CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC NGHIÊN CỨU
MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP VỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP
I . LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
1. Bản chất của đầu tư phát triển
1.1 Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn
trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra
những tài sản vật chất ( nhà xưởng thiết bị ) và tài sản trí tuệ ( tri thức, kỹ
năng ), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm và vì mục tiêu
phát triển.
- Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa
hẹp là nguồn vốn, theo nghĩa rộng nguồn lực bao gồm cả tiền vốn, đất đai,
lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên.
- Đối tượng của đầu tư phát triển : tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư
bỏ vốn thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
- Kết quả của đầut tư phát triển : Sự tăng thêm về tài sản vật chất ( nhà
xưởng, thiết bị, ), tài sản trí tuệ ( trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học
kỹ thuật, ) và tài sản vô hình ( phát minh sáng chế, bản quyền ). Kết quả
đạt được của đầu tư phát triển làm tăng năng lực sản xuất xã hội. Hiệu quả
của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xẫ hội
thu được với chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó.
- Mục đích của đầu tư phát triển : Vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích
của quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối
thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng
nguồn lực.
- Đầu tư phát triển về bản chất là khác với đầu tư tài chính. Đầu tư
phát triển không trực tiếp làm gia tăng tài sản thực cho nền kinh tế mà chỉ
làm tăng giá trị tài chính.
2
1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển.
1.2.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát
triển thường rất lớn.
- Vốn đầu tư thường nằm khê đọng lâu dài trong suốt quá trình đầu tư,
do đó đòi hỏi phải có các biện pháp huy đọng và quản lý chặt chẽ vốn đầu tư.
- Lao động đáp ứng cho các dự án là rất lớn, trong đó lực lượng lao
động có chất xám thường thiếu. Vấn đề lao động hậu dự án cũng cần phải
được lưu ý.
1.2.2 Thời kỳ đầu tư kéo dài
- Thời kỳ đầu tư tính từ khi thi công cho tới khi dự án hoàn thành và
đưa vào hoạt động. Nhiều dự án kéo dài hàng chục năm do vậy lượng vốn
khê đọng càng lãng phí, hơn thế nữa dự án đầu tư kéo dài thường do việc
thiếu vốn và dải vốn không khoa học.
1.2.3 Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài
- Thời gian vận hành kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt
động cho tới khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Do đó cần lưu
ý một số nội dung sau
+ Xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vĩ và vi
mô nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm.
+ Quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa cá thành quả đầu tư
vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn tránh
hao mòn.
+ Chú ý tới độ trễ của thời gian trong đầu tư. Theo đó tính toán chính
xác được thời gian mà kết quả đầu tư phát huy tác dụng.
1.2.4 Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình
xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi mà nó được tạo dựng
nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết
quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của cá nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội
vùng .
3
- Do đó đòi hỏi đầu tư phải có phù hợp với quy hoạch, kinh tế địa
phương và các nguồn nguyên nhiên liệu trong khu vực
- Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý.
1.2.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao
- Do quy mô vốn đầu tư thường lớn, thời gian đầu tư kéo dài và vận
hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu
tư thường kéo dài. Các rủi ro này có thể xuất phát từ các nguyên nhân chủ
quan : do quá trình sản xuất, quản lý hoặc do các nguyên nhân khách quan
: do tình hình kinh tế chính trị xã hội, lạm phát
- Cần áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro hợp lý nhằm tối đa lợi ích
đầu tư:
+ Nhận diện rủi ro đầu tư, từ đó tìm giải pháp khắc phục
+ Đánh giá mức độ rủi ro nhằm tìm ra các giải pháp phòng và chống
+ Xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro nhằm hạn chế tác hại
tới mức thấp nhất
1.3 Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển
Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng
Đầu tư phát triển bao gồm các nội dung : đầu tư phát triển sản
xuất,phát triển cơ sở hạ tầng- kỹ thuật chung của nền kinh tế, đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật chung của nền kinh tế, đầu tư phát triển văn
hóa giáo dục y tế và dịch vụ xã hội khác
Căn cứ vào khái niệm
- Đầu tư xây dựng cơ bản : Nhằm tái tạo tài sản cố định của doanh
nghiệp. Bao gồm các hoạt động chính như là : mua sắm máy móc thiết bị,
xây lắp. Hoạt động này đòi hỏi vốn lớn và tỷ trọng cao
- Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ : bổ sung nguyên nhiên vật liệu, bán
thành phẩm, sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp thương mại thường có tỷ trọng vốn đầu tư vào lĩnh vực này
lớn hơn so với doanh nghiệp sản xuất
4
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực : Bao gồm các hoạt động bồi
dưỡng, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, cải thiện môi trường đảm bào điều kiện
lao động.
- Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công
nghệ : Hoạt động đầu tư này có vốn lớn và độ rủi ro cao, do vậy tỉ trọng
này ở Việt Nam còn thấp. Tuy nhiên nó là chìa khóa để tiến sang các ngành
mới và các loại sản phẩm mới cũng như thị trường mới.
- Đầu tư cho hoạt động Marketing : Đầu tư quảng cáo, xúc tiến thương
mại, xây dựng thương hiệu Đầu tư này cần có một tỷ trọng hợp lý.
1.4 Vồn và nguồn vốn đầu tư phát triển
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản : là những chi phí đề đầu tư xây dựng
mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố
định trong nền kinh tế quốc dân.
- Vốn lưu động bổ sung : bao gồm những khoảng đầu tư dùng mua
sắm nguyên nhiên vật liệu thuê mướn lao động, làm tăng thêm tài sản lưu
động trong kỳ của xã hội.
- Vốn đầu tư phát triển khác : là tất cả các khoản đầu tư của xã hội
nhằm gia tăng năng lực phát triển của xã hội, trình độ dân trí của xã hội.
Các khoản đầu tư chính : chi cho quá trình thăm dò, khảo sát thiết kế, quy
hoạch ngành, quy hoạc lãnh thổ. Chi cho các chương trình quốc gia, giáo
dục đào tạo, môi trường ý tế
Người ta có thể phân loại nguồn vốn theo phạm vi quốc gia
+ Nguồn vốn trong nước: Nguồn vốn đầu tư trong nước được hình
thành từ phần tích luỹ của nội bộ nền kinh tế(vốn nhà nước và vốn dân
doanh).
+ Nguồn vốn nước ngoài:
- Nguồn tài trợ phát triển chính thức ODF
- Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Nguồn vốn từ thị trường vốn quốc tế
2. Phân loại đầu tư phát triển
5
- Theo bản chất của các đối tượng đầu tư có: Đầu tư vào tài sản hữu
hình, Đầu tư vào tài sản vô hình.
- Theo phân cấp quản lý có: Đầu tư dự án nhóm A, Đầu tư dự án
nhóm B, Đầu tư dự án nhóm C.
- Theo lĩnh vực hoạt động của kết quả đầu tư: Đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh, Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, Đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng.
- Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái
sản xuất xã hội: Đầu tư thương mại, Đầu tư sản xuất.
- Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu
tư: Đầu tư ngắn hạn, Đầu tư dài hạn.
- Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: Đầu tư gián tiếp, Đầu tư trực
tiếp.
- Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia: Đầu tư bằng nguồn vốn
trong nước, Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài
3. Vai trò của đầu tư phát triển doanh nghiệp thông qua M&A
3.1 Trên góc độ vĩ mô
3.1.1 Tạo thêm một kênh thu hút vốn đầu tư hiệu quả, đặc biệt là vốn đầu tư
nước ngoài
Đầu tư thông qua M&A có thể là một kênh thu hút vốn mới đối với
nhiệu quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển. Ngày nay,
khi các hoạt động thương mại và đầu tư diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn
trên phạm vi quốc tế, thì đầu tư thông qua hình thức M&A rộ lên như một
phương thức đầu tư nhanh chóng và hiệu quả. Tuy vậy sức hấp dẫn lớn
nhất của loại hình đầu tư này vẫn là giá trị đồng vận mà nó tạo ra. Giá trị
đồng vận tạo ra động lực mạnh mẽ để các tập đoàn đa quốc gia tiến hành
đầu tư nhằm thu được lợi nhuận kinh tế nhờ quy mô. Các vướng mắc về
thủ tục đầu tư, rào cản thị trường, cơ sở vật chất kỹ thuật và đặc biệt là áp
lực của chi phí sử dụng vốn theo thời gian là những nhân tố mạnh mẽ nhất
đẩy các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn hình thức đầu tư thông qua M&A.
So với chi phí và thời gian mà các doanh nghiệp đầu tư theo hình thức
truyền thống thì rõ ràng M&A có lợi hơn cho cả người mua và người bán.
6
Do đó M&A có thể mở ra một con đường mới nhằm thu hút công nghệ và kỹ năng để hỗ
trợ các công ty đó phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực mà công ty
đang hoạt động
3.1.2 Làm giá đỡ cho doanh nghiệp nhanh chóng xâm nhập vào thị trường
với chi phí và rủi ro thấp
Các nhà đầu tư luôn phải đối mặt với một vấn đề đó là khi nào các
dự án đầu tư phát huy hiệu quả của mình. Bởi vì thời gian đợi để dự án phát
huy hiệu quả càng lâu thì chi phí vốn phải trả càng lớn. Chính vì thế mà các
doanh nghiệp đang cố gắng đưa ra các danh mục đầu tư hiệu quả nhất với
chi phí vốn thấp nhất mà lại tạo ra giá trị nhiều nhất. M&A trực tiếp đem
lại cho các nhà đầu tư cơ sở để tiến hành sản xuất kinh doanh luôn do đó
nhanh chóng khắc phục được tình trạng khê đọng vốn đầu tư, giảm thời
gian đợi vô ích. Các doanh nghiệp không tốn chi phí để thành lập, xây
dựng cơ sở và thị phần ban đầu. Mà ngược lại tiếp cận các nguồn lực sẵn
có với chi phí thấp, thậm chí còn tận dụng được những nguồn nhân lực chất
lượng cao. Các doanh nghiệp còn có thể tương trợ lẫn nhau theo thế mạnh
của mình. Vì thế sử dụng M&A khôn khéo không chỉ là một vũ khí tấn
công giúp xâm nhập hiệu quả mà còn là một phương tiện phòng thủ, cũng
cố thị trường vững chắc.
3.2 Trên góc độ vi mô
3.2.1 Giúp các doanh nghiệp tạo ra giá trị đồng vận
Giá trị đồng vận có thể chia thành 3 dạng:
1. Doanh thu: Bằng việc kết hợp hai công ty, chúng ta sẽ thực hiện
được doanh thu cao hơn là nếu hai công ty đó hoạt động một cách riêng rẽ.
2. Chi phí: Bằng việc kết hợp hai công ty, chúng ta sẽ thực hiện giảm
chi phí xuống thấp hơn là nếu hai công ty hoạt động riêng rẽ.
3. Chi phí vốn: bằng việc kết hợp hai công ty, chúng ta sẽ tiến hành
hạo thấp được tổng chi phí vốn
Đa phần, nguồn giá trị đồng vận lớn nhất là ở chỗ giảm thấp chi phí.
Rất nhiều vụ sáp nhập đã dẫn tới việc phải cắt giảm giảm chi phí. Việc tiết
kiệm chi phí thường do việc bỏ bớt đi những dịch vụ không cần thiết, ví dụ
như ở phần nhân sự, kế toán, công nghệ thông tin, v.v
7
3.2.2 Mở rộng khả năng tham gia thị trường, giành được vị thế mạnh hơn
Việc hợp nhất một công ty nước ngoài có thể tạo khả năng cho một
công ty gia nhập nhanh chóng vào những thị trường đang nổi lên trên toàn
cầu. Hay giành lấy lợi thế cơ hội tương lại có thể được khai quật khi hai
công ty kết hợp lại với nhau. Ví dụ, một công ty truyền thông có thể tăng
cường vị thế trong tương lai nếu nó sở hữu một công ty dịch vụ có dải
băng tần rộng. Các công ty cần tự củng cố vị thế để giành ưu thế đối với
những khuynh hướng nổi lên trên thị trường
3.2.3 Lấp đầy khoảng trống và nâng cao năng lực tổ chức sản xuất
Một công ty có thể có những điểm yếu lớn (như là khả năng phân
phối kém) trong khi các công ty khác có một số thế mạnh đáng kể. Bằng
việc phối kết hợp hai công ty mỗi công ty sẽ bù đắp những lỗ hổng chiến
lược mà nó là thiết yếu cho sự tồn tại trong dài hạn. Nguồn nhân lực và
chất xám theo yêu cầu có thể giúp cải thiện tư duy đổi mới và sự phát triển
trong công ty.
3.2.4 Tận dụng tốt cơ hội trong thời kỳ suy thoái- mục tiêu định giá dưới giá trị
Đối với các doanh nghiệp thành công, họ nhìn thấy những cơ hội
tuyệt vời mà thời kỳ suy thoái tạo ra. Tất nhiên những cơ hội này không tự
nó biến thành lợi nhuận mà phải trải qua những chiến lược khắt khe và cân
não, thậm chí cả những thủ đoạn cần thiết. Cơ hội lợi nhuận cao bao giờ
cũng đi kèm với những rủi ro lớn. Các công ty mạnh tìm kiếm các công ty
mục tiêu và công ty mục tiêu có thể bị định giá thấp và vì vậy, nó sẽ tạo ra
một cơ hội đầu tư tốt. Một số thương vụ sáp nhập đã được thực hiện vì lý
do tài chính chứ không phải lý do chiến lược. Ví dụ, Kohlberg Kravis &
Roberts đã hợp nhất các công ty hoạt động kém hiệu quả và thay thế đội
ngũ quản lý với hy vọng làm tăng lên những giá trị đã bị ép xuống.
II. LÝ THUYẾT VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP (M&A) DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp
1.1. Định nghĩa
Trong quản trị doanh nghiệp (QTDN) có hai điểm quan trọng đó
là quyền sở hữu và người quản lý thì quyền sở hữu vẫn mang trọng
tâm hơn. Mặc dù xu hướng quản trị hiện đại tách biệt quyền sở hữu và
8
người quản lý nhưng thực chất quyền sở hữu có ý nghĩa quyết định
trong việc bầu Hội đồng quản trị và qua đó lựa chọn người quản lý
đồng thời quyết định chiến lược phát triển, phương án chia lợi nhuận
và xử lý tài sản công ty. Các khái niệm sáp nhập (acquisitions), hợp
nhất (mergers hoặc consolidations) đều xoay quanh mối tương quan
này
Mua bán hay sáp nhập doanh nghiệp (M&A) được sử dụng để
chỉ một doanh nghiệp (DN) tìm cách thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ
số lượng cổ phần hoặc tài sản của DN khác đủ để có thể khống chế
toàn bộ các quyết định của DN đó. Tỷ lệ này có thể khác nhau theo
quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp của từng nước. Sau khi kết
thúc thương vụ, DN mục tiêu sẽ chấm dứt hoạt động (bị sáp nhập)
hoặc trở thành một công ty con của công ty thâu tóm. Thương hiệu của
công ty mục tiêu nếu được đánh giá là vẫn còn giá trị để duy trì thị
phần sản phẩm thì có thể được giữ lại như một thương hiệu độc lập,
hoặc được gộp lại thành một thương hiệu chung. Điều 153, LDN năm
2005, hiệu lực ngày 1/7/2006 đã định nghĩa về sáp nhập DN là :”Một
hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có
thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp
nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích
hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại
của công ty bị sáp nhập.
Nguyên tắc then chốt của một thương vụ M&A là nhằm tăng giá trị
cho cả hai công ty. Nói cách khác, hai công ty sáp nhập hoặc hợp nhất cùng
nhau sẽ có giá trị lớn hơn hai công ty riêng lẻ - và ít nhất nó cũng là lý do
đằng sau hoạt động M&A. Các công ty sau khi M&A sẽ có cơ hội mở rộng
thị phần lớn hơn và đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Những công ty
nhỏ là đối tượng bị M&A cũng sẵn sàng để công ty khác mua vì như vậy sẽ
tốt hơn nhiều là bị phá sản hoặc rất khó khăn tồn tại trên thị trường.
1.2. Phân biệt hợp nhất, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
Hoạt động hợp nhất, mua bán và sáp nhập có điểm chung là đều
được thực hiện để nhằm mục đích đạt được lợi thế nhờ quy mô, tăng
9
hiệu quả và thị phần. Đây cũng là mục đích chung của tất cả các DN
tham gia vào họat động M&A. Tuy nhiên, giữa các hoạt động này
cũng có những khác điểm khác biệt nhất định:
Thứ nhất, sự khác biệt giữa mua bán và sáp nhập. Hoạt động mua
bán chỉ khác đôi chút so với hoạt động sáp nhập. Một thương vụ mua bán
cũng có thể được gọi là sáp nhập khi cả hai bên đồng thuận liên kết cùng
nhau vì lợi ích cho cả hai DN. Nhưng khi bên bị mua không muốn bị thâu
tóm thì sẽ được coi là một thương vụ mua bán hoặc khi vụ mua bán diễn ra
rất căng thẳng - hai đối thủ dùng tiềm lực tài chính để thâu tóm nhau nhằm
triệt tiêu sự cạnh tranh lẫn nhau. Một thương vụ được coi là mua bán hay
sáp nhập hoàn toàn phụ thuộc vào việc nó được diễn ra một cách thân thiện
giữa hai bên hay chỉ nhằm mục đích thâu tóm nhau.
Thứ hai, xét dưới khía cạnh pháp lý, sự khác biệt giữa mua bán và
sáp nhập, hợp nhất DN có thể được tóm tắt như sau:
Bảng 1: Phân biệt M&A dưới góc độ pháp lý
Hình
thức
DN nhận
M&A
DN bị M&A DN mới sau M&A
Sáp
nhập
Vẫn tồn
tại
Chấm dứt sự tồn
tại.
Là DN nhận sáp nhập nhưng đã
tăng thêm tài sản, quyền và nghĩa
vụ do DN bị sáp nhập chuyển sang
nhưng phải tiến hành đăng ký kinh
doanh
=> không phải một DN mới nhưng
dưới góc độ pháp lý vẫn là một
pháp nhân mới
Mua
bán
Vẫn tồn
tại
Vẫn tồn tại và có
tư cách pháp nhân
độc lập với DN
nhận mua
Là DN nhận mua nhưng có quyền
chi phối một phần hay toàn bộ
ngành nghề DN bị mua => không
phải DN mới, không phải pháp
nhân mới
Hợp
nhất
Chấm
dứt tồn
Chấm dứt tồn tại
Là DN mới, pháp nhân mới có tài
sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp
pháp của các DN tham gia hợp
10
tại nhất.
=> là DN mới, pháp nhân mới
Thứ ba, sự phân biệt giữa hợp nhất và sáp nhập. Về mặt bản chất
khái niệm và hệ quả pháp lý thì hợp nhất và sáp nhập là khác biệt; tuy
nhiên nếu xét về tác động thực tế đối với QTDN thì ranh giới phân biệt
giữa chúng nhiều khi lại rất mong manh. Chẳng hạn trong trường hợp các
công ty thương thảo với nhau để sáp nhập thông qua trao đổi cổ phần và
chia sẻ thương hiệu. Ban quản trị công ty có ưu thế hơn sẽ nắm quyền
quyết định trong khi đối tác là công ty còn lại vẫn có tiếng nói của mình,
công ty lớn chỉ phải làm thủ tục đổi tên (có thể là gộp chung thương hiệu)
và các báo cáo tài chính hợp nhất mà không phải đăng ký lại công ty mới,
văn hóa DN và cơ cấu tổ chức vẫn hoạt động một cách độc lập như mô
hình công ty mẹ - công ty con. Do đó, nhìn bề ngoài là sáp nhập, nhưng bên
trong thực chất là hợp nhất. Đây chính là hính thức phổ biến nhất trong làn
sóng M&A hiện nay. Như vậy, có thể thấy hợp nhất đòi hỏi mức độ hợp tác
rất cao giữa các công ty tham gia. Điều này giải thích tại sao hình thức sáp
nhập phổ biến hơn rất nhiều so với hợp nhất. Việc chia sẻ sở hữu, quyền
lực và lợi ích một cách đồng đều và lâu dài luôn khó khăn và cá biệt.
1.3. Giá trị đồng vận trong M&A
Cộng hưởng trong M&A chính là những lợi ích mà các DN tham gia
hoạt động M&A mong muốn đạt được. Cộng hưởng là động cơ quan trọng
và kì diệu nhất giải thích cho mọi thương vụ M&A, 2 + 2 = 5 .Cộng hưởng
sẽ cho phép hiệu quả và giá trị của DN mới (sau khi M&A) được nâng cao
hơn so với các DN trước khi thực hiện M&A.
Chính vì vậy, lợi ích mà các DN kỳ vọng sau mỗi thương vụ M&A
thường bao gồm:
• Giảm số lượng nhân viên: Xu hướng chung thì sáp nhập hay hợp
nhất DN thường có khuynh hướng giảm số lượng công việc phải làm.Do
vậy, bộ máy hành chính của công ty sau M&A sẽ bớt cồng kềnh hơn rất
nhiều so với bộ máy hành chính đồ sộ của các công trước khi M&A. Hơn
nữa, việc giảm thiểu vị trí công việc cũng đồng thời với đòi hỏi tăng năng
11
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét