hiện những sai sót, bất cập có thể xảy ra nhằm
đề ra những giải pháp kịp thời để tăng cờng tính hiệu quả của công tác quản lý.
Thực tế hoạt động kiểm tra này phải đợc thực hiện ở tất cả các khâu của quá
trình quản lý và là một chức năng của quản lý. Trong phạm vi một đơn vị, hoạt
động kiểm tra đó gọi là KSNB. Theo định nghĩa của liên đoàn kế toán Quốc tế
(IFAC), KSNB là một hệ thống các chính sách và thủ tục nhằm: bảo vệ tài sản,
bảo đảm độ tin cậy của các thông tin kinh tế, ngăn ngừa các sai sót trong báo
cáo tài chính; bảo đảm việc tuân thủ các qui chế quản lý, hiệu quả của hoạt
động quản lý nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng.
7
Theo định nghĩa đó thì bốn mục tiêu chủ yếu mà bất cứ đơn vị nào cũng
mong muốn đạt đợc khi thiết lập hệ thống KSNB là:
- Bảo đảm hệ thống thông tin về thực trạng hoạt động kinh tế, tài chính của
đơn vị chính xác, trung thực và kịp thời; để có thể làm căn cứ tin cậy, quan trọng
hình thành các quyết định quản lý kịp thời có hiệu quả;
- Hệ thống KSNB đợc thiết kế trong đơn vị phải kiểm tra và duy trì việc
tuân thủ chế độ pháp lý có liên quan đến các hoạt động của đơn vị; ngăn chặn và
phát hiện kịp thời cũng nh xử lý các sai phạm và gian lận; bảo đảm hoạt động
của đơn vị đúng pháp luật; việc ghi chép kế toán đợc kịp thời, đầy đủ, chính
xác; báo cáo tài chính đúng đắn, hợp pháp.
- Một hệ thống KSNB thích hợp sẽ bảo vệ tài sản của đơn vị bao gồm tài
sản hữu hình, tài sản vô hình và các tài sản phi vật chất khác nh sổ sách kế toán,
các tài liệu quan trọng, thông tin lu giữ trong máy vi tính tránh tổn thất do các
hành vi đánh cắp, lạm dụng vào những mục đích khác nhau hoặc bị h hại.
- Phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp xử lý việc sử dụng lãng phí nhân sự
và kinh phí; bảo đảm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực.
Bốn mục tiêu nêu trên của hệ thống KSNB nằm trong một thể thống nhất;
song đôi khi cũng có mâu thuẫn với nhau, nh mục tiêu bảo vệ tài sản, sổ sách
hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy, cần phải bỏ ra khoản chi phí lớn sẽ
mâu thuẫn với mục tiêu tính hiệu quả hoạt động của đơn vị. Do vậy, khi thiết lập
hệ thống KSNB, ngời quản lý phải kết hợp hài hoà các mục tiêu trên với các
mục tiêu đặc thù cần thiết, phù hợp với thực tế của từng đơn vị.
KSNB nói chung bao quát mọi hoạt động của đơn vị, trong đó KSNB về tài
chính, kế toán là một nội dung kiểm soát quan trọng. Đối tợng của KSNB tài
chính, kế toán là các chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu
về dự toán ngân sách và các tài liệu khác có liên quan.
Việc thiết lập và duy trì hệ thống KSNB là trách nhiệm của ban lãnh đạo
và rất cần thiết đối với tất cả các đơn vị: rà soát các tiềm lực, các mục tiêu, soát
8
xét lại các thông tin thực hiện để điều chỉnh kịp thời, nhằm đạt đợc mục tiêu đề
ra; đảm bảo hiệu năng của mọi nguồn lực, hiệu quả kinh tế cuối cùng của các
hoạt động; bảo đảm các hoạt động của đơn vị tuân thủ đúng pháp luật, cung cấp
các thông tin chính xác, kịp thời phục vụ quản lý.
Tuy nhiên hệ thống KSNB dù đợc thiết kế hoàn hảo đến đâu cũng không
thể ngăn ngừa hay phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra, đó là những hạn chế cố
hữu của hệ thống KSNB, những hạn chế đó bao gồm các nội dung cơ bản sau:
ban lãnh đạo thờng yêu cầu chi phí cho hệ thống KSNB không vợt quá những
lợi ích mà hệ thống đó mang lại; phần lớn công tác kiểm tra nội bộ thờng tác
động đến những nghiệp vụ lặp đi lặp lại mà không tác động đến những nghiệp vụ
bất thờng; sai sót bởi nhân viên không tập trung vào công việc, sai sót về xét
đoán hoặc do không hiểu rõ yêu cầu công việc; khả năng vợt tầm kiểm soát của
hệ thống KSNB do có sự thông đồng của một ngời trong ban lãnh đạo hay một
nhân viên với những ngời khác ở trong hay ngoài đơn vị; khả năng những ngời
chịu trách nhiệm thực hiện kiểm toán nội bộ lạm dụng đặc quyền của mình; do
có sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu hoặc bị vi phạm; việc
nắm bắt những giới hạn của hệ thống KSNB giúp ngời lãnh đạo có những quyết
định thích hợp khi thiết lập hệ thống KSNB và có các biện pháp bổ trợ cần thiết
đảm bảo hiệu quả cao trong hoạt động của đơn vị.
1.1.4. ý nghĩa của việc nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB trong
kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách bộ
Việc nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB trong kiểm toán báo cáo
quyết toán ngân sách bộ có ý nghĩa rất quan trọng đối với kiểm toán viên trong
việc xác định các nội dung cơ bản, trọng yếu của cuộc kiểm toán. Nếu kết quả
đánh giá hệ thống KSNB là hoạt động tốt, có độ tin cậy cao thì có thể thu hẹp
phạm vi, khối lợng công việc kiểm toán mà vẫn đảm bảo không bỏ sót những
nội dung trọng yếu của cuộc kiểm toán. Ngợc lại, nếu kết quả đánh giá KSNB
của kiểm toán viên không chính xác thì sẽ dẫn tới kết quả không tốt; hoặc không
9
dựa vào hệ thống KSNB đáng tin cậy làm tăng quá mức phạm vi, khối lợng
công việc kiểm toán; hoặc dựa vào một hệ thống KSNB không đáng tin cậy kiểm
toán viên có thể gặp nhiều rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán.
Nghiên cứu và đánh giá hiệu lực của hệ thống KSNB trong quá trình kiểm
toán báo cáo quyết toán ngân sách cấp bộ sẽ giúp kiểm toán viên đánh giá đợc
các rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch kiểm toán và sử dụng phơng pháp kiểm
toán thích hợp. Chất lợng của việc đánh giá hệ thống KSNB có ảnh hởng đến
hiệu quả của cuộc kiểm toán về thời gian, chi phí, nhân sự và hạn chế tối đa các
rủi ro kiểm toán có thể phát sinh.
Xuất phát từ yêu cầu của cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách bộ
là nhằm đánh giá tính chính xác của số liệu quyết toán và đánh giá hiệu quả sử
dụng các nguồn kinh phí. Kiểm toán viên phải đi sâu tìm hiểu quá trình lập dự
toán, chấp hành và quyết toán NSNN tại các bộ, ngành. Nói chung, hệ thống
KSNB tác động tới tất cả các khía cạnh về độ tin cậy của báo cáo quyết toán ngân
sách bộ, vì vậy nó tác động đến mục tiêu của kiểm toán viên trong việc xác định
báo cáo quyết toán đợc công bố một cách đúng đắn hay không. Số liệu báo cáo
có thể không phản ánh đúng thực tế phát sinh, không tuân thủ các quy định trong
công tác quyết toán nếu nh sự kiểm soát ảnh hởng tới độ tin cậy của báo cáo
quyết toán không thích hợp. Mặt khác, báo cáo quyết toán ngân sách bộ vẫn có
thể đợc báo cáo đúng đắn trên giác độ chủ quan nếu nh hệ thống KSNB của bộ
đó hoạt động không đủ hiệu quả.
Nh vậy, nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB một cách có hệ thống và
khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lợng và hạn chế rủi
ro khi kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách bộ.
1.2. Hệ thống KSNB của một bộ
Tại các bộ, ngành hiện nay hoạt động của hệ thống KSNB chủ yếu dựa vào
các quy định của Nhà nớc để ban hành các quy chế hoạt động và làm việc của
đơn vị. Trên cơ sở đó, các bộ phận chức năng thực hiện các nhiệm vụ của mình
10
theo quy định và luật định. Chức năng chủ yếu của hệ thống KSNB là bảo vệ tài
sản và giám sát việc chấp hành chế độ chính sách Nhà nớc của đơn vị và các cá
nhân, bộ phận trong đơn vị nhằm giúp lãnh đạo đơn vị quản lý và điều chỉnh các
hoạt động của đơn vị mình theo đúng mục tiêu kế hoạch đặt ra và nâng cao hiệu
quả hoạt động trên cơ sở tiết kiệm nguồn lực. Theo đó, hệ thống KSNB bao gồm
các yếu tố chủ yếu nh sau: môi trờng kiểm soát, định chế kiểm soát, bộ máy
KSNB và hệ thống kế toán.
1.2.1. Môi trờng kiểm soát
Môi trờng kiểm soát thuộc hệ thống KSNB của một bộ bao gồm toàn bộ
nhân tố bên trong và bên ngoài bộ có tính môi trờng tác động đến việc thiết kế,
hoạt động và xử lý dữ liệu của hệ thống KSNB. Các nhân tố thuộc môi trờng
kiểm soát chung bao gồm quan điểm, cách thức điều hành, đạo đức, năng lực,
nhận thức cũng nh hành động kiểm soát của ngời quản lý, cơ cấu tổ chức, sự
phân công trách nhiệm, phân chia quyền lực, hệ thống quy chế quản lý và chính
sách về nhân sự. Các yếu tố trên tạo nên môi trờng ảnh hởng tích cực và tiêu
cực đến chất lợng hoạt động kiểm soát.
Quan điểm và cách thức điều hành của ngời quản lý: hiệu quả của hệ
thống KSNB luôn phụ thuộc vào quan điểm của ngời quản lý xuyên suốt từ bộ
trởng, thứ trởng, các vụ chức năng liên quan đến lãnh đạo các đơn vị dự toán
thuộc bộ. Bởi vì chính các nhà quản lý, đặc biệt là thủ trởng các đơn vị dự toán
sẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát để áp dụng trong
phạm vi quản lý. Nếu nh ngời quản lý cao nhất coi trọng công việc kiểm soát,
đa ra những mệnh lệnh rõ ràng cho các nhân viên về sự quan trọng của kiểm
soát, thì các chính sách, thủ tục kiểm soát, các yếu tố khác tác động tích cực đến
hoạt động kiểm soát sẽ đợc thiết lập và các nhân viên trong đơn vị sẽ tuân thủ
nghiêm túc, thận trọng quy chế quản lý của đơn vị. Mặt khác, nếu nh những
thành viên của đơn vị hiểu rõ đợc kiểm soát không phải là vấn đề quan trọng đối
với ngời quản lý cấp cao nhất và họ không nhận đợc sự hỗ trợ, khuyến khích
11
trong công việc kiểm soát từ phía ngời lãnh đạo thì hầu nh chắc chắn mục tiêu
kiểm soát của ngời quản lý sẽ không thể đạt đợc một cách hữu hiệu.
Năng lực của ngời quản lý: năng lực là những hiểu biết và những kỹ năng
cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ đã đợc định rõ trong công việc của mỗi cá
nhân. Nếu những ngời quản lý cao cấp, lãnh đạo các đơn vị dự toán đợc đào
tạo chính quy với chuyên ngành phù hợp với nhiệm vụ quản lý đợc giao; nắm
bắt đợc công việc kiểm soát cùng với hệ thống chính sách, thủ tục kiểm soát
đợc ban hành đầy đủ, đó là biểu hiện của ngời quản lý có năng lực, quan tâm
công tác kiểm soát. Nhân tố này tác động rất tích cực cho hệ thống KSNB hoạt
động có hiệu quả.
Tính trung thực và đạo đức của ngời quản lý: là cách c xử của một đơn
vị theo các chuẩn mực về đạo đức đã đợc thiết lập. Chúng bao gồm những hoạt
động của ngời quản lý để làm giảm và xoá bỏ những động cơ và sự cám dỗ mà
có thể khiến các nhân viên sẽ không trung thực, hoặc có những hành động phi
pháp, phi đạo đức. Chúng cũng bao gồm giá trị truyền đạt thông tin của một đơn
vị và chuẩn mực c xử với nhân viên thông qua việc thiết lập các chính sách, điều
lệ quản lý
Cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức của đơn vị là một hệ thống trách nhiệm và
quyền lực đang tồn tại. Một cơ cấu tổ chức hợp lý xác định rõ quyền và nhiệm vụ
của các bộ phận trong hoạt động kiểm soát, bảo đảm không bị chồng chéo và có
sự kiểm soát lẫn nhau một cách hợp lý giữa các bộ phận sẽ góp phần tạo ra môi
trờng kiểm soát thuận lợi và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động kiểm
soát.
Chính sách về nguồn nhân lực: khía cạnh quan trọng của KSNB là nhân
sự. Nếu những nhân viên có năng lực và trung thực, những nội dung kiểm soát
khác có thể không có thì vẫn có thể có đợc báo cáo tài chính tin cậy. Những
nhân viên trung thực và làm việc có hiệu quả có thể làm việc ở trình độ cao thậm
chí khi chỉ có rất ít nội dung kiểm soát hỗ trợ họ. Ngợc lại ngay cả khi có nhiều
12
nội dung kiểm soát hỗ trợ mà những nhân viên không trung thực và không có
năng lực thì họ vẫn có thể lúng túng và làm giảm hiệu lực của hệ thống kiểm
soát. Mặt khác, cho dù nhân viên có thể có năng lực và trung thực thì họ chắc
chắn vẫn có những khuyết điểm mang tính bản năng, nh họ có thể trở nên buồn
chán hoặc không hài lòng, các mối quan hệ nhân sự có thể làm gián đoạn hoạt
động của họ, hoặc mục tiêu của họ có thể bị thay đổi. Vì vậy những biện pháp
hợp lý về tuyển dụng, đánh giá, đào tạo, đãi ngộ nhân viên là một phần quan
trọng trong cơ cấu KSNB để có thể có đợc những nhân viên có năng lực, đáng
tin cậy tạo ra hoạt động kiểm soát có hiệu quả.
1.2.2. Định chế kiểm soát
Các định chế kiểm soát đợc cụ thể hoá bằng các thủ tục kiểm soát là các
bớc công việc, các nội dung công việc cần phải kiểm soát. Các thủ tục kiểm soát
do lãnh đạo đơn vị thiết lập và thực hiện nhằm đạt đợc mục tiêu quản lý cụ thể.
Các thủ tục kiểm soát chủ yếu liên quan tới việc lập, chấp hành và quyết toán
ngân sách bộ bao gồm: lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu
liên quan đến kinh phí phát sinh trong phạm vi bộ, ngành; kiểm tra tính chính xác
của các số liệu tính toán; kiểm tra chơng trình ứng dụng và môi trờng tin học;
kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết; kiểm tra định mức
và tính đúng đắn của các khoản thu-chi làm cơ sở cho việc quyết toán; đối chiếu
số liệu nội bộ với bên ngoài; so sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số
liệu trên sổ kế toán; giới hạn việc tiếp cận trực tiếp với các tài sản và các tài liệu
kế toán; phân tích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch.
Các thủ tục kiểm soát đợc thiết lập phải dựa trên ba nguyên tắc cơ bản:
nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; và
nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn.
Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: tuân thủ nguyên tắc này, trách nhiệm
và công việc cần đợc phân chia hợp lý, cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều
ngời trong bộ phận. Việc phân công, phân nhiệm một cách rõ ràng giúp nâng
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét