Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

165 Hoàn thiện mô hình kinh tế quốc tế trong các doanh nghiệp Dược phẩm

KTQT đa ra tất cả các loại thông tin kinh tế đã đợc đo lờng, xử lý và
cung cấp cho nội bộ sử dụng để ra quyết định và quản lý ; KTTC đa ra những
thông tin kế toán mà ngoài việc nó đợc sử dụng trong nội bộ ban quản lý, còn đ-
ợc cung cấp cho các tổ chức bên ngoài. Thông tin kế toán cung cấp, về bản chất,
thờng là thông tin kinh tế - tài chính định lợng và thông tin này giúp cho các
nhà quản trị hoàn thành các chức năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra
và ra quyết định. Trong môi trờng kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin
trong công tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp lực của những
thay đổi nhanh chóng của các vấn đề nh : Toàn cầu hoá, sự cạnh tranh, sự tiến
bộ khoa học kỹ thuật Chính điều này và kết hợp với sự tiến bộ trình độ giáo
dục, trình độ chuyên môn kế toán đã làm cho kế toán phát triển sâu rộng hơn về
tính chất và đặc điểm thông tin cần phải cung cấp. Kế toán không chỉ dừng lại ở
việc cung cấp thông tin mang tính nguyên tắc mà đòi hỏi phải linh hoạt, kịp
thời, hữu ích. Đồng thời, thông tin kế toán cũng phải đảm bảo tính đơn giản,
nhanh chóng nhằm hỗ trợ đắc lực cho nhà quản trị trong môi trờng kinh doanh
mới.
Đến nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về KTQT . Ta có thể hiểu
thông qua một số khái niệm sau:
Theo GS,TS Ronald. W. Hiton- Trờng đại học Cornelb của Mỹ: " KTQT
là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức mà các nhà
quản trị dựa vaò đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức".
Theo GS, TS Jack. L. Snit.M. Krith và Wiliam. L. Stephens ở Trờng Đại
học South Florida: " KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản
trị những thông tin định lợng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát".
Theo quan điểm của giáo trình KTQT - Học viện Tài chính xuất bản
năm 2002: " KTQT là một khoa học thu nhận, xử lý và cụ thể, phục vụ cho các
5
nhà quản lý trong việc lập kế hoạch , tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp ".
Tóm lại, dù các khái niệm có khác nhau về mặt câu chữ nhng thâu tóm
lại có thể hiểu, KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung, đồng thời
là một công cụ không thể thiếu đợc đối với công tác quản lý nội bộ doanh
nghiệp thông qua KTQT , các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của
doanh nghiệp đợc trình bày, diễn giải một cách cụ thể, tỉ mỉ, đáp ứng yêu cầu
quản lý theo từng chỉ tiêu chi tiết và quản lý từng bộ phận doanh nghiệp. KTQT
là loại kế toán dành cho ngời làm công tác quản lý. Nó đợc coi nh một hệ thống
trợ giúp cho các nhà quản lý và quyết định, là phơng tiện để thực hiện kiểm soát
quản lý trong doanh nghiệp.
1.1.2. Đối tợng, mục tiêu và nhiệm vụ của KTQT.
1.1.2.1. Đối tợng của KTQT.
KTQT không những đợc áp dụng cho các doanh nghiệp mà còn đợc áp
dụng cả cho những tổ chức, các đoàn thể D ới đây chỉ đề cập đến đối tợng của
KTQT trong các doanh nghiệp, các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
- KTQT không phản ánh toàn bộ đối tợng của kế toán nói chung, mà chỉ
phản ánh thông tin cụ thể về từng loại tài sản, từng loại chi phí sản xuất kinh
doanh hoặc từng qúa trình sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị
doanh nghiệp.
- KTTC phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp,
còn KTQT chỉ phản ánh từng phần hoạt động kinh tế tài chính đó.
1.1.2.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của KTQT.
Đối với KTQT, mô hình doanh nghiệp thể hiện dới dạng gắn các mục
đích mà doanh nghiệp theo đuổi với các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy
động và với việc tiêu dùng các nguồn lực này ( thể hiện các chi phí ).Nh vậy,
6
mục tiêu của KTQT là liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực ( các chi phí )
và nhu cầu tài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó
( các chi phí phát sinh).
Mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi có thể rất đa dạng, nh: Bán đợc một
lợng hàng hoá nào đó; tôn trọng và thực hiện một thời hạn giao hàng cụ thể
Để thực hiện đựơc mục tiêu này, cần phải huy động các nguồn lực vào đầu t
thiết bị, dự trữ hàng tồn kho, lao động ( nhân công) nghĩa là doanh nghiệp
phải đơng đầu với một nhu cầu đầu t về vốn cố định và vốn lu động. Vì vậy,
một trong các nhiệm vụ của KTQT là tính toán và đa ra mô hình về nhu cầu vốn
( vốn lu động và vốn cố định) cho một loại sản phẩm một thời hạn giao hàng
nào đó.
Trong thực tế, KTQT phải tính toán, đo lờng giá phí, giá thành của từng
loại hàng tồn kho, từng sản phẩm , lao vụ, dịch vụ, từng loại tài sản cố định
cũng nh xác định chi phí theo từng địa điểm phát sinh của chi phí nhằm tăng c-
ờng trách nhiệm vật chất của các bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp , tăng c-
ờng hạch toán kinh tế nội bộ doanh nghiệp.
Việc đo lờng chi phí của một hoạt động theo một mục đích nào đó là kết
quả cụ thể của KTQT. Tuy nhiên, một nhiệm vụ quan trọng hơn của KTQT là
phải giúp nhà quản lý có những giải pháp tác động lên các chi phí này, nghĩa là
cần phải xác định nguyên nhân gây ra chi phí để có thể can thiệp, tác động vào
các nghiệp vụ, các hoạt động phát sinh các chi phí. Nghĩa là cần:
- Một mặt, phân tích một cách cụ thể để hiểu các chi phí đợc hình thành
nh thế nào.
- Mặt khác, khuyến khích những ngời, những bộ phận có khả năng tới
các thành phần chi phí làm việc phù hợp với chính sách và quy định của doanh
nghiệp nhằm tiết kiệm và hạ thấp chi phí một cách hợp lý nhất, đảm bảo mối
quan hệ tối u giữa chi phí - khối lợng- lợi nhuận.
7
Ngoài ra, KTQT còn giúp ngời ra quyết định lựa chọn các giải pháp phù
hợp khi lựa chọn phơng án kinh doanh.
1.1.3. KTQT với chức năng quản lý.
Trách nhiệm của các nhà quản trị doanh nghiệp là điều hành và quản lý
các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Các chức năng cơ bản của quản lý đợc
khái quát bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ số 1-1:
Các chức năng cơ bản của quản lý
Qua sơ đồ này, có thể thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập
kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay lại khâu lập kế
hoạch cho kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục ra quyết định.
Nh vậy, để làm tốt chức năng quản lý, nhà quản trị phải có thông tin cần
thiết để có thể ra quyết định đúng đắn. KTQT là nguồn chủ yếu, dù không phải
là duy nhất, cung cấp thông tin đó. KTQT với chức năng quản lý thể hiện trong
các khâu của quá trình quản lý đợc thể hiện cụ thể nh sau:
8
Lập kế hoạch
Ra quyết định
Kiểm tra
Thực hiện
Đánh giá
* Lập kế hoạch :
Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bớc thực
hiện để đạt đợc những mục tiêu đó. Đó có thể là kế hoạch dài hạn hoặc ngắn
hạn.
Để chức năng lập kế hoạch của quản lý đợc thực hiện tốt, để các kế
hoạch đợc lập đảm bảo tính khoa học và tính khả thi cao đòi hỏi phải dựa trên
những thông tin đầy đủ thích hợp và có cơ sở. Các thông tin này chủ yếu do
KTQT cung cấp.
* Tổ chức thực hiện.
Với chức năng tổ chức thực hiện, nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt
nhất giữa các yếu tố, tổ chức, con ngời và các nguồn lực sao cho kế hoạch đợc
thực hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất. Để thực hiện tốt chức năng này, nhà
quản trị cũng phải có nhu cầu rất lớn đối với các thông tin KTQT để có thể ra đ-
ợc các quyết định ngắn hạn cũng nh dài hạn đúng đắn và phù hợp.
* Kiểm tra và đánh giá.
Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện
kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Để làm đợc
điều này, nhà quản trị cần đợc các kế toán viên quản trị cung cấp các báo cáo
thực hiện để nhận đợc những vấn đề còn tồn tại cần có tác động của quản lý.
Thông thờng, các nhà quản trị thừa hành thờng đánh giá từng phần trong
phạm vi kiểm soát của họ. Các nhà quản trị cấp cao hơn không tham gia trực
tiếp vào quá trình hoạt động hàng ngày mà đánh giá và kiểm tra dựa vào các
báo cáo thực hiện của từng bộ phận thừa hành do kế toán quản trị cung cấp.
* Ra quyết định.
Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm phục vụ chức năng ra quyết
định của nhà quản trị. Đây là một chức năng quan trọng xuyên suốt các khâu
9
quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch tổ chức thực hiện, cho đến kiểm tra
và đánh giá.
KTQT giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng
cách cung cấp thông tin phù hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân
tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn, ra quyết
định thích hợp nhất.
1.1.4. Phân biệt KTQT với KTTC.
KTQT và KTTC là hai bộ phận của kế toán doanh nghiệp, chúng có mối
quan hệ chặt chẽ, đồng thời cũng có nhiều điểm khác biệt nhau.
1.1.4.1. Sự giống nhau.
KTQT và KTTC có nhiều điểm giống nhau và là hai bộ phận không thể
tách rời của kế toán doanh nghiệp. Những điểm giống nhau cơ bản là:
- KTQT và KTTC đều đề cập đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp.
- KTQT và KTTC đều đợc ghi chép trên cơ sở các chứng từ về các nghiệp
vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành ở doanh nghiệp.
- KTQT và KTTC đều phục vụ cho mục đích quản lý doanh nghiệp trên
các góc độ khác nhau. Nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng thông tin của KTTC
trong quá trình thực hiện các chức năng của mình để kiểm tra, đánh giá tổng
quát về tình hình huy động, sử dụng vốn trong doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất
kinh doanh của kỳ qua, phát hiện những sai sót, những tiềm năng để có biện
pháp tốt hơn trong kỳ tới; còn sử dụng thông tin KTQT để đánh giá việc thực
hiện những yêu cầu quản trị kinh doanh đã đợc đề ra cụ thể ở doanh nghiệp.
- KTQT và KTTC đều biểu hiện thông tin kinh tế tài chính trong mối
quan hệ với trách nhiệm của nhà quản trị phạm vi. KTTC biểu hiện trách nhiệm
của ngời quản lý cấp cao, còn KTQT biểu hiện trách nhiệm của ngời quản lý
các cấp bên trong doanh nghiệp.
10
1.1.4.2. Sự khác nhau.
Xuất phát từ nguồn gốc hình thành và nhu cầu sử dụng khác nhau nên
KTQT và KTTC có những điểm khác nhau cơ bản sau:
* Về đối tợng sử dụng thông tin.
- KTQT đa ra tất cả các loại thông tin kinh tế đã đợc đo lờng, xử lý và
cung cấp chỉ cho nội bộ doanh nghiệp sử dụng phục vụ quản trị doanh nghiệp.
- KTQT đa ra những thông tin kinh tế mà ngoài việc nó đợc sử dụng
trong nội bộ doanh nghiệp, còn đợc cung cấp cho các tổ chức bên ngoài.
* Về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin.
Thông tin KTTC phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện
hành về kế toán của từng quốc gia,kể cả các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về
kế toán đợc các quốc gia công nhận. Trái lại, trong nền kinh tế thị trờng, do yêu
cầu phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh đa dạng nên thông
tin KTQT cần linh hoạt, nhanh chóng và thích hợp với từng quyết định cụ thể
của ngời quản lý , không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán
chung. Các quy định của Nhà nớc về KTQT ( nếu có) cũng chỉ mang tính chất
hớng dẫn.
* Về tính pháp lý của kế toán.
KTTC có tính pháp lệnh, nghĩa là hệ thống sổ, ghi chép trình bày và cung
cấp thông tin của KTTC đều phải tuân theo các quy định thống nhất nếu muốn
đợc thừa nhận. Ngợc lại, tổ chức công tác quản trị lại mang tính nội bộ, thuộc
thẩm quyền của từng doanh nghiệp phù hợp với đặc thù quản lý, yêu cầu quản
lý, điều kiện và khả năng từng doanh nghiệp.
* Về đặc điểm thông tin.
- Thông tin của KTTC chủ yếu dới hình thức giá trị; còn thông tin của
KTQT đợc biểu hiện cả hình thái hiện vật và hình thái giá trị.
11
- Thông tin của KTTC là thông tin thực hiện về những nghiệp vụ đã phát
sinh, đã xảy ra; còn thông tin của KTQT chủ yếu đặt trọng tâm cho tơng lai vì
phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phơng án, đề án cho một sự kiện
hoặc một quá trình cha xảy ra.
- Thông tin của KTTC chủ yếu là các thông tin thuần tuý, đợc thu thập từ
các chứng từ ban đầu kế toán ; KTQT ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban
đầu của kế toán còn phải kết hợp với nhiều ngành khoa học khác nh thống kê,
hạch toán nghiệp vụ để tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin thành dạng có
thể sử dụng đợc. Vì trong KTQT , thông tin đợc thu thập nhằm phục vụ cho
chức năng và quyết định của nhà quản lý và thờng không có sẵn.
* Về hình thức báo cáo sử dụng.
Báo cáo sử dụng trong KTTC là các báo cáo kế toán tổng hợp ( gọi là các
báo cáo tài chính) phản ánh tổng quát về sản nghiệp kết qủa hoạt động của
doanh nghiệp trong một thời kỳ nh: Bảng cân đối kế toán , báo cáo kết quả kinh
doanh còn báo cáo của KTQT đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc
của doanh nghiệp nh: Báo cáo chi phí sản xuất và giá thành, Báo cáo nợ phải
trả
* Về kỳ báo cáo.
Kỳ báo cáo của KTQT thờng xuyên hơn và ngắn hơn kỳ báo cáo của
KTTC . Báo cáo của KTTC đợc soạn theo định kỳ, thờng là hàng quý, hàng
năm; còn báo cáo của KTQT đợc soạn thảo theo yêu cầu quản trị doanh
nghiệp , có thể là 7 ngày , 10 ngày hoặc hàng tháng.
1.2. Nội dung và phạm vi của KTQT trong doanh nghiệp.
12
KTQT có nội dung rất rộng, việc xác định nội dung và phạm vi của
KTQT còn là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến khác nhau. KTQT chỉ thu
nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính một cách
cụ thể, tỉ mỉ, chi tiết theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp . Vì vậy, nội dung của
KTQT đợc quyết định bởi yêu cầu cụ thể trong công tác quản trị doanh nghiệp
và mối tơng quan với KTTC ; nhằm đảm bảo tránh trùng lặp với kế toán chi tiết
trong KTTC, đồng thời phát huy tác dụng trong công tác quản trị doanh nghiệp.
Tuỳ vào từng doanh nghiệp có quy mô, có yêu cầu quản trị khác nhau mà nội
dung và phạm vi của KTQT cũng khác nhau có thể thâu tóm nội dung và phạm
vi của KTQT trong doanh nghiệp theo những cách tiếp cận sau:
1.2.1. Xét theo nội dung các thông tin mà KTQT cung cấp.
Nội dung của KTQT trong doanh nghiệp bao gồm:
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm. Đây là nội dung hạch
toán cơ sở để làm nền tảng tính toán cho các mục tiêu dự kiến. Thông tin về lĩnh
vực này có vai trò hết sức quan trọng, cần phải chi tiết hoá đến từng khoản mục
và đối tợng chi phí để tiến hành việc phân loại theo tiêu chuẩn thích hợp với
KTQT nh: Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lợng sản phẩm ( chi phí
bất biến, chi phí khả biến và chi phí hỗn hợp), phân loại chi phí theo mối quan
hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính ( chi phí sản xuất , chi
phí thời kỳ)
Trên cơ sở phân loại chi phí, KTQT xác định các chỉ tiêu quản trị chi phí
nh chi phí tính cho sản phẩm hoàn thành, chi phí trên doanh thu; lợi nhuận trên
chi phí Từ đó xác định đựơc cần phải mở những tài khoản chi tiết nào, sổ kế
toán nào để thu thập, xử lý thông tin phục vụ yêu cầu nhiều hơn đến phơng
pháp phân bổ chi phí, từ đó để tìm ra phơng pháp phân bổ hợp lý nhất.
- KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh.
13
Nội dung cơ bản của KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh căn cứ vào
yêu cầu quản trị cụ thể về doanh thu và kết quả kinh doanh để phân loại doanh
thu theo nhóm, mặt hàng hoặc theo địa điểm kinh doanh, xác định các chỉ tiêu
dự đoán về doanh thu, kết quả và mở các tài khoản, sổ chi tiết nhằm cung cấp
các thông tin một cách cụ thể về doanh thu và kết quả kinh doanh.
- KTQT về các hoạt động đầu t tài chính.
Nội dung của KTQT về các hoạt động đầu t tài chính trong doanh nghiệp
đợc căn cứ vào yêu cầu cụ thể để xác định các chỉ tiêu đầu t, hiệu quả đầu t,
thời gian đầu t; mở các tài khoản và sổ chi tiết nhằm thu thập, xử lý hoạt động
đầu t theo từng hoạt động đầu t, từng khoản đầu t phục vụ yêu cầu quản trị
doanh nghiệp.
- KTQT về các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Nội dung KTQT các hoạt động khác trong doanh nghiệp đợc căn cứ vào
yêu cầu cụ thể quản lý các chỉ tiêu khác nh: Quản trị công nợ, tình hình và khả
năng thanh toán để mở sổ kế toán theo dõi các hoạt động này.
Trong các nội dung nói trên, trọng tâm của KTQT là lĩnh vực chi phí. Vì
vậy, một số tác giả cho rằng, KTQT là kế toán chi phí.
1.2.2. Xét theo quá trình KTQT trong mối quan hệ với khả năng quản
lý.
Nội dung của KTQT bao gồm các khâu sau:
- Chính thức hoá các mục tiêu của doanh nghiệp thành các chỉ tiêu kinh
tế. Nghĩa là , các mục tiêu của doanh nghiệp không còn ở dạng chung chung
nữa mà đợc thể hiện cụ thể, rõ ràng dới dạng con số, chỉ tiêu kinh tế.
- Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết.
Trong doanh nghiệp , lập dự toán là khâu rất quan trọng , không thể thiếu
trong công tác kế hoạch. Việc lập dự toán chung và dự toán chi tiết phải dựa
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét