Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty xây dựng số 4.


xây dựng. Đồng thời phải tổ chức tốt việc quản lý vật t, sản phẩm dở dang để
tránh h hỏng mất mát do thiên nhiên gây ra.
Từ những đặc điểm của sản phẩm xây lắp trong các đơn vị sản kinh doanh
xây dựng mà công tác kế toán ở các đơn vị kinh doanh xây dựng nói trên vừa
phải đảm bảo yêu cầu phản ánh chung của một đơn vị sản xuất: ghi chép tính
toán đầy đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, vừa phải thực hiện phù hợp
với nghành nghề, đúng chức năng kế toán của mình, nhằm cung cấp số liệu chính
xác, kịp thời, đánh giá đúng tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, cố
vấn cho lãnh đạo trong việc tổ chức, quản lý để đạt mục đích kinh doanh của
công ty
1.1.2. Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng:
Do đặc điểm của xây dựng và sản phẩm xây lắp rất riêng nên việc quản lý
đầu t xây dựng cơ bản khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Vì vậy trong
quá trình quản lý đầu t xây dựng phải đáp ứng đợc những yêu cầu sau:
- Phải tạo ra những sản phẩm xây lắp đợc thị trờng chấp nhận cả về giá cả,
chất lợng, đáp ứng đợc mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất từ các nguồn đầu t trong và
ngoài nớc.
- Xây dựng phải đúng theo qui hoạch đợc duyệt, thiết kế hợp lý thẩm mỹ,
xây dựng đúng tiến độ đạt chất lợng cao.
Thực tế trong nhiều năm qua xây dựng cơ bản là một ngành làm thất thoát
một phần không nhỏ nguồn vốn đầu t của Nhà nớc. Nguyên nhân cơ bản là do
quản lý vốn đầu t cha đợc chặt chẽ.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phơng pháp
đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng. Doanh nghiệp muốn trúng thầu một công
trình phải xây dựng một giá thầu hợp lý cho công trình đó dựa trên cơ sở xác
định mức đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà nớc ban hành trên cơ sở giá thị trờng

5

và bản thân doanh nghiệp. Giá trúng thầu không vợt quá giá tổng dự toán đợc
duyệt.Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi.
Để thực hiện tất cả các yêu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cờng
công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý về tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành.Trong đó trọng tâm là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp.
1.1.3. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Việc giảm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa
rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp xây dựng. Vì vậy, việc xác định đúng đắn đối t-
ợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành phù hợp với điều kiện
hiện tại của doanh nghiệp và thoả mãn mọi yêu cầu quản lý đặt ra hết sức cần
thiết. Cụ thể:
- Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản
xuất ở doanh nghiệp, đồng thời xác định đúng đối tợng tính giá thành.
- Kiểm tra đối chiếu thờng xuyên việc thực hiện các dự toán chi phí vật t,
nhân công,máy thi công và các dự toán chi phí khác.Từ đó đa ra các biện pháp
ngăn chặn kịp thời.
- Tính giá thành sản phẩm xây lắp chính xác kịp thời theo đúng khoản
mục giá thành.
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hạ giá thành theo từng khoản mục chi
phí của các công trình,hạng mục công trình.Từ đó đề ra các biện pháp hạ giá
thành sản phẩm một cách liên tục.
- Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lợng công tác xây
lắp hoàn thành.
- Kiểm tra định kỳ và đánh giá khối lợng thi công dở dang theo nguyên tắc
qui định. Đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ở từng
công trình, bộ phận thi công và lập báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm xây lắp một cách kịp thời.
1.1.4. ý nghĩa kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp

6

Trong doanh nghiệp xây dựng, kế toán chi phí sản xuất và giá thành có ý
nghĩa hết sức quan trọng. Nó cung cấp các số liệu một cách đầy đủ, chính xác,
kịp thời phục vụ cho việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản
xuất của doanh nghiệp. Từ đó có biện pháp quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu t
của Nhà nớc chặt chẽ và hiệu quả hơn.
1.2. Nội dung và phơng pháp kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm xây lắp.
1.2.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
xây dựng
1.2.1.1. Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây dựng:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào, dù lớn hay nhỏ, dù sản xuất kinh doanh trong
lĩnh vực nào đi nữa thì quá trình sản xuất đều nhất thiết phải có sự kết hợp của
ba yếu tố cơ bản đó là : Đối tợng lao động, t liệu lao động, và sức lao động.
Các yếu tố về t liệu lao động, đối tợng lao động (biểu hiện cụ thể là hao phí
về lao động vật hoá) dới sự tác động có mục đích của sức lao động(biểu hiện là
hao phí về lao động sống), qua quá trình biến đổi sẽ tạo nên các sản phẩm lao vụ,
dịch vụ .
Để đo lờng hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong từng thời kỳ hoạt động là
bao nhiêu, nhằm tổng hợp và xác định kết quả đầu ra phục vụ cho nhu cầu quản
lý, thì mọi hao phí cuối cùng đều đợc biểu hiện bằng tiền gọi là chi phí sản xuất
Nh vậy , chi phí sản xuất của doanh nghiệp là toàn bộ hao phí về lao động
sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh mghiệp đã bỏ ra
trong một thời kỳ nhất định, đợc biểu hiện bằng tiền.
1.2.1.2.Phân loại chi phí sản xuất
Với mỗi loại doanh nghiệp, Chi phí sản xuất có nội dung kinh tế khác nhau,
công dụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau. Để
lập kế hoạch và tính chính xác giá thành sản phẩm, để khống chế và thống nhất
các loại chi phí, nhằm nghiên cứu các yếu tố trong giá thành sản phẩm, yêu cầu

7

khách quan là phải phân loại chi phí sản xuất thành từng nhóm riêng theo tiêu
thức nhất định.
Chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp đợc phân loại theo các tiêu thức sau:
a) Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế là việc sắp xếp các chi
phí có nguồn gốc kinh tế ban đầu đồng nhất, không phân biệt chi phí đó phát
sinh trong lĩnh vực nào của qúa trình sản xuất.Theo cách phân loại này chi phi
sản xuất sản phẩm xây lắp bao gồm các yếu tố sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu :là toàn bộ chi phí về các đối tợng lao động bao
gồm : chi phi về nguyên vật liệu chính ,vật liệu phụ ,công cụ , dụng cụ
+ Chi phí nhân công :bao gồm toàn bộ tiền lơng, tiền công, phụ cấp, các
khoản trích theo lơng của công nhân xây lắp.
+ Chi phí về khấu hao: bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao trong kỳ
của tất cả các tài sản cố định trong doanh nghiệp.
+Chi phí dịch vụ mua ngoài : bao gồm toàn bộ số tiền chi trả về các loại
dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài, phục vụ cho hoạt động xây lắp của doanh nghiệp.
+Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi trực tiếp bằng tiền nhng không
thuộc bốn yếu tố trên.
Cách phân loại này giúp ta có thể xác định đợc kết cấu, tỷ trọng của từng
loại chi phí trong tổng số chi phí đã chi ra, từ đó lập các kế hoạch cung ứng về
vật t, huy động về lao động, tiền vốn. Nó còn là cơ sở lập thuyết minh báo cáo
tài chính và là cơ sở để kiểm tra tình hình thực hiện các dự toán chi phí sản xuất,
là cơ sở để lập dự toán chi phí sản xuất.
b) Phân loại chi phí theo khoản mục giá thành :
Cách phân loại này căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí để sắp xếp
các khoản chi phí có cùng một mục đích, một công dụng vào cùng một khoản
mục chi phí mà không quan tâm đến nội dung kinh tế ban đầu của nó. Theo cách
phân loại này, chi phí xây lắp bao gồm :

8

+Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :Là tất cả những chi phí về các loại
nguyên vật liệu chính , nguyên vật liệu phụ , vật kết cấu , vật liệu luân chuyển
cần thiết để cấu tạo nên thực thể công trình. Trong khoản mục chi phí vật liệu
không bao gồm các vật liệu phụ, nhiên liệu dùng cho máy móc thi công, các loại
vật liệu làm công trình tạm, các chi phí vận chuyển vật liệu trên công trờng ngoài
cự ly định mức lao động và định mức sử dụng máy thi công
+Chi phí nhân công trực tiếp: Là toàn bộ lơng cơ bản và các khoản phụ
cấp cho ngời lao động trực tiếp xây lắp theo chế độ hiện hành .
+Chi phí sử dụng máy thi công:Là toàn bộ chi phí sử dụng máy thi công
trực tiếp tham gia hoàn thành các khối lợng công tác xây lắp , bao gồm: chi phí
khấu hao cơ bản, chi phí sửa chữa lớn, chi phí sửa chữa thờng xuyên, chi phí
nguyên vật liệu, nhiên liệu động lực , tiền lơng của công nhân lái máy , chi phí
quản lý máy và chi phí khác của máy.
+Chi phí chung: Là những chi phí không liên quan trực tiếp đến việc hoàn
thành các khối lợng công tác và kết câú xây lắp của công trình nhng rất cần thiết
cho quá trình thi công,bao gồm: Các khoản tiền lơng, phụ cấp lơng, lơng phụ,
phụ cấp lu động phải trả cho nhân viên quản lý đội xây dựng ; khoản trích
BHXH, BHYT, KPCĐ đợc tính theo tỷ lệ phần trăm qui định hiện hành trrên tiền
lơng phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và
nhân viên quản lý đội ;chi phí dụng cụ sản xuất; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí
dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền khác.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp và phơng pháp lập dự toán
trong xây dựng cơ bản là dự toán đợc lập cho từng đối tợng xây dựng theo các
khoản mục gía thành, nên phơng pháp này là phơng pháp đựơc sử dụng phổ biến
nhất trong các doanh nghiệp xây dựng.
c) Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ và khả năng qui nạp chi phí
vào các đối tợng kế toán chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất đợc phân làm hai loại :
+ Chi phí trực tiếp :là những khoản chi phí có liên quan trực tiếp tới quá
trình sản xuất và tạo ra một công trình , một hạng mục công trình .Những chi phí

9

này có thể tập hợp trực tiếp cho từng từng công trình, hạng mục công trình độc
lập nh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ,chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí gián tiếp : đây là loại chi phí liên quan đến nhiều đối tợng khác
nhau nên phải tập hợp qui nạp cho từng đối tợng bằng phong pháp phân bổ gián
tiếp
Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa thuần tuý về kỹ thuật hạch
toán.Trờng hợp có phát sinh chi phí gián tiếp,bắt buộc kế toán phải áp dụng ph-
ơng pháp phân bổ,lựa chọn tiêu thức phân bổ phù hợp. Mức độ chính xác của chi
phí gián tiếp tập hợp cho từng đối tợng phụ thuộc vào tính hợp lý khoa học của
tiêu thức phân bổ chi phí đợc chọn .
d/Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lợng sản phẩm xây lắp
+ Chi phí bất biến ( định phí ) là các chi phí không thay đổi về tổng số khi
có sự thay đổi khối lợng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
Chi phí khả biến (biến phí ) là các chi phí thay đổi về tổng số khi có sự
thay đổi khối lợng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
+ Chi phí hỗn hợp : là loại chi phí bao gồm cả hai yếu tố trên .
Cách phân loại trên có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý, giúp
cho việc lập kế hoạch, phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh .
1.2.2. Giá thành sản phẩm xây lắp và phân loại giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp xây dựng:
1.2.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng:
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất và chi phí ngoài
sản xuất theo số lợng và loại sản phẩm đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm xây lắp là những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
chất lợng hoạt động sản xuất, quản lý của doanh nghiệp, kết quả của sử dụng các
loại vật t, tài sản trong quá trình sản xuất cũng nh các giải pháp kinh tế kỹ thuật
mà doanh nghiệp thực hiện nhằm đạt mục đích sản xuất ra khối lợng sản phẩm

10

nhiều nhất với chi phí thấp nhất. Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính toán
xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Các loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng:
Do đặc điểm riêng biệt của các sản phẩm xây lắp nên giá thành đợc chia
làm ba loại:
1.2.2.2.1. Giá thành dự toán (Zdt)
Sản phẩm xây dựng có giá trị lớn, thời gian thi công dài, mang tính đơn
chiếc nên mỗi công trình, hạng mục công trình đều có giá dự toán riêng. Giá
thành dự toán của công trình, hạng mục công trình là giá thành công tác xây lắp
đợc xác định trên khối lợng thiết kế đợc duyệt, các định mức dự toán và đơn giá
XDCB do cấp có thẩm quyền ban hành và dựa theo mặt bằng giá cả thị trờng.
Giá thành dự toán công trình,hạng mục công trình khác với giá trị dự toán
xây lắp ở điểm sau: Giá thành dự toán công trình,hạng mục công trình nhỏ hơn
giá trị dự toán công trình,hạng mục công trình ở phần thu nhập chịu thuế tính tr-
ớc và thuế giá trị gia tăng đầu ra. Do dó căn cứ vào giá trị dự toán của từng công
trình, hạng mục công trình ta có thể xác định đợc giá thành dự toán của chúng:
Giá thành dự toán
của công trình,hạng
mục công trình
=
Giá trị dự toán
công trình,hạng
mục công trình
sau thuế
-
Thu nhập chịu
thuế tính trớc
-
Thuế giá trị gia tăng đầu
ra
Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp nên giá thành dự toán công trình,hạng
mục công trình mang tính chất xã hội, nó phán ánh trình độ tổ chức kỹ thuật nói
chung của toàn xã hội vì cơ sở để xác định là khối lợng từ thiết kế đợc duyệt, cả
định mức dự toán và đơn giá xây dựng cơ bản hiện hành. Thông qua tổng dự toán
công trình,hạng mục công trình(Zdt) chúng ta có thể đánh giá đợc thành tích của
doanh nghiệp. Nó là hạn mức chi phí cao nhất mà doanh nghiệp có thể chi ra để
đảm bảo có lãi, là tiêu chuẩn phấn đấu hạ định mức thực tế. Giá thành dự toán
công trình,hạng mục công trình là căn cứ để kế hoạch hoá giá thành công
trình,hạng mục công trình và vạch ra các biện pháp tổ chức kinh tế kỹ thuật
nhằm đảm bảo nhiệm vụ hạ giá thành công trình,hạng mục công trình đợc giao.

11

1.2.2.2.2. Giá thành kế hoạch (Zkh):
Giá thành kế hoạch công công trình,hạng mục công trình là một loại giá
thành đợc xây dựng trên cơ sở những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về các
định mức,đơn giá,biện pháp thi công.Giá thành kế hoạch nhỏ hơn giá thành dự
toán ở mức hạ giá thành.
Giá thành kế hoạch của công trình,hạng mục công trình đợc xác định theo
công thức (tính cho từng công trình, hạng mục công trình):
Giá thành kế hoạch
công trình,hạng
mục công trình
=
Giá thành dự toán
công trình,hạng
mục công trình
-
Mức hạ giá thành
kế hoạch
1.2.2.2.3. Giá thành thực tế (Ztt)
Giá thành thực tế công trình,hạng mục công trình là chỉ tiêu phản ánh toàn
bộ chi phí thực tế để hoàn thành khối lợng xây lắp.Giá thành này đợc tính trên cơ
sở số liệu kế toán về chi phí sản xuất đã tập hợp đợc cho khối lợng xây lắp thực
hiện trong kỳ.Giá thành công trình lắp đặt thiết bị không bao gồm giá trị thiết bị
đa vào lắp đặt,bởi vì thiết bị này thờng do đơn vị chủ đầu t bàn giao cho doanh
nghiệp nhận thầu xây lắp.
Muốn đánh giá đợc giá trị chất lợng hoạt động sản xuất thi công của
doanh nghiệp xây dựng thì ta phải tiến hành so sánh các loại giá thành trên với
nhau. Giá thành dự toán mang tính xã hội cho nên việc so sánh giá thành thực tế
với giá thành dự toán cho phép ta đánh giá sự tiến bộ hay yếu kém trong doanh
nghiệp xây dựng trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ tổ
chức quản lý của bản thân doanh nghiệp. Trong việc so sánh này cần đảm bảo
tính thống nhất và có thể so sánh đợc, tức là đợc thực hiện trên cùng một đối tợng
tính giá thành (từng công trình, hạng mục công trình, hoặc khối lợng xây lắp
hoàn thành nhất định).
Về nguyên tắc thì mối quan hệ giữa các loại giá thành trên phải đảm bảo
nh sau : Zdt > Zkh > Ztt.

12

Đây cũng là nguyên tắc khi xây dựng giá thành và tổ chức thực hiện kế
hoạch giá thành. Có nh vậy doanh nghiệp mới đảm bảo có lãi, có tích luỹ cho
Nhà nớc và cho doanh nghiệp.
1.2.3. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp xây dựng:
1.2.3.1. Đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây dựng phát sinh luôn gắn liền với
nơi diễn ra hoạt động sản xuất và với sản phẩm đợc sản xuất ra.Vì vậy, kế toán
cần xác định đợc đối tợng để tập hợp chi phí sản xuất, trên cơ sở đó thực hiện
việc tập hợp chi phí sản xuất, kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm hay
để tổng hợp chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp
Đối tợng kế toán tập hợp chi phí là phạm vi,giới hạn để tập hợp chi phí
nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm .
Giới hạn hoặc phạm vi để tập hợp chi phí sản xuất có thể là :
- Nơi phát sinh chi phí nh đội trại sản xuất
- Nơi gánh chịu chi phí nh công trình , hạng mục công trình
Thực chất của việc xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là xác định
nơi các chi phí đã phát sinh và các đối tợng gánh chịu chi phí
Xác định đối tợng tập hợp chi phí là khâu đầu tiên, rất quan trọng của kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Khi xác định đối tợng
tập hợp chi phí sản xuất, kế toán phải dựa vào và cân nhắc hàng loạt các nhân tố
sau:
- Đặc điểm và công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất
- Đặc điểm cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
- Qui trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm
- Đặc điểm của sản phẩm
-Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ
của doanh nghiệp

13

-Yêu cầu tính gía thành theo các đối tợng tính giá thành
-Khả năng và trình độ quản lý nói chung và hạch toán nói riêng
1.2.3.2. Đối tợng tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng:
Đối tợng tính giá thành các loại sản phẩm, lao vụ, công vụ do doanh
nghiệp sản xuất ra cần phải đợc tính giá thành và giá thành đơn vị. Công việc tính
giá thành là xác định giá thành thực tế từng loại sản phẩm và toàn bộ sản phẩm
đã hoàn thành.
Xác định khối lợng tính giá thành là công việc đầu tiên của toàn bộ công
tác tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng và có ý nghĩa quan
trọng trong việc tính chính xác giá thành sản phẩm xây lắp. Bộ phận kế toán giá
thành phải cân đối, xem xét tổng thể các căn cứ sau để xác định khối lợng tính
giá thành cho phù hợp:
- Cơ cấu tổ chức sản xuất và đặc điểm qui trình công nghệ.
- Đặc điểm của sản phẩm,đặc điểm sử dụng của các sản phẩm.
- Dựa vào yêu cầu hạch toán kế toán, hạch toán nội bộ doanh nghiệp và
yêu cầu xác định hiệu quả kinh tế của từng loại sản phẩm.
-Khả năng và trình độ quản của của doanh nghiệp nói chung và khả năng
của cán bộ hạch toán nói riêng.
Trong các doanh nghiệp xây dựng, đối tợng tính giá thành thờng phù hợp
với đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, đó có thể là: công trình, hạng mục công
trình hay khối lợng xây lắp hoàn thành bàn giao. Trong trờng hợp các doanh
nghiệp xây dựng có tổ chức thêm các phân xởng sản xuất phụ (sản xuất vật
liệu ) thì đối tợng tính giá thành là tổng giá thành và giá thành đơn gị sản phẩm,
lao vụ cung cấp.
1.2.3.3. Kỳ tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng:
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành
công việc tính giá thành cho các đối tợng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá
thành thích hợp sẽ giúp cho việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm đợc
hợp lý, khoa học, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành thực tế của các sản

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét