Chuyên để tốt nghiệp 5 Khoa Ngân hàng tài chính
• Dự án không chỉ là một ý tưởng hay phác thảo mà còn hàm ý hành động
với mục tiêu cụ thể. Nếu không có hành động thì dự án chỉ vĩnh viễn tồn tại ở
trạng thái tiềm năng.
• Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng mà phải
nhằm đáp ứng một nhu cầu cụ thể đã được đặt ra, tạo nên một thực tế mới.
• Dự án tồn tại trong một môi trường không chắc chắn. Môi trường triển
khai dự án thường xuyên thay đổi, chứa đựng nhiều yếu tố bất định nên trong
quá trình thực hiện dự án rủi ro thường là có thể xảy ra. Đặc điểm này có ảnh
hưởng rất lớn đến mức độ thành công của dự án và là mối quan tâm đặc biệt của
các nhà quản lý dự án.
• Dự án bị khống chế bởi thời hạn. Là một tập hợp các hoạt động đặc thù
phải có thời hạn kết thúc. Mọi sự chậm trễ trong thực hiện dự án sẽ làm mất cơ
hội phát triển, kéo theo những bất lợi, tổn thất cho nhà đầu tư và cho nền kinh
tế.
• Dự án chịu sự ràng buộc về nguồn lực. Thông thường, các dự án bị ràng
buộc về vốn, vật tư, lao động. Đối với dự án quy mô càng lớn, mức độ ràng
buộc về nguồn lực càng cao và càng phức tạp; mọi quyết định liên quan đến các
vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án đều bị chi phối nhiều mối quan
hệ, chẳng hạn: chủ đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu, các nhà tài trợ, nhân công, các
nhà kỹ thuật …Xử lý tốt các ràng buộc này là yếu tố quan trọng góp phần đạt tới
mục tiêu của dự án.
Một dự án sẽ thành công nếu các đặc điểm của dự án được các nhà quản lý
dự án nhận biết và đánh giá một cách đúng đắn.
1.1.3. Phân loại dự án đầu tư
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Chuyên để tốt nghiệp 6 Khoa Ngân hàng tài chính
Trên thực tế, các dự án rất đa dạng về cấp độ, loại hình, quy mô thời hạn
và được phân loại theo các tiêu thức khác nhau. Chẳng hạn có thể phân loại các
dự án đầu tư theo các tiêu thức sau:
- Theo cơ cấu tái sản xuất: Dự án đầu tư được phân thành dự án đầu tư
theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiều sâu. Trong đó dự án đầu tư chiều
rộng thường đòi hỏi khối lượng vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian
cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm
cao. Còn dự án đầu tư theo chiều sâu thường đòi hỏi khối lượng mạo hiểm thấp
hơn so với đầu tư theo chiều rộng.
- Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội: Dự án đầu tư có thể phân chia
thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa
học kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật và xã hội)…, hoạt
động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ tương hỗ với nhau. Chẳng
hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện
cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao; còn các dự
án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đến lượt mình lại tạo tiềm lực cho các
dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư
khác.
- Theo các giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái
sản xuất xã hội: Có thể phân loại các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
thành dự án đấu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất. Dự án đầu tư thương
mại là loại dự án đầu tư có thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động của các kết
quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất bất định không cao lại dễ dự
đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao. Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án
đầu tư có thời hạn hoạt động dài hạn (5, 10, 20 năm hoặc lâu hơn), vốn đầu tư
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Chuyên để tốt nghiệp 7 Khoa Ngân hàng tài chính
lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ
thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất động trong tương lai không
thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (về nhu cầu, giá cả đầu vào và đầu
ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự ổn định
về chính trị…)
- Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ
ra: Ta có thể phân chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư ngắn hạn và dự án
đầu tư dài hạn.
- Theo sự phân cấp quản lý dự án: tuỳ theo tầm quan trọng và quy mô của
dự án, dự án đầu tư được chia thành 4 nhóm: Dự án quan trọng quốc gia (do
Quôc hội quyết định chủ trương đầu tư), dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án
nhóm C. Đối với các dự án đầu tư nước ngoài được chia thành 3 nhóm: dự án
nhóm A, dự án nhóm B và các dự án phân cấp cho các địa phương.
- Theo cấp độ nghiên cứu gồm 2 loại dự án tiền khả thi và dự án khả thi.
Dự án tiền khả thi là kết quả của giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi (giai đoạn sơ
bộ lựa chọn dự án). Nội dung của dự án tiền khả thi còn sơ bộ chưa chi tiết. Kết
quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá lại cơ hội đầu tư để lựa
chọn quyết định có nên chuyển sang giai đoạn tiếp theo không. Dự án khả thi là
kết quả của giai đoạn nghiên cứu khả thi. Nội dung của dự án khả thi chi tiết,
mức độ chính xác cao. Nó là căn cứ để chủ đầu tư, các cơ quan có thẩm quyền
của nhà nước ra quyết định đầu tư hoặc cho phép đầu tư.
- Theo nguồn vốn: dự án đầu tư bằng nguồn ngân sách Nhà nước, dự án
đầu tư bằng nguồn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn tín dụng cho
nhà nước bảo lãnh, dự án đầu tư bằng nguồn vốn huy động của doanh nghiệp và
các nguồn vốn khác, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗn hợp.
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Chuyên để tốt nghiệp 8 Khoa Ngân hàng tài chính
1.2. Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của NHTM
1.2.1. Khái niệm thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của
NHTM
Như ta đã biết dự án là tài liệu do chủ đầu tư chịu trách nhiệm soạn thảo
trong bước nghiên cứu khả thi. Mặc dù trong dự án đã đề cập tất cả các khía
cạnh liên quan đến hoạt động đầu tư một cách khá đầy đủ và chi tiết nhưng dẫu
sao nó cũng không tránh khỏi tính chủ quan của người lập dự án và những
khiếm khuyết, lệch lạc còn tồn tại trong quá trình lập dự án là lẽ đương nhiên.
Để khẳng định được một cách chắc chắn hơn mức độ hợp lý và hiệu quả, tính
khả thi của dự án cũng như quyết định đầu tư thực hiện dự án, cần xem xét,
kiểm tra lại dự án một cách độc lập với quá trình chuẩn bị, soạn thảo dự án, hay
nói cách khác cần thẩm định dự án. Thẩm định dự án được tiến hành chủ yếu
đối với giai đoạn xác định dự án, phân tích và lập dự án, duyệt dự án. Nội dung
thẩm định dự án thường bao gồm: thẩm định kỹ thuật, thẩm định kinh tế xã hội
và thẩm định tài chính.
Trên phương diện tài trợ vốn cho các dự án, các ngân hàng thương mại
hoặc tổ chức tài chính-tín dụng đặc biệt quan tâm đến vấn đề này, qua thẩm định
dự án sẽ khẳng định được tính hiệu quả và an toàn của việc đầu tư. Nhờ đó mà
tổ chức tài chính -tín dụng có được cơ sở vững chắc trong quá trình quyết định
tài trợ vốn. Là người tài trợ cho dự án, NHTM đặc biệt quan tâm nhiều đến khả
năng hoàn trả vốn và sinh lời của dự án, chính vì thế thẩm định dự án về mặt tài
chính luôn được Ngân hàng đặt lên hàng đầu trong danh sách các nội dung cần
thẩm định.
Như vậy thẩm định tài chính là một nội dung lớn và quan trọng trong thẩm
định dự án. Thẩm định tài chính dự án là rà soát lại, đánh giá một cách khoa học
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Chuyên để tốt nghiệp 9 Khoa Ngân hàng tài chính
và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư:
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế , các cá nhân. Nếu như Chính phủ, các cơ
quan quản lý vĩ mô quan tâm nhiều tới hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thì các
nhà đầu tư lại quan tâm nhiều hơn tới khả năng sinh lãi của dự án. Cùng với
thẩm định kinh tế, thẩm định tài chính giúp các nhà đầu tư có những thông tin
cần thiết để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.
1.2.2. Sự cần thiết của thẩm định tài chính dự án đối với NHTM
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ - một lĩnh vực rất nhạy cảm của nền kinh tế. Ngân hàng dùng tiền của người
khác để kinh doanh bằng cách cung cấp các khoản tín dụng cho những người có
nhu cầu. Một trong những hoạt động tín dụng của Ngân hàng là tài trợ cho các
dự án. Cho vay theo dự án là một xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển, đổi
mới hoạt của các NHTM. Rủi ro của loại hình tín dụng này nói chung là cao
song lợi nhuận lại rất lớn. Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công tác
thẩm định dự án đầu tư nên các NHTM cần phải tiến hành thẩm định dự án.
Thẩm định dự án là công việc hết sức quan trọng trong hoạt động cho vay
của ngân hàng thương mại. Bởi lẽ một dự án đầu tư thường đòi hỏi nhu cầu vốn
lớn, thời gian dài, quá trình thực hiện đầu tư phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn,
nhiều công việc theo một trình tự nhất định và cũng đòi hỏi công tác quản lý
phức tạp. Hơn nữa dự án đầu tư là tài liệu do chủ đầu tư chịu trách nhiệm soạn
thảo trong bước nghiên cứu khả thi nên còn mang nhiều tính chủ quan.Chính
những điều này đòi hỏi dự án đầu tư nhất thiết phải trải qua một quá trình thẩm
định kỹ càng.
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Chuyên để tốt nghiệp 10 Khoa Ngân hàng tài chính
Thẩm định dự án không chỉ quan trọng đối với bản thân ngân hàng, các tổ
chức tài chính-tín dụng mà nó còn có ý nghĩa to lớn đối với các chủ đầu tư và
các cơ quan quản lý Nhà nước.
Đối với chủ đầu tư, với tư cách người lập dự án thì đương nhiên chủ đầu
tư sẽ biết rất rõ và tỷ mỷ về dự án đã trình. Tuy nhiên trên thực tế chủ đầu tư có
rất nhiều dự án khác nhau trong cùng một giai đoạn và họ sẽ gặp khó khăn trong
việc lựa chọn dự án. Doanh nghiệp tuy nắm vững được những vấn đề cụ thể
thuộc phạm vi dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập, nắm bắt thông tin mới của
chủ đầu tư lại bị hạn chế, nhất là tình hình khu vực và quốc tế, những xu hướng
kinh tế ,chính trị xã hội…Bên cạnh đó, một dự án dù được tiến hành soạn thảo
kỹ lưỡng đến đâu cũng vẫn mang tính chủ quan của người soạn thảo mà họ
thường đứng trên góc độ hẹp để nhìn nhận vấn đề của dự án… Những điều này
làm tăng rủi ro, giảm tính chính xác trong phán đoán của người soạn thảo. Việc
thẩm định dự án được tiến hành độc lập với quá trình soạn thảo dự án cho phép
chủ đầu tư nhìn nhận lại dự án của mình một cách khách quan hơn để phát hiện
được những thiếu sót trong quá trình sọan thảo và bổ sung kịp thời, từ đó giúp
chủ đầu tư chọn được phương án tối ưu nhất, xác định các mặt lợi, mặt hại khi
đưa dự án vào vận hành.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng,
mục đích thẩm định dự án là nhằm đánh giá được tính phù hợp của dự án đối với
quy hoạch phát triển chung của ngành, của địa phương và của cả nước trên các
mặt : mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả. Tất cả các dự án đầu tư thuộc
mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế đều phải đóng góp vào lợi ích chung của
đất nước, bởi vậy, trước khi ra quyết định đầu tư hay cho phép đầu tư, các Cơ
quan có thẩm quyền của Nhà nước cần biết xem dự án đó có góp phần đạt được
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Chuyên để tốt nghiệp 11 Khoa Ngân hàng tài chính
mục tiêu của Quốc gia hay không, nếu có thì bằng cách nào và đến mức độ
nào…Đồng thời việc thẩm định giúp xác định tính lợi hại và sự tác động của dự
án khi đi vào hoạt động trên các khía cạnh như: ứng dụng công nghệ mới, trình
độ sử dụng vốn, ô nhiễm môi trường cũng như các lợi ích kinh tế xã hội mà dự
án đem lại.
Đối với bản thân ngân hàng và các tổ chức tài chính – tín dụng thì thẩm
định đóng vai trò then chốt trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của tín dụng là có
nên cho vay hay không và cho vay như thế nào.Thông qua kết quả thẩm định cán
bộ thẩm định có thể rút ra các kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh
tế, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án để ra quyết định
đồng ý hay từ chối cho vay.
Thẩm định dự án còn góp phần nâng cao tính khả thi của dự án, bởi lẽ
thông qua những thông tin và kinh nghiệm đã đúc kết được trong quá trình thẩm
định nhiều dự án khác nhau, ngân hàng thương mại chủ động tham gia góp ý với
chủ đầu tư nhằm bổ sung điều chỉnh những nội dung còn thiếu sót trong dự án
giúp cho chủ đầu tư giảm thiểu rủi ro đảm bảo hiệu quả cũng như tính khả thi
của dự án.
Thông qua quá trình thẩm định ngân hàng sẽ có cơ sở để kiểm tra việc sử
dụng vốn đúng mục đích và tiết kiệm vốn.Thẩm định cũng tạo ra cơ sở tương đối
vững chắc để ngân hàng xác định số tiền vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp
lý, đảm bảo vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, vừa có
khả năng thu hồi vốn đúng hạn.
Thẩm định một dự án có rất nhiều nội dung, tuy nhiên mối quan tâm của
Ngân hàng là khả năng trả nợ đầy đủ và đúng hạn của khách hàng, đồng thời
Ngân hàng có thế mạnh chuyên sâu về lĩnh vực tài chính cho nền thẩm định dự
án về mặt tài chính được Ngân hàng chú trọng hơn cả.
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Chuyên để tốt nghiệp 12 Khoa Ngân hàng tài chính
Việc thẩm định tài chính dự án sẽ giúp cho Ngân hàng đánh giá được mức
độ khả thi của các dự án và ra quyết định: có tài trợ không? tài trợ dự án nào?
quy mô tài trợ bao nhiêu, thời gian, lãi suất, quá trình giải ngân, quản lý và thu
hồi nợ như thế nào. Như vậy thẩm định nhất là thẩm định tài chính dự án là cần
thiết, nó là một bộ phận của công tác quản lý nhằm đảm bảo hoạt động cho vay
có hiệu quả, mặt khác cũng không bỏ mất các cơ hội đầu tư.
Tóm lại, để đảm bảo mục tiêu an toàn và sinh lời, NHTM nhất thiết phải
thực hiện thẩm định tài chính dự án trước khi ra quyết định tài trợ.
1.2.3. Nội dung của thẩm định tài chính dự án
1.2.3.1. Dự toán vốn đầu tư
Đây là nội dung quan trọng đầu tiên cần xem xét khi tiến hành thẩm định
tài chính dự án. Tính toán chính xác tổng mức vốn đầu tư có ý nghĩa rất quan
trọng đối với tính khả thi của dự án : nếu vốn đầu tư dự tính quá thấp thì dự án
có thể bị đổ vỡ do công trình không thể đưa vào thực hiện được, ngược lại nếu
dự tính quá cao thì không phản ánh được chính xác hiệu quả tài chính của dự án.
Tổng mức vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản
xuất ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết
định đầu tư.
Tổng mức vốn đầu tư được xác định dựa trên cơ sở năng lực sản xuất theo
thiết kế, khối lượng các công tác chủ yếu và sản xuất đầu tư, giá chuẩn hay đơn
giá tổng hợp do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Hiện nay tổng mức vốn đầu tư được chia ra thành ba loại: Vốn cố định ,
vốn lưu động ban đầu và vốn đầu tư dự phòng.
Tính toán về vốn cố định:
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Chuyên để tốt nghiệp 13 Khoa Ngân hàng tài chính
Vốn cố định bao gồm toàn bộ chi phí có liên quan đến việc hình thành tài
sản cố định từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn thực hiện đầu tư và giai
đoạn kết thúc xây dựng dự án vào sử dụng cụ thể: chi phí chuẩn bị, giá trị nhà
xưởng và kết cấu hạ tầng sẵn có được sử dụng cho dự án, chi phí xây dựng mới
hoặc cải tạo nhà xưởng cũng như kết cấu hạ tầng, chi phí mua máy móc thiết
bị ,dụng cụ sản xuất phương tiện vận tải, chi phí chuyển giao công nghệ, chi phí
đào tạo cán bộ và các chi phí khác.
Tính toán về vốn lưu động:
Vốn lưu động là số vốn tối thiểu cần thiết để đảm bảo cho việc dự trữ các
tài sản lưu động nhằm đáp ứng cho nhu cầu hoạt động của dự án. Chỉ có vốn lưu
động ban đầu (cho chu kỳ sản xuất đầu tiên của doanh nghiệp) mới được tính
vào vốn đầu tư bao gồm:
Vốn sản xuất: Chi phí nguyên liệu, điện nước, phụ tùng, bao bì, tiền
lương…
Vốn lưu thông: Sản phẩm dở dang, tồn kho, thành phẩm tồn kho, hàng
hóa bán chịu, vốn bằng tiền, chi phí tiếp thị…
Dự phòng vốn đầu tư:
Do trong nền kinh tế giá cả nguyên vật liệu luôn biến động bên cạnh đó
trong quá trình thi công công trình có thể gặp phải những rủi ro về kỹ thuật hoặc
nảy sinh các chi phí bất thường nên cần phải dự trù một khoản dự phòng để sẵn
sàng ứng phó với những bất trắc có thể xảy ra.
Ngoài ra trong việc thẩm định, ngân hàng cần phải quan tâm đến cơ cấu
vốn đầu tư bằng ngoại tệ, nội tệ để từ đó xác định nguồn ngoại tệ nào sẽ đảm
bảo cho dự án được thực hiện.
Tùy theo từng dự án chỉ có vốn lưu động (dự án ngắn hạn), song các dự
án phức tạp thường bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động, sai lầm hay mắc
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Chuyên để tốt nghiệp 14 Khoa Ngân hàng tài chính
phải của các chủ đầu tư khi xây dựng dự án làchủ dự án không tính toán đầy đủ
vốn lưu động hoặc không được tính .
Căn cứ vào bảng dự trừ vốn, ngân hàng kiểm tra mức vốn đầu tư cho các
hạng mục, tính toán tổng vốn đầu tư sát với nhu cầu thực tế. Điều đặc biệt có ý
nghĩa quan trong thẩm định toàn bộ nội dung về tài chính là cán bộ thẩm định
phải đảm bảo tính chính xác, hợp lý và độ tin cậy của các số liệu đưa vào tính
toán chứ không nên căn cứ vào số liệu sẵn có trong dự án một cách máy móc rập
khuôn như tính toán lại các phép tính mà chủ đầu tư đã làm. Sau khi thẩm định
vốn đầu tư cuả dự án, Ngân hàng tiến hàng so sánh với dự tính ban đầu khi phê
duyệt dự án, giải thích chênh lệch nếu có.
Phương pháp dự toán bao gồm phương pháp dự báo theo tỷ phần doanh
thu và phương pháp dự toán tổng thể. Phương pháp dự báo theo tỷ phần doanh
thu thường được áp dụng đối với các dự án nhỏ, gắn kết trực tiếp với hoạt động
thường ngày của doanh nghiệp còn phương pháp dự toán tổng thể áp dụng đối
với các dự án lớn có thể được xem như doanh nghiệp có tính “độc lập cao”.
Các phương thức tài trợ cho dự án thông thường bao gồm tài trợ bằng vốn
chủ sở hữu, tài trợ bằng nợ, tài trợ bằng leasing và tài trợ kết hợp.
• Tài trợ dự án bằng vốn tự có:
- Phát hành cổ phiếu: doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu để tài trợ
cho dự án. Có 2 loại là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Các cổ đông nắm
giữ cổ phiếu thường chính là những người sở hữu công ty, do đó họ có quyền
đối với tài sản và sự phân chia tài sản hoặc thu nhập của công ty. Cổ tức của cổ
phiếu thường phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của dự án. Cổ phiếu
ưu tiên thường chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành.
Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có cổ tức cố định. Người chủ của cổ
Sinh viên: Võ Thành Trung TCDN 46Q
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét