Chương 1
Cấu trúc thị trường quyền chọn chứng khoán
1.1. Quyền chọn chứng khoán.
Khái niệm:
Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên - người mua và người bán – trong đó cho người
mua có quyền thực hiện hợp đồng nhưng không bắt buộc để mua hoặc bán một tài sản nào đó
vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
Người mua quyền chọn trả cho người bán quyền chọn một khoản tiền gọi là phí quyền chọn.
Người bán quyền chọn sẵn sàng bán hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo các điều khoản của hợp
đồng nếu người mua muốn thế.
Hợp đồng quyền chọn có hai loại: quyền chọn mua và quyền chọn bán.
Quyền chọn mua cổ phiếu
Hợp đồng quyền chọn mua là thỏa thuận cho phép người mua có quyền mua tài sản từ người
bán với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.
Người mua quyền chọn mua sẽ trả cho người bán quyền chọn mua một khoản tiền, gọi là giá
trị quyền chọn hay phí quyền chọn và người mua quyền chọn mua sẽ có quyền được mua
nhưng không bắt buộc phải mua một lượng tài sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng
hoá…) theo một mức giá đã được thoả thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai
(theo kiểu châu Âu) hoặc được thực hiện trước ngày đó (theo kiểu Mỹ). Người bán quyền
chọn mua nhận được tiền từ người mua quyền chọn mua nên họ có trách nhiệm phải bán một
số lượng cổ phiếu nhất định theo một giá cả đã được thoả thuận trước vào một ngày xác định
trong tương lai hoặc được thực hiện trước ngày đó, khi người mua quyền chọn mua muốn thực
hiện quyền được mua.
Hình 1.1.1 Quyền chọn mua
Trên đồ thị ta cũng dễ dàng thấy được, khi mua quyền chọn mua cổ phiếu nếu giá thực hiện ở
80.000đ/cp và phí quyền chọn là 2000đ/cp, điểm hoà vốn khi giá cổ phiếu trên thị trường tăng
lên 82.000đ/cp. Người mua quyền chọn có vùng lời không giới hạn và lỗ có giới hạn còn
người bán quyền chọn thì ngược lại. Ngoài ra người mua quyền chọn cũng có thể bán hợp
đồng quyền chọn của mình khi hợp đồng chưa đáo hạn đối với quyền chọn mua kiểu Mỹ.
Nhưng nếu giá cổ phần ABC không tăng lên theo dự đoán của bạn, nó giảm liên tục, cho tới
ngày đến hạn trên hợp đồng giá vẫn giảm thì bạn sẽ không thực hiện quyền chọn mua của
mình và bạn chỉ lỗ phí quyền chọn mà thôi.
Điểm hoà vốn quyền chọn mua = Giá thực hiện + Phí quyền chọn mua
82.000 đ = 80.000 đ + 2.000 đ
Quyền chọn bán cổ phiếu
Hợp đồng quyền chọn bán cổ phiếu: là thỏa thuận cho phép người bán bán một số lượng cổ
phiếu nhất định ghi trong hợp đồng cho người mua với giá đã thoả thuận trong tương lai vào
ngày đáo hạn hợp đồng hoặc trước ngày đáo hạn nhưng không bắt buộc thực hiện.
Trong giao dịch bán quyền chọn cũng có 2 bên tham gia: người mua quyền chọn bán và người
bán quyền chọn bán.
Hình 1.1.2 Quyền chọn bán
Người mua quyền chọn bán sẽ trả cho người bán quyền chọn bán một khoản tiền – phí quyền
chọn. Người bán quyền chọn bán nhận được tiền từ người mua, nên người bán sẽ có trách
nhiệm phải mua một cổ phiếu nhất định theo một mức giá đã được thỏa thuận trước vào một
ngày xác định trong tương lai hoặc được thực hiện trước ngày đó, khi người mua quyền chọn
bán muốn thực hiện cái quyền được bán của nó.
Hình 1.1.3
Ví dụ: giá cổ phần ABC là 80.000 đ, dự báo giá cổ phần ABC sẽ giảm trong thời gian tới. Vậy
để có lời, bạn sẽ vay cổ phiếu của người khác và bán nó đi. Sau đó nếu giá cổ phần giảm
80.000 đ, bạn sẽ mua lại để trả cho khoản vay cổ phiếu trước đó. Nhưng nếu thực tế giá trị cổ
phiếu ABC trên thị trường lên 100.000 đ/cp chẳng hạn, nếu bạn muốn an toàn, ít rủi ro và vẫn
thực hiện được dự báo của mình (cổ phiếu ABC giảm giá), bạn thử đầu tư vào quyền chọn
bán, cụ thể bạn mua quyền chọn bán cho cổ phần ABC với giá thoả thuận trước là 80.000
đ/cp, với mức phí là 2.000 đ cho 1 quyền chọn bán 1 cổ phiếu ABC, nếu đầu tư 1.000 cổ phiếu
thì phí quyền chọn bán là 2.000.000 đ. Nếu giá cổ phiếu ABC giảm theo đúng dự báo, giảm
xuống còn 50.000 đồng/cổ phiếu, thì bạn sẽ được quyền bán cổ phiếu ABC với giá thoả thuận
trước 80.000 đồng/cổ phiếu, so với giá thị trường bạn sẽ có chênh lệch là 30.000 đồng/cổ
phiếu, trừ phí mua quyền chọn bán 2.000 đồng/cổ phiếu, bạn sẽ có lợi ròng là 28.000 đồng/cổ
phiếu, 1.000 cổ phiếu thì bạn sẽ có lợi nhuận là 28 triệu đồng.
1.2. Đặc điểm quyền chọn chứng khoán.
Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn:
- Không ràng buộc nghĩa vụ đối với bên mua hợp đồng quyền chọn phải mua hay bán
một lượng cổ phiếu nhất định khi hợp đồng quyền chọn đến hạn.
- Người mua có thể thực hiện quyền hoặc bán quyền cho người khác hay không thực
hiện quyền. Để thực hiện quyền này, khi ký kết hợp đồng người mua phải trả phí quyền chọn,
giá trong hợp đồng gọi là giá thực hiện và ngày định trong hợp đồng là ngày đáo hạn. Tương
tự như vậy đối với người bán trong hợp đồng quyền chọn bán.
- Tùy theo từng loại mà hợp đồng quyền chọn có thể thực hiện tại bất kỳ thời điểm nào
trước ngày đáo hạn hoặc đến ngày đáo hạn.
1.3. Thực hiện quyền chọn.
Đặt lệnh mở: Sau khi mở tài khoản ở công ty môi giới, khi tham gia giao dịch các nhà đầu tư.
Một cá nhân đặt lệnh quyền chọn đầu tiên phải mở một tài khoản ở công ty môi giới. Sau đó
cá nhân này sẽ đặt lệnh thông qua người môi giới. Người môi giới gởi lệnh đến người môi giới
sàn giao dịch của công ty trên sàn giao dịch quyền chọn. Tất cả các lệnh phải được thực hiện
trong giờ giao dịch bình thường, trong trường hợp có thay đổi trung tâm giao dịch sẽ thông
báo.Các giao dịch được thực hiện tại các trạm giao dịch thiết kế cho các quyền chọn riêng biệt.
Một nhà giao dịch có thể đặt nhiều lệnh:
Lệnh thị trường chỉ thị cho các nhà môi giới trên sàn giao dịch nhận giá tốt nhất.
Lệnh giới hạn quy định cụ thể mức giá cao nhất có thể trả để mua hoặc mức giá thấp
nhất chấp nhận bán, các lệnh giới hạn có thể có giá trị cho đến khi bị huỷ hoặc có giá
trị trong ngày.
Lệnh dừng ở mức giá thấp hơn mức giá hiện tại.
Lệnh tất cả hoặc không cho phép người môi giới thực hiện một phần lệnh giá này, và
phần còn lại với giá khác.
Lệnh tất cả hoặc không, cùng giá yêu cầu người môi giới hoặc là thực hiện toàn bộ
lệnh với cùng một mức giá hoặc là không thực hiện lệnh.
Vai trò của trung tâm thanh toán: Sau khi các giao dịch được thực hiện. Trung tâm thanh toán
(Công ty thanh toán bù trừ quyền chọn OCC) là một công ty độc lập đảm bảo cho việc thực
hiện của người bán. OCC là trung gian cho mỗi giao dịch. Người mua thực hiện giao dịch
không hướng vào người bán mà hướng vào OCC vì vậy OCC thực hiện một trách nhiệm quan
trọng là bảo đảm cho việc thực hiện của người bán quyền. Người mua không cần biết đến hay
nhận dạng của người bán.
Vì là công ty thanh toán thành viên nhận lấy một số rủi ro, OCC áp đặt một yêu cầu vốn tối
thiểu cho công ty này. OCC có quyền đối với thành viên thanh toán về tài khoản ký quỹ của
họ trong trường hợp họ không thể chi trả. Để nâng tính bảo vệ hơn, OCC duy trì một mức ký
quỹ đặc biệt được hỗ trợ bởi các thành viên. Nếu quỹ bị kiệt quệ, OCC có thể đánh giá chất
lượng của các thành viên khác để đảm bảo sự tồn tại của mình cũng như thị trường quyền
chọn nói chung.
Dĩ nhiên trên OTC không có trung tâm thanh toán nên người mua nhạy cảm với rủi ro tín dụng
từ phía người bán.
Đặt lệnh bù trừ: Giả định một nhà đầu tư đang nắm giữ một quyền chọn. Giá cổ phiếu hiện
nay đang tăng, và giá của quyền chọn hiện nay đã cao hơn nhiều so với giá mua lúc đầu. Tính
thanh khoản của thị trường quyền chọn cho phép các nhà đầu tư kiếm lời bằng cách bán quyền
chọn trên thị trường. Lệnh này được thực hiện giống lệnh mở.
Thực hiện một quyền chọn: Một quyền chọn kiểu Mỹ có thể được thực hiện vào bất kỳ ngày
nào cho đến ngày đáo hạn. Quyền chọn kiểu Châu âu chỉ có thể được thực hiện vào ngày đáo
hạn.
Vào ngày đáo hạn, nếu bạn cho rằng giá cổ phiếu thấp hơn giá thực hiện, hoặc đối với quyền
chọn bán, giá cổ phiếu cao hơn giá thực hiện, bạn để cho quyền chọn hết hiệu lực bằng cách
không làm gì cả.
Hình 1.3.1 Sơ đồ giao dịch quyền chọn
(1a) (1b) Người mua và người bán chỉ thị cho người môi giới riêng của mình tiến hành một
giao dịch quyền chọn.
(2a) (2b) Người môi giới của người mua và người bán yêu cầu nhà môi giới trên sàn của công
ty mình thực hiện giao dịch.
(3) Các nhà môi giới trên sàn gặp gỡ trên sàn giao dịch quyền chọn và thống nhất giá cả.
(4) Thông tin về giao dịch được báo cáo cho trung tâm thanh toán bù trừ.
(5a) (5b) Nhà môi giới trên sàn thông báo giá cho người môi giới của người mua và người
bán.
(6a) (6b) Người môi giới của người bán và người mua thông báo giá về cho người bán và
người mua.
(7a) (7b) Người mua (người bán) ký gửi phiếu quyền chọn cho người môi giới.
(8a) (8b) Người môi giới của người mua và người bán ký gửi phí quyền chọn và tiền ký quỹ
cho công ty thanh toán của mình.
(9a) (9b) Công ty thanh toán của người môi giới của bên mua và bên bán ký gửi phí quyền
chọn và tiền quỹ cho trung tâm thanh toán bù trừ.
1.4. Các thành phần tham gia giao dịch quyền chọn.
Nhà tạo lập thị trường: Vai trò của nhà tạo lập thị trường trên sàn giao dịch là đảm bảo cho các
lệnh mua bán của các nhà đầu tư công chúng luôn luôn được khớp lệnh, khi các nhà đầu tư
mua hay bán quyền chọn mà không có nhà đầu tư khác bán hay mua quyền chọn thì nhà tạo
lập thị trường sẽ thực hiện giao dịch đó.
Nhà tạo lập thị trường về bản chất là một doanh nghiệp, các nhà tạo lập thị trường sử dụng đa
dạng các biện pháp kỹ thuật để giao dịch quyền chọn một cách thông minh và để có lợi nhuận.
Môi giới sàn giao dịch: thực hiện giao dịch cho các thành viên công chúng có thể nhận được
một mức lương thuần hoặc nhận hoa hồng trên mỗi lệnh thực hiện được. Nhà môi giới trên sàn
không quan tâm đến việc giá tăng hay giảm. Tuy nhiên một nhà môi giới sẽ làm việc mẫn cán
để đạt được một kết quả tốt nhất cho khách hàng.
Nhân viên giữ sổ lệnh (OBO): đảm bảo cho lệnh giới hạn của công chúng luôn luôn được thực
hiện trước lệnh của các nhà tạo lập thị trường.
Các hệ thống giao dịch quyền chọn: Các sàn giao dịch đã đưa các tiện ích của công nghệ hiện
đại vào hoạt động xử lý lệnh của họ, sử dụng nhiều phương tiện điện tử để đẩy nhanh tốc độ
thực hiện lệnh. Ví dụ hầu hết các nhà kinh doanh của CBOE hiện nay đều sử dụng thiết bị đầu
cuối cầm tay thay vì cấp thẻ viết tay hoặc các mảnh giấy để gửi theo dõi các giao dịch của
mình.
Những nhà kinh doanh quyền chọn trên sàn: Các tổ chức lớn như quỹ hưu bổng, quỹ uỷ thác,
quỹ hỗ tương, số lượng các tổ chức nước ngoài giao dịch quyền chọn cũng tăng lên. Ngoài ra
còn có nhiều nhà đầu tư có tổ chức lớn, dĩ nhiên là nhiều cá nhân – giàu có hoặc không – mua
bán quyền chọn. Số tiền tham gia giao dịch quyền chọn trên sàn khá nhỏ nên hầu hết bất cứ ai
cũng có thể tham gia.
1.5. Chi phí giao dịch quyền chọn.
Phí giao dịch trên sàn và phí thanh toán: là khoản phí tối thiểu do sàn giao dịch ấn định, chi
phí này trả cho trung tâm thanh toán và các thành viên xử lý các giao dịch trên sàn. Đối với
những nhà kinh doanh thông qua môi giới, các phí này được tính gộp trong hoa hồng của
người môi giới. Đối với người tạo lập thị trường thì các khoản này do công ty thanh toán của
nhà tạo lập thị trường thu.
Công ty thanh toán ký kết một thoả thuận theo hợp đồng với một nhà tạo lập thị trường để
thanh toán giao dịch với mức phí thường được tính trên cơ sở từng hợp đồng.
Trên thực tế tại các sàn giao dịch thì các nhà tạo lập thị trường đều phải tốn chi phí nhất định
cho mỗi giao dịch, chi phí này còn tuỳ thuộc vào khối lượng giao dịch. Ngoài ra nhà tạo lập
thị trường còn phải gánh chịu một số chi phí cố định.
Đối với quyền chọn trên thị trường OTC, không phải gánh chịu các dạng chi phí này, nhưng
có những khoản chi phí tương đương. Liên quan đến hoạt động giao dịch của công ty và liên
quan đến việc xử lý các giao dịch được thiết lập theo yêu cầu của khách hàng.
Hoa hồng: Một trong những lợi thế chính của việc sỡ hữu seat trên sàn giao dịch là tránh được
việc phải trả hoa hồng cho mỗi giao dịch. Nhà tạo lập thị trường chỉ gián tiếp thông qua chi
phí cơ hội của các khoản tiền liên quan đến giá của seat, công sức thực hiện giao dịch, bỏ qua
các lợi nhuận có thể thu được theo một kênh khác. Tuy nhiên khoản hoa hồng tiết kiệm được
thì rất đáng kể.
Các nhà môi giới chiết khấu thu tỷ lệ hoa hồng thấp nhất nhưng các giao dịch thường xuyên và
các giao dịch lớn đôi khi cần phải tận dụng lợi thế về giá. Các công ty môi giới chiết khấu cho
bạn những lời khuyên và không cung cấp các nghiên cứu như các nhà môi giới trọn gói. Mặc
dù vậy, nhà môi giới trọn gói sẻ cho bạn nhiều thông tin một cách đầy đủ hơn.
Hoa hồng quyền chọn dựa trên một khoảng giá trị cố định tối thiểu và một khoảng phí trên
mỗi hợp đồng.
Khi thực hiện quyền chọn cổ phiếu, nhà đầu tư phải trả hoa đồng cho việc mua bán cổ phiếu.
Nếu một nhà đầu tư thực hiện một quyền chọn thanh toán bằng tiền, giao dịch này chỉ kéo
theo một bút toán kế toán. Một công ty môi giới không thực hiện việc tính phí thanh toán
quyền chọn bằng tiền. Khi bất kỳ quyền chọn nào hết hiệu lực mà không được thực hiện
thường thì công ty môi giới không tính hoa hồng.
Đối với quyền chọn OTC thường không cần trả hoa hồng, vì người mua và người bán quyền
chọn thường giao dịch trực tiếp với đối tác.
Chênh lệch giá mua bán: Mức chênh lệch do nhà tạo lập thị trường đưa ra là một khoản phí
giao dịch đáng kể. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là nhà đầu tư có thể kiếm lời. Giá
quyền chọn mua có thể tăng giá đáng kể trước khi quyền chọn được bán đi, nhưng nếu khoản
chênh lệch không đổi, giá hỏi mua phải tăng lên ít nhất bằng khoản chênh lệch giá mua – bán
rồi mới có thể kiếm được lợi nhuận.
Các chi phí giao dịch khác: Ngoài ra không có các chi phí như: tiền ký quỹ và thuế. Hầu hết
các nhà kinh doanh quyền chọn đều giao dịch cổ phiếu. Vì vậy chi phí giao dịch cổ phiếu cũng
là nhân tố ảnh hưởng chi phí giao dịch quyền chọn.
Yêu cầu ký quỹ đối với quyền chọn cổ phiếu: Khoản ký quỹ ban đầu thấp nhất đối với mua và
bán khống cổ phiếu là 50%. Mức ký quỹ duy trì thấp nhất là 25%. Nhiều công ty môi giới
cộng thêm khoản 5% hay hơn nữa với các mức yêu cầu này.
1.6. Một số thị trường quyền chọn chứng khoán trên thế giới
1.6.1. Thị trường Chicago Board Options Exchange (CBOE).
Thông tin về thị trường Quyền chọn
Trong thập niên 80 thị trường quyền chọn đối với ngoại tệ, chỉ số chứng khoán và hợp đồng
future đã phát triển ở Mỹ. Thị trường CBOE trao đổi quyền chọn chỉ số chứng khoán của S &
P 100 và S & P 500. Thị trường chứng khoán Mỹ giao dịch quyền chọn về chỉ số chứng khoán
của một số thị trường chính, và thị trường chứng khoán New York giao dịch chỉ số NYSE.
Hầu hết các thị trường đều giao dịch quyền chọn đối với những hợp đồng future. Thị trường
CBOE giao dịch quyền chọn đối với hợp đồng tương lai về các sản phẩm nông nghiệp. Hiện
nay thị trường quyền chọn tồn tại khắp nơi trên thế giới.
Từ khi ra đời, thị trường quyền chọn của Mỹ, đặc biệt là sàn giao dịch quyền chọn CBOE phát
triển mạnh. Theo những tiêu chuẩn của sàn CBOE, một hợp đồng quyền chọn được xác định
rõ bởi 6 phần : loại quyền chọn, cổ phiếu hoặc tài sản gốc, số lượng hợp đồng, cách thức thực
hiện hợp đồng, giá thực hiện và ngày đáo hạn. Tiêu chuẩn của những phần này như sau:
Tiêu chuẩn của cổ phiếu được giao dịch quyền chọn
Những cổ phiếu được chọn ra từ sàn giao dịch làm cơ sở cho quyền chọn phải chắc chắn tuân
theo những tiêu chuẩn:
- Giá của cổ phiếu cơ sở phải thấp nhất là $7.50 trong 1 thời kỳ 3 tháng niêm yết.
- Cổ phiếu cơ sở phải có ít nhất 2000 cổ đông
- Tổng giá trị giao dịch của cổ phiếu cơ sở phải ít nhất là 2.4 triệu trong suốt 12 tháng
niêm yết.
- Cổ phiếu cơ sở cần phải có ít nhất 7 triệu cổ phiếu đang lưu hành được nắm giữ bởi
những nhà đầu tư không phải là thành viên của công ty.
Đơn vị hợp đồng
Một hợp đồng là số lượng cổ phiếu cơ sở mà người nắm giữ quyền chọn được quyền mua hay
bán tại mức giá thực hiện lúc đáo hạn. Ở thị trường quyền chọn của Mỹ, tiêu chuẩn của một
hợp đồng là một số chẵn cổ phiếu cơ sở thường là 100 cổ phiếu. Tuy nhiên, một hợp đồng có
thể tăng thêm nếu cổ phiếu cơ sở bị chia tách không chẵn trong suốt thời kỳ tồn tại quyền
chọn. Ví dụ: nếu cổ phiếu cơ sở được chia tách với tỷ lệ 3/2. Trong trường hợp đó hợp đồng
quyền chọn sẽ tăng thêm lên 3x100:2=150 cổ phiếu, số lượng hợp đồng vẫn như cũ không
thay đổi, giá cổ phiếu và giá của thực hiện sẽ giảm đi 2/3.
Giá thực hiện
Giá thực hiện được cố định là 2½ điểm nếu giá của cổ phiếu cơ sở thấp hơn $25, và 5 điểm
nếu giá cổ phiếu nằm trong khoảng từ $25 đến $200 và 10 điểm cho những cổ phiếu có giá từ
$200 trở lên. Những quyền chọn mới được thiết lập với giá thực hiện gần bằng với giá của cổ
phiếu hiện tại và cùng thời gian trên. Ví dụ như, nếu cổ phiếu đang được giao dịch với giá 51
¾, thì những quyền chọn có giá 45, 50 và 55 được niêm yết vào lúc đầu. Những danh sách
mới sẽ được thêm vào khi cổ phiếu giao dịch qua giá thực hiện cao nhất hoặc thấp nhất.
Tháng đáo hạn
Cổ phiếu làm cơ sở cho những quyền chọn đầu tiên được quy vào tháng 1, tháng 2 hoặc tháng
3 trong chu kỳ 4 tháng. Khi đó hợp đồng quyền chọn với thời hạn đáo hạn là 4 tháng được
niêm yết vào bất kì lúc nào. Tháng đáo hạn sẽ là 2 tháng liên tục gần nhất và 2 tháng kế tiếp
trong chu kỳ 4 tháng. Ví dụ như nếu hợp đồng quyền chọn hết hiệu lực vào tháng 1 thì chu kỳ
4 tháng sẽ là cột bên trái, tháng mở hợp đồng sẽ ở cột bên phải của bảng dưới.
Chu kỳ 4 tháng Hợp đồng mở
Tháng 1, tháng 4, tháng 7, tháng 10
Tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 11
Tháng 3, tháng 6, tháng 9, tháng 12
Tháng 2, tháng 3, tháng 4, tháng 7
Tháng 2, tháng 3, tháng 5, tháng 8
Tháng 2, tháng 3, tháng 6, tháng 9
Ngày đáo hạn thường là ngày thứ bảy sau ngày thứ 6 của tháng đáo hạn cho quyền chọn cổ
phiếu và quyền chọn chỉ số được niêm yết trên thị trường Mỹ. Ngày cuối cùng trên hợp đồng
có thể được giao dịch vào ngày làm việc ngay trước ngày đáo hạn (thường là ngày thứ 6 của
tháng có ngày đáo hạn).
Những điểm lưu ý khi tham gia trên sàn CBOE
Một phần quan trọng trên thị trường quyền chọn đó là nhà tạo lập thị trường. Cấu trúc và
những cơ quan riêng biệt của thị trường quyền chọn cổ phiếu của Mỹ phát thảo những mục
sau:
Đặt lệnh
Có hai loại lệnh mua và bán là lệnh thị trường (market order) và lệnh giới hạn (limit order).
Lệnh thị trường là một cấu trúc mua hay bán tại mức giá tốt nhất ngay khi lệnh tới sàn giao
dịch. Lệnh giới hạn là cấu trúc mua hay bán chỉ tại mức giá đã định trước hoặc tốt hơn. Lệnh
giới hạn là được định rõ là lệnh trong ngày đặt lệnh hay GTC. Lệnh trong ngày tự động hết
hiệu lực vào cuối ngày giao dịch nếu như nó không được khớp. Một lệnh GTC vẫn có tác
dụng cho đến khi nó được thực hiện, huỷ bỏ bởi khách hàng hay quyền chọn hết hiệu lực.
Lệnh spread là lệnh mua hoặc bán đồng thời hai quyền chọn như là một sự kết hợp. Giao dịch
mở là một cách để tăng số lượng quyền chọn mua hay bán trong một tài khoản. Giao dịch
đóng bù lại những giao dịch ưu tiên và bao gồm quyền chọn bán để làm giảm bớt số lượng
hợp đồng trong một vị thế bán hiện tại hoặc là người mua quyền chọn để giảm bớt số lượng
hợp đồng trong vị thế bán hiện tại.
Giới hạn vị thế
Trung tâm giao dịch sẽ quy định tổng số lượng quyền chọn lớn nhất đối với một cổ phiếu cơ
sở mà một cá nhân riêng lẽ có thể mua hoặc bán. Giới hạn này tương ứng với số lượng cổ
phiếu đang lưu hành và lượng giao dịch của cổ phiếu đó trong 6 tháng trước và hiện tại là
25000, 20000, 10500, 7500, 4500 hợp đồng. Giới hạn này áp dụng cho bất kỳ hợp đồng kết
hợp nào mà được lập trên cùng một thị trường.
Giới hạn vị thế thường là số lượng hợp đồng lớn nhất trên cùng một thị trường mà có thể đáo
hạn trong 5 ngày làm việc liên tiếp.
Giao dịch và đáo hạn
Khách hàng sẽ chỉ rõ thông số yêu cầu như trên đã nói và người môi giới sẽ chuyển lệnh bằng
điện thoại hay máy tính đến trung tâm viễn thông trên sàn giao dịch nơi mà quyền chọn được
giao dịch. Từ nơi đó, lệnh sẽ chuyển tới môi giới sàn của công ty. Nếu công ty môi giới không
thuê những môi giới sàn, thì sau đó lệnh sẽ đưa tới một người độc lập hay một môi giới sàn
của công ty khác.
Môi giới sàn là thành viên của sàn giao dịch hay nói cách khác là người ngồi ở sàn giao dịch
nghĩa là họ được cho phép có 1 vị trí trong sàn và được phép giao dịch với những thành viên
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét