Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Những vấn đề cơ bản về đảm bảo tiền vay trong chovay của NHTM - tại NHCT Thanh Xuân

Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

đảm tiền vay chính là phải thực hiện quá trình phân tích thẩm định một cách
mau lẹ và chính xác; sau đó phải thực hiện giải ngân đầy đủ, đúng hạn để bảo
đảm vốn đến đợc đúng vào lúc khách hàng cần. Điều này sẽ bảo đảm đợc
tính hiệu quả cho khách hàng trong việc sử dụng vốn và đó cũng chính là cơ
sở để khách hàng thu hồi đựơc vốn đem trả cho ngân hàng. Tất cả những điều
trên sẽ bảo đảm cho nguyên tắc hoàn trả không bị phá vỡ.
Với sự phân tích ở trên, có thể hiểu rằng bảo đảm tiền vay chính là
tất cả các biện pháp thực hiện để vốn cho vay ra phải quay về với ngân
hàng sau một thời gian xác định với đầy đủ cả gốc và lãi.
1.2.1.2. Đặc điểm.
Theo nh sự phân tích ở trên, chúng ta có thể khái quát một số đặc
điểm của bảo đảm tiền vay nh sau:
a) Bảo đảm tiền vay tồn tại trong mọi quan hệ tín dụng.
Không phải ngẫu nhiên mà ngân hàng trao cho khách hàng của mình
sử dụng tiền mà ngân hàng đã phải trả tiền để có đợc chỉ để nhận đợc một tờ
giấy chứng nhận. Tín dụng có một tính chất đặc biệt là vốn cho vay ra phải đ-
ợc hoàn trả trở lại. Do đó bất kỳ một khoản tín dụng nào mà ngân hàng cấp
cho khách hàng cũng cần có bảo đảm.
Tín dụng dựa trên lòng tin của một bên đối với bên kia về khả năng họ
sẽ hoàn trả số tiền nhận đợc cộng với số lãi nhất định đã thoả thuận. Lòng tin
này đợc xây dựng trên cơ sở khả năng tài chính và uy tín của mỗi bên. Có thể
không cần tài sản cầm cố hay thế chấp nhng tuyệt đối không thể thiếu đợc
lòng tin. Cả hai phía đối tác đều đòi hỏi bên kia về khả năng tài chính lành
mạnh, khả năng thực hiện đúng những điều khoản hợp đồng. Ngời cho vay
yêu cầu khoản tiền vay đợc sử dụng đúng mục đích, ngời đi vay lại yêu cầu
ngời cho vay cung cấp tiền đầy đủ, kịp thời. Chỉ khi bảo đảm đợc điều đó thì
quan hệ tín dụng mới tồn tại. Bởi vậy bảo đảm tiền vay tồn tại trong mọi
quan hệ tín dụng.
Trang: - 5 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

b) Thành công của khách hàng là sự bảo đảm cao nhất cho khoản
vay nhng yếu tố quyết định cuối cùng lại là đạo đức của ngời vay.
Tất cả các biện pháp thực hiện đều nhằm mục đích cuối cùng là thu
hồi đợc vốn đã cho vay. Do đó ngân hàng phải thẩm định để lựa chọn dự án
khả thi, theo dõi kiểm tra tiến trình sử dụng vốn của khách hàng và phối hợp
xử lý nếu có rủi ro xảy ra. Khi dự án triển khai hiệu quả thì không những
đem lại thu nhập cho ngời lao động, đem lại nguồn thu cho Ngân sách Nhà n-
ớc, lợi nhuận cho chủ đầu t mà còn có tiền để trả cho ngân hàng. Đây chính
là điều mà ngân hàng và khách hàng cùng mong đợi. Nh vậy thành công của
khách hàng chính là sự bảo đảm cao nhất cho các khoản tín dụng.
Song ngay cả trong trờng hợp khách hàng thành công thì khả năng
ngân hàng không thu đợc nợ vẫn có thể xảy ra. Nếu khách hàng cố tình trì
hoãn việc trả nợ trong trờng hợp họ có thể làm đợc điều đó thì không còn là
bảo đảm tiền vay nữa. Yếu tố đạo đức đợc nói đến ở đây là dù trong trờng
hợp nào thì ngời đi vay cũng phải coi bảo đảm tiền vay luôn gắn liền với quá
trình thực hiện dự án và gắn liền với sự thành công của mình. Điều này có
nghĩa là luôn phải có sự thôi thúc từ chính bản thân họ rằng phải thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng.
1.2.2. Vai trò của bảo đảm tiền vay.
a) Đối với ngân hàng.
Không phải ngẫu nhiên mà bảo đảm tiền vay là yếu tố đợc nhắc đến
trong mọi quan hệ tín dụng. Và nếu bảo đảm tiền vay thành công, không
những ngân hàng bảo đảm đợc khả năng hoàn trả vốn vay mà còn sản sinh lợi
nhuận, bảo đảm hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Đối với những khoản vay mà ngân hàng không đòi hỏi tài sản bảo
đảm thì ngân hàng phải thẩm định khách hàng một cách chặt chẽ hơn, nhờ đó
mà chất lợng tín dụng đợc nâng cao, khả năng thẩm định của cán bộ tín dụng
Trang: - 6 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

cũng đợc cải thiện. Mặt khác những tài sản mà lẽ ra doanh nghiệp phải đem
bảo đảm sẽ đợc dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt hơn để doanh nghiệp hoàn
trả vốn vay cho ngân hàng. Tất cả những điều trên sẽ làm cho mối quan hệ
giữa ngân hàng và khách hàng trở nên khăng khít hơn. Đây là một điều mà cả
ngân hàng và khách hàng cùng mong đợi.
Đối với những khoản vay mà ngân hàng đòi hỏi tài sản bảo đảm sẽ tạo
tâm lý mạnh dạn cho ngân hàng khi đa ra quyết định cho vay, nh vậy sẽ dẫn
đến kết quả là ngân hàng mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế.
Cần phải nhắc lại rằng không một khoản tín dụng nào đợc ngân hàng
cấp mà lại không cần bảo đảm. Chỉ nh vậy thôi cũng đủ nói lên vai trò to lớn
của bảo đảm tiền vay trong quyết định cho vay của ngân hàng.
b) Đối với khách hàng.
Cũng theo nh sự phân tích ở trên, khách hàng muốn có đợc khoản vốn
từ ngân hàng thì chỉ có tạo ra sự bảo đảm cho chính khoản tiền mà mình cần.
Một số doanh nghiệp có khả năng phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị
trờng tài chính nhng trong điều kiện thị trờng tài chính cha phát triển nh ở n-
ớc ta hiện nay thì tín dụng ngân hàng vẫn là rất quan trọng, còn đối với
những doanh nghiệp cha có khả năng đó thí tín dụng ngân hàng đã trở thành
nguồn thiết yếu cho mở rộng sản xuất. Đấy là cha kể đến việc khi đợc ngân
hàng thẩm định thì đó sẽ là lần xét duyệt thứ hai cho dự án của khách hàng,
tạo thêm cơ sở cho sự thành công của dự án.
Đa phần khách hàng đều không mong muốn phải bảo đảm bằng tài
sản vì nh vậy sẽ bị ràng buộc vào khoản vay nhng chính sự ràng buộc này lại
tạo cho họ động lực để thực hiện tốt dự án và cái lợi đầu tiên và lớn nhất
mang lại chính là lợi nhuận cho chính họ.
c) Đối với nền kinh tế.
Trang: - 7 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

Vai trò của bảo đảm tiền vay đối với nền kinh tế mang tính gián tiếp.
Khi chất lợng tín dụng đợc nâng cao sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát
triển, tăng cờng sức mạnh cho nền kinh tế. Nó giúp cho quá trình phân phối
lại vốn tiền tệ diễn ra theo đúng yêu cầu: vốn từ nơi tạm thời nhàn rỗi chuyển
sang nơi đang cần để mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng tiêu dùng, kích
thích tổng cầu. Bảo đảm tiền vay sẽ tránh đợc sự lãng phí do vốn bị chuyển
vào những ngành làm ăn không hiệu quả hay có ý định chiếm dụng vốn cho
những mục đích xấu.
Ngành ngân hàng là một ngành kinh doanh gặp rất nhiều rủi ro, mặt
khác hoạt động của nó lại mang tính hệ thống cao. Chính nhờ bảo đảm tiền
vay đã hạn chế đợc những mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu, tránh cho
nền kinh tế những tổn thất to lớn do sự khủng hoảng của hệ thống ngân hàng.
Tác động tích cực của bảo đảm tiền vay là góp phần củng cố niềm tin
của dân chúng vào hệ thống tài chính, tạo điều kiện để họ gửi tiền vào ngân
hàng nhiều hơn để phát triển sản xuất, đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
Bảo đảm tiền vay có tác dụng rất to lớn đối với nền kinh tế, đây là
điều không thể phủ nhận. Vì vậy Chính phủ các nớc luôn phải ban hành
nhiều văn bản pháp luật cho vấn đề bảo đảm tiền vay trong cho vay của các
ngân hàng thơng mại.
1.2.3. Phân loại bảo đảm tiền vay.
Theo suốt quá trình phân tích trên chúng ta có thể thấy đợc có sự phân
chia bảo đảm tiền vay thành bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm không bằng tài
sản hay bảo đảm bằng uy tín.
Song chúng ta cũng cần phải thống nhất rằng, trong nền kinh tế, uy tín
mà mỗi doanh nghiệp có đợc cũng chính là một loại tài sản và nó tồn tại ở
dạng một loại tài sản vô hình. Nhng ở bài viết này, ngời viết đứng trên giác
độ một nhà ngân hàng, tức là chỉ những tài sản có thể trở thành nguồn thu nợ
Trang: - 8 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

thứ hai cho ngân hàng trong trờng hợp khách hàng không trả hoặc không có
khả năng trả nợ mới đợc coi là tài sản bảo đảm cho khoản tiền vay.
1.2.3.1. Bảo đảm bằng tài sản.
Đây là hình thức mà trong đó ngân hàng (đóng vai trò là chủ nợ) đợc
thừa hởng một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của bên bảo đảm nhằm
làm căn cứ để thu hồi nợ trong trờng hợp con nợ không trả hoặc không có
khả năng trả nợ. Trong trờng hợp này mối quan hệ bảo đảm giữa ngân hàng
và khách hàng là quan hệ thông qua tài sản bảo đảm. Thông qua mối quan hệ
này ngân hàng sẽ có quyền định đoạt đối với số tài sản đó.
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - một lĩnh
vực chứa đựng rất nhiều rủi ro, do đó ngân hàng đợc pháp luật giao cho một
đặc quyền trong việc xử lý nợ đối với những tài sản bảo đảm trong trờng hợp
con nợ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên điều này không có
nghĩa là đã bảo đảm chắc chắn cho khả năng thu nợ của ngân hàng mà còn
tuỳ thuộc vào khả năng của ngân hàng trong khi đánh giá giá trị của tài sản
bảo đảm theo sự biến động của thời gian cũng nh khả năng bảo đảm của
chúng. Đây chính là một khó khăn lớn đặt ra cho ngân hàng.
Chúng ta có thể chia hình thức bảo đảm bằng tài sản thành hai loại, đó
là: bảo đảm bằng chính tài sản của ngời đi vay và bảo đảm bằng tài sản của
ngời thứ ba (ngời bảo lãnh).
a) Bảo đảm bằng tài sản của chính ng ời đi vay.
* Cầm cố.
Cầm cố là hình thức theo đó ngời đi vay phải chuyển quyền kiểm soát
tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết (thờng là thời
hạn vay vốn).
Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát và
bảo quản tơng đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ hầu nh
không ảnh hởng đến quá trình hoạt động của ngời nhận tài trợ, ví dụ các
Trang: - 9 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

chứng khoán, hợp đồng, sổ tiết kiệm, ngoại tệ mạnh, kim loại quý Các tài
sản này gọn nhẹ, dễ quản lý, không chịu ảnh hởng của các yếu tố môi trờng
tự nhiên. Đối với hàng hoá, ngân hàng thờng chấp nhận các loại ít chịu tác
động của môi trờng trong thời gian cầm cố.
Khi xét thấy việc khách hàng nắm giữ tài sản bảo đảm (có thể là nắm
giữ tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản) là không an toàn thì
ngân hàng sẽ yêu cầu cầm cố, thờng đó là những tài sản dễ bán, dễ chuyển
nhợng.
Khi cho vay dựa trên tài sản cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp
pháp, hợp lệ, an toàn của vật cầm cố nh quyền sở hữu của khách hàng, khả
năng chi trả của giấy tờ, giá trị thị trờng khi phát mại Ngân hàng cùng
khách hàng định giá vật cầm cố, ký hợp đồng cầm cố, quy định nghĩa vụ của
các bên trong quá trình cầm cố, quyền phát mại tài sản cầm cố.
* Thế chấp.
Thế chấp là hình thức theo đó ngời đi vay phải chuyển các giấy tờ
chứng nhận quyền sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản bảo đảm sang cho ngân
hàng nắm giữ trong thời gian cam kết.
Nhiều tài sản của khách hàng trở thành bảo đảm cho các khoản cho
vay của ngân hàng song vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động, những tài
sản này ngân hàng không thể cầm cố. Các tài sản này thờng cồng kềnh, phân
tán. Hơn nữa việc bán hoặc chuyển nhợng cũng không đơn giản. Trừ các
ngân hàng, các công ty tài chính có thể nắm giữ nhiều chứng khoán, tài sản
chủ yếu của doanh nghiệp là hàng hoá và tài sản cố định. Vì vậy, bảo đảm
bằng thế chấp rất phổ biến, đặc biệt đối với doanh nghiệp và ngời tiêu dùng.
Do giá trị của loại tài sản này thờng cao nên doanh nghiệp có thể vay ngân
hàng với quy mô lớn.
Bảo đảm bằng thế chấp cho phép ngời vay sử dụng tài sản bảo đảm
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là một thuận lợi. Tuy nhiên,
quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản, hơn nữa, do khả năng kiểm soát
Trang: - 10 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

tài sản bảo đảm của ngân hàng bị hạn chế, khách hàng có thể lợi dụng phân
tán, làm giảm giá trị của tài sản, gây thiệt hại cho ngân hàng.
Khi cho vay dựa trên bảo đảm bằng thế chấp, ngân hàng phải xem xét
kỹ vật thế chấp. Trong hợp đồng thế chấp (ký cùng với hợp đồng vay vốn),
phải có phần mô tả vật thế chấp. Nh vậy, ngân hàng cần phải có (hoặc thuê)
các nhà chuyên môn đủ khả năng đánh giá tài sản bảo đảm. Nếu định giá quá
cao, quy mô tài trợ có thể lớn, có thể gây rủi ro cho ngân hàng. Ngợc lại, nếu
định giá quá thấp sẽ ảnh hởng đến khả năng vay của khách hàng. Sau khi
định giá, ngân hàng và khách hàng phải thoả thuận về nội quy sử dụng bảo
đảm, quyền của ngân hàng giám sát bảo đảm, phát mại bảo đảm khi khách
hàng vi phạm hợp đồng tài trợ.
b) Bảo đảm bằng tài sản của ng ời bảo lãnh.
Ngời thứ ba cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân
hàng thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đợc. Đối với
những ngời bảo lãnh cha có uy tín, ngân hàng đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm
cho bảo lãnh đó. Thực chất, việc phân chia tài sản bảo đảm theo mức độ trực
tiếp hay gián tiếp nh trên chỉ có ý nghĩa đối với khách hàng, còn đối với ngân
hàng thì dù đó là bảo đảm bằng tài sản của khách hàng hay của ngời bảo
lãnh, ngân hàng cũng có quyền nh nhau đối với tài sản này
trong trờng hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
* Hiện nay việc bảo đảm bằng tài sản còn có hình thức mới đó là
bảo đảm bằng tài sản đợc hình thành từ vốn vay, tức là khách hàng dùng
chính tài sản có đợc do đi vay để bảo đảm cho khoản tiền vay. Đây là biện
pháp cuối cùng để ngân hàng có thể hạn chế việc khách hàng bán tài sản đ-
ợc hình thành từ vốn vay. Tuy nhiên khi khách hàng không có khả năng trả
nợ thì phần lớn các tài sản này cũng đều bị giảm giá, khó bán. Do đó tài
sản này không bảo đảm cho ngân hàng thu đủ cả gốc lẫn lãi. Hình thức này
Trang: - 11 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

đợc áp dụng cho khách hàng mà các tài sản khác dùng để bảo đảm có ít
hoặc không thể trở thành tài sản bảo đảm cho ngân hàng.
1.2.3.2. Bảo đảm bằng uy tín.
Đây là hình thức mà trong đó ngân hàng cho vay dựa trên khả năng
hoàn trả của khách hàng chứ không cần bất cứ tài sản bảo đảm nào. Để có thể
đa ra quyết định cho vay không cần tài sản bảo đảm, khách hàng phải đáp
ứng những yêu cầu do ngân hàng đặt ra. Hình thức này gồm có bảo đảm bằng
uy tín của ngời vay và bảo đảm bằng uy tín của ngời bảo lãnh.
a) Bảo đảm bằng uy tín của ng ời vay.
Theo hình thức này, ngân hàng cho vay dựa trên uy tín của chính
khách hàng. Không phải đơn giản để ngân hàng có thể giao tiền cho khách
hàng mà không cần tài sản bảo đảm. ở loại hình cho vay này, những đòi hỏi
của ngân hàng đề ra phải chặt chẽ hơn và thông thờng để có thể cho vay bằng
uy tín, ngân hàng cũng phải tuân thủ nhiều ràng buộc trong các quy định của
pháp luật. Cho vay bảo đảm bằng uy tín của khách hàng có cả những thuận
lợi cũng nh những khó khăn. Thuận lợi ở chỗ nó thúc đẩy mối quan hệ giữa
hai bên, giảm bớt tính phức tạp của quy trình tín dụng khi thực hiện món vay
và cán bộ tín dụng cũng gặp phải ít khó khăn hơn khi không phải tiến hành
đánh giá, theo dõi tài sản bảo đảm. Tuy nhiên bất lợi lớn nhất chính là ngân
hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro lớn. Một khi niềm tin của ngân hàng bị
đặt nhầm chỗ thì lúc đó hậu quả gây ra đối với ngân hàng sẽ không thể lờng
hết đợc. Không bị ràng buộc trách nhiệm bởi tài sản bảo đảm, nỗ lực của ng-
ời vay khi sử dụng vốn có thể vì thế mà giảm sút. Khi mà khách hàng không
có khả năng trả nợ thì ngân hàng sẽ không đủ cơ sở pháp lý để thu hồi tiền
cho vay. Chính vì sự bất lợi đó mà chủ yếu trong quan hệ tín dụng này ngân
hàng đòi hỏi phải là khách hàng lâu năm, tức là sự tin tởng lẫn nhau đã đạt
đến độ chín và yếu tố đạo đức trong bảo đảm tiền vay cũng đã đợc khẳng
định. Tuy nhiên, lật lại vấn đề chúng ta lại cần phải nói rằng, với bất cứ một
Trang: - 12 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

phơng án xin vay nào thì câu hỏi đầu tiên mà ngân hàng đặt ra cho khách
hàng là vay để làm gì?. Do đó việc thẩm định dự án đầu t mặc dù không
thể thay thế cho mối quan hệ lâu năm giữa ngân hàng và khách hàng nhng lại
là yếu tố quyết định khi có một khoản vay của khách hàng, đặc biệt là trong
trờng hợp vay không có tài sản bảo đảm. Theo quan niệm thông thờng, uy tín
của khách hàng chỉ bao gồm: khách hàng có phải là khách hàng truyền thống
hay không, năng lực tài chính trong quá khứ và hiện tại có tốt không, quan hệ
vay vốn với ngân hàng từ trớc đến nay có tốt không. Đây đều là những yếu tố
thuộc về lịch sử. Với bài viết này ngời viết còn muốn đề cập đến cả những
yếu tố năng lực thuộc về hiện tại, tức là khả năng của khách hàng trong việc
lựa chọn cho mình một dự án hợp lý. Nói cách khác, năng lực của ngời vay
cũng đợc thể hiện ở việc họ lựa chọn dự án nh thế nào. Điều này có nghĩa
chúng ta coi thẩm định dự án chính là đánh giá lại năng lực thực sự của ngời
đi vay. Theo quan niệm này thì thẩm định dự án cũng là một yếu tố của bảo
đảm tiền vay. Do đó ở mục này vấn đề thẩm định dự án sẽ đợc đề cập nghiên
cứu. Song chúng ta cũng phải lu ý rằng, không chỉ cho vay bằng tín chấp mới
cần thẩm định mà mọi khoản vay đều cần phải đợc ngân hàng thẩm định một
cách chặt chẽ.
Thẩm định dự án:
Thẩm định dự án trong việc cho vay của ngân hàng thơng mại có vai
trò vô cùng quan trọng, có thể nói nó là yếu tố quyết định các khoản cho vay
của ngân hàng. Nhng ở đây chúng ta xét đến vai trò của thẩm định dự án trên
khía cạnh bảo đảm tiền vay tại một ngân hàng thơng mại.
Mục tiêu cần phải đạt đợc của cán bộ tín dụng là đa ra quyết định có cho
vay hay không và nếu có thì cho vay nh thế nào và cho vay bao nhiêu.
Trang: - 13 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh

Khi xuất hiện nhu cầu vay vốn, trớc hết khách hàng cần đợc hớng dẫn
để lập hồ sơ vay vốn. Bởi vậy việc đầu tiên phải làm là giúp khách hàng có đợc
một bộ hồ sơ đầy đủ, chặt chẽ và tuân theo những quy định của pháp luật.
Để quyết định cho vay hay từ chối khoản vay, cán bộ tín dụng phải
điều tra thu thập, tổng hợp và xử lý các nguồn thông tin về khách hàng bao
gồm: thông tin do khách hàng cung cấp, thông tin thu thập đợc từ các bạn
hàng của khách hàng, từ những khách hàng của mình, từ các cơ quan thông
tin đại chúng, thông tin từ thị trờng tiêu thụ sản phẩm mà khách hàng cung
cấp, từ các trung tâm chuyên trong lĩnh vực cung cấp thông tin Một tập hợp
thông tin đầy đủ chính xác là điều kiện cần để đánh giá dự án xin vay bởi đó
là cơ sở cho nhận định, phân tích và đa ra kết luận về tính khả thi của dự án.
Quá trình thẩm định dự án là lúc nhân viên ngân hàng phải vận dụng
mọi kiến thức và kinh nghiệm, sử dụng các phơng pháp phân tích định lợng
kết hợp phân tích định tính trên cơ sở những thông tin có đợc. Những nội
dung trong phân tích định lợng có thể bao gồm: đánh giá các luồng tiền; sử
dụng các chỉ tiêu NPV, IRR, thời gian hoàn vốn ; trong đó việc đánh giá
luồng tiền là vô cùng quan trọng vì nó là yếu tố trực tiếp quyết định đến việc
khi nào khách hàng có thể trả nợ cho ngân hàng và với số lợng là bao nhiêu,
từ đó làm cơ sở để hai bên thống nhất về thời điểm trả nợ, thời hạn vay vốn,
số tiền thu nợ cho từng đợt trả nợ Quy trình thẩm định dự án chính xác
cũng sẽ làm cho việc thẩm định dự án suôn sẻ. Việc này đòi hỏi cán bộ tín
dụng không những phải có chuyên môn nghiệp vụ mà phải có trình độ trong
lĩnh vực mà khách hàng đang hoạt động. Khi quyết định cho vay đợc đa ra
hai bên sẽ phải hoàn thiện hồ sơ cho vay và các điều khoản cần thiết sẽ đợc
xác lập nh: giá trị tiền vay, thời hạn vay, hình thức hoàn trả, lãi suất và các
vấn đề về tài sản bảo đảm (nếu có).
Khách hàng khi đến với ngân hàng đều mong muốn vay đợc vốn và
ngân hàng cũng mong muốn mở rộng tín dụng cả về số lợng lẫn chất lợng.
Cả hai phía đều có những điều kiện và yêu cầu, hợp đồng tín dụng sẽ đợc
Trang: - 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét