5
Bản thân tôi là một cán bộ tín dụng tại VCB-HCM tuy chưa lâu nhưng
đã có nhiều trăn trở về thực trạng hoạt động tài trợ tín dụng đối với các
DNVVN, thấy được vai trò, vò trí của các DNVVN trong sự nghiệp CNH-HĐH
đất nước và vai trò của TDNH đối với sự phát triển của DNVVN. Từ thực tế
đó, tôi mạnh dạn nghiên cứu và thực hiện luận văn Thạc só kinh tế với đề tài
“Những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tài trợ tín dụng cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh TPHCM”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phản ánh thực trạng hoạt động tín
dụng ngân hàng đối với các DNVVN tại VCB-HCM; phân tích những khó
khăn và các nguyên nhân của nó để từ đó mạnh dạn đưa ra một số giải pháp
nhằm phát triển hoạt động tín dụng cho các DNVVN, góp phần cung ứng vốn
có hiệu quả cho nền kinh tế.
Nội dung của luận văn được nghiên cứu theo phương pháp duy vật biện chứng
kết hợp với phương pháp tổng hợp phân tích, thống kê, diễn giải được sử dụng
xuyên suốt đề tài.
6
Chương I: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ GẮN LIỀN VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM
1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA
NỀN KINH TẾ GẮN LIỀN VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM
1.1
Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thò trường:
1.1.1 Khái niệm về tín dụng:
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá
trò được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật, từ người sở hữu sang
người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất đònh và khi đến thời hạn của
khoảng thời gian trên, người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu một
lượng giá trò lớn hơn. Phần tăng thêm về giá trò được gọi là phần lời hay lợi
tức. Đây chính là cái giá mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu để được
quyền sử dụng một lượng tiền tệ hay hiện vật nhất đònh.
Khái niệm về tín dụng trên đây thể hiện 3 mặt cơ bản:
o Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trò từ người này
sang người khác
o Sự chuyển giao này mang tính tạm thời
o Khi hoàn lại lượng giá trò đã chuyển giao cho người sở hữu phải
kèm theo một lượng giá trò dôi thêm gọi là lợi tức.
Tín dụng phải được hiểu đầy đủ 3 mặt trên thì mới đúng là phạm trù tín dụng.
1.1.2 Cơ sở hình thành tín dụng
Sự phân công lao động trong xã hội và sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất là cơ sở ra đời của tín dụng.
7
Xét về mặt xã hội sự xuất hiện chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở
hình thành sự phân hoá xã hội, của cải tiền tệ có xu hướng tập trung vào một
nhóm người, trong lúc đó một nhóm người khác có thu nhập thấp hoặc thu
nhập không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, đặc biệt khi gặp
những biến cố rủi ro bất thường gây ra. Trong điều kiện như vậy đòi hỏi sự ra
đời của tín dụng, để giải quyết những mâu thuẫn của xã hội, thực hiện việc
điều hoà nhu cầu vốn tạm thời trong cuộc sống.
Quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn trong nền kinh tế thò trường, trải
qua các giai đoạn khác nhau. Điều đó dẫn đến qui mô và thời gian nhu cầu
vốn không thống nhất, sự thừa thiếu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
diễn ra liên tục tại cùng một thời điểm, một số tổ chức kinh tế cá nhân khác
lại rất cần vốn để mở mang, đổi mới, phát triển sản xuất, tín dụng đã phát huy
được tác dụng tích cực của mình, giúp cung cầu vốn gặp nhau, đảm bảo cho
nguồn vốn nhàn rỗi sinh lời mà lại đáp ứng được nhu cầu vốn cho sản xuất.
Trong thực tế, quan hệ tín dụng được hình thành hết sức đa dạng, có đủ
các chủ thể tham gia cùng với thời gian, sự chuyên nghiệp hoá xảy ra. Khi nói
đến tín dụng, người ta nghó đến Ngân hàng.
1.1.3 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế
1.1.3.1 Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên
tục, đồng thời đầu tư phát triển kinh tế.
Thừa vốn và thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh
nghiệp. Thông qua các nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng sẽ tập trung các nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi ở các doanh nghiệp, sau đó đem cho vay ở các doanh
nghiệp đang có nhu cầu vốn để trang trải chi phí sản xuất kinh doanh. Việc
phân phối tín dụng để góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế tạo
điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục.
Ngoài ra thông qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng huy động nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi trong các tổ chức dân cư. Với tư cách là người cho vay,
ngân hàng sẽ huy động nguồn vốn tiết kiệm và cho vay các cá nhân hoặc tổ
8
chức có nhu cầu vốn. Thông qua tín dụng, ngân hàng rót tiền cho các doanh
nghiệp trang bò máy móc thiết bò, đổi mới qui trình công nghệ nhằm tăng
năng suất.
1.1.3.2 Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các ngành
kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn
Nước ta nông nghiệp là ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu cần thiết cho
xã hội và là ngành chòu tác động nhiều nhất về thời tiết cũng như môi trường
kinh doanh. Vì thế, Nhà nước cần đầu tư phát triển nông nghiệp để đáp ứng
nhu cầu tối thiểu của xã hội, đồng thời tạo điều kiện để phát triển ngành
nghề khác. Mặc khác, nền kinh tế đòi hỏi sự phát triển cân đối giữa các
ngành, đặc biệt là các ngành mũi nhọn làm đầu tàu. Nhà nước cần tập trung
tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, tạo cơ sở lôi cuốn các
ngành khác cùng phát triển như: khai thác dầu khí, hàng xuất khẩu.
1.1.3.3 Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán
kinh tế
Tín dụng ngân hàng là công cụ phục vụ và thúc đẩy việc thực hiện chế
độ hạch toán kinh tế, tăng cường quản lý tài chính.
Để hỗ trợ cho nguyên tắc tín dụng, các ngân hàng buộc các tổ chức
kinh tế phải thực hiện các chế độ hạch toán kinh tế mới theo đúng qui đònh
Nhà nước, tăng cường kiểm tra tài chính nhằm tránh những thất thoát xảy ra,
đồng thời là cơ sở để ngân hàng tiến hành kiểm tra tài chính của đơn vò.
1.1.3.4 Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với nước
ngoài.
Nước ta sau khi khai thông và bình thường hóa quan hệ với cộng đồng
tài chính tiền tệ quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những đóng
góp to lớn trong việc thúc đẩy các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế của đất nước, đồng thời tranh thủ sự trợ giúp kỹ thuật của nước ngoài để
đào tạo và đào tạo lại cán bộ, nâng cao năng lực quản lý và đổi mới, hiện đại
9
hoá nền kinh tế đất nước. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong
việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa.
Ngoài các vai trò quan trọng trên của tín dụng ngân hàng, tín dụng ngân
hàng ngày còn đóng vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp ổn đònh và thúc đẩy nền
kinh tế phát triển tạo ra một lượng bút tệ lớn hơn rất nhiều so với lượng tiền
tệ ban đầu huy động được.
1.1.4 Các hình thức tín dụng trong nền kinh tế thò trường:
1.1.4.1 Tín dụng thương mại (tín dụng hàng hoá):
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các Công ty, xí nghiệp,
các tổ chức kinh tế với nhau, được thực hiện dưới hình thức mua bán chòu hàng
hoá cho nhau.
Tín dụng thương mại ra đời sớm hơn các hình thức tín dụng khác và giữ
vai trò là cơ sở để các hình thức tín dụng khác ra đời.
Tín dụng thương mại ra đời dựa trên nền tảng khách quan đó là quá
trình luân chuyển vốn và chu kỳ sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp, tổ
chức kinh tế không phù hợp và ăn khớp lẫn nhau không những giữa các tổ
chức kinh tế khác ngành (như công nghiệp, thương mại, xây dựng) mà còn
giữa các tổ chức kinh tế trong cùng một ngành. Sự không ăn khớp này dẫn đến
hiện tượng trong cùng một thời điểm, một số doanh nghiệp đã sản xuất ra một
lượng hàng hoá đang cần bán, nhưng chưa cần phải thu tiền ngay, trong khi
một số doanh nghiệp lại cần mua những sản phẩm hàng hoá ấy để đáp ứng
nhu cầu sản xuất kinh doanh nhưng lại chưa có tiền.
Hiện tượng này có thể được giải quyết nếu các doanh nghiệp tiến hành
mua bán chòu hàng hoá cho nhau. Đó chính là tín dụng thương mại.
Tín dụng thương mại là tín dụng giữa những người sản xuất kinh doanh,
tuy là hình thức tín dụng phát triển rộng rãi nhưng không phải là một loại hình
tín dụng chuyên nghiệp. Sự tồn tại và phát triển của nó dựa trên sự tín nhiệm
cũng như mối quan hệ về cung cấp hàng hoá, dòch vụ giữa những người sản
xuất kinh doanh ấy. Sự vận động và phát triển của tín dụng thương mại bao
giờ cũng phù hợp với sự phát triển của nền sản xuất và trao đổi hàng hoá, khi
10
sản xuất hàng hoá được phát triển mở rộng thì tín dụng thương mại cũng được
mở rộng và ngược lại khi sản xuất thu hẹp lại.
Hạn chế của tín dụng thương mại: mặc dù tín dụng thương mại đóng vai
trò tích cực trong nền kinh tế nhưng nó không thể thay thế các hình thức tín
dụng khác, vì nó có những mặt hạn chế sau:
• Hạn chế về qui mô tín dụng:
Tín dụng thương mại do các doanh nghiệp cung cấp và họ chỉ cung cấp
giới hạn khả năng của mình. Nếu người đi vay có nhu cầu cao hơn thì người
cho vay không thể đáp ứng được.
• Hạn chế về thời hạn cho vay:
Điều kiện kinh doanh và chu kỳ sản xuất của các xí nghiệp có thể
không phù hợp nhau, vì vậy khi thời hạn mà người cho vay muốn cung cấp và
người đi vay có nhu cầu không phù hợp nhau thì tín dụng không thể xảy ra.
Tuy nhiên, nhờ phương pháp cấp tín dụng của Ngân hàng dưới hình thức chiết
khấu đã giải quyết được một phần hạn chế này.
• Hạn chế về phương hướng:
Tín dụng thương mại được cung cấp dưới hình thức hàng hoá, vì vậy
nhà doanh nghiệp chỉ cung cấp được tín dụng cho một số xí nghiệp nhất đònh-
những xí nghiệp cần hàng hoá để sử dụng cho sản xuất hay dự trữ để bán ra.
Ngoài ra việc cấp tín dụng chỉ được thực hiện trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau.
1.1.4.2 Tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các xí
nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức
ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với
các đối tượng nói trên.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu, chiếm vò trí đặc biệt
quan trọng trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển
của hệ thống ngân hàng. Khác với tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng là
11
hình thức tín dụng chuyên nghiệp, hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong
phú.
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ, nghóa là ngân hàng
huy động vốn và cho vay bằng tiền.
Trong tín dụng ngân hàng, các chủ thể của nó được xác đònh một cách
rõ ràng, trong đó ngân hàng là người cho vay, còn các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế, cá nhân là người đi vay.
Tín dụng ngân hàng vừa là tín dụng mang tính chất sản xuất kinh doanh
gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vừa là tín dụng
tiêu dùng không gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
vì vậy quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn
toàn phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Tác dụng của tín dụng ngân hàng:
So với tín dụng thương mại thì tín dụng ngân hàng có những ưu thế:
Nếu TDTM chỉ bó hẹp giữa những nhà SXKD quen biết nhau hoặc có
mối quan hệ với nhau về cung ứng hàng hoá, dòch vụ thì trái lại TDNH có thể
mở rộng cho mọi đối tượng trong xã hội: nó có thể xâm nhập vào các ngành,
với nhiều loại hình và qui mô hoạt động lớn, vừa và nhỏ; không những xâm
nhập vào lónh vực SXKD mà còn thâm nhập vào nhiều lónh vực như dòch vụ,
đời sống. Vì vậy, có thể khẳng đònh vai trò to lớn của TDNH trong việc thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội.
TDTM thường bò giới hạn bởi số lượng và qui mô hoạt động thì trái lại
TDNH có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế với số lượng rất lớn, với nhiều
thời gian khác nhau, nhờ đó giúp các doanh nghiệp không những có vốn để
kinh doanh mà còn có vốn để mở rộng đầu tư, đổi mới thiết bò, nhằm nâng cao
năng lực sản xuất, như vậy TDNH có tác dụng đẩy nhanh tốc độ phát triển của
nền kinh tế.
Hoạt động của TDNH còn có tác động và ảnh hưởng lớn đối với tình
hình lưu thông tiền tệ của đất nước. Nhờ hoạt động của TDNH mà vốn tiền tệ
12
của xã hội được huy động và sử dụng tối đa cho nền kinh tế: nó vừa có tác
dụng đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, vừa làm cho các chu chuyển tiền tệ
được tập trung phần lớn qua ngân hàng. Đó là những điều kiện quan trọng để
ổn đònh lưu thông tiền tệ, ổn đònh giá cả thò trường.
1.1.4.3 Tín dụng nhà nước:
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các đơn vò và
cá nhân trong xã hội, trong đó, chủ yếu là Nhà nước đứng ra huy động vốn của
các tổ chức và cá nhân bằng cách phát hành trái phiếu để sử dụng vì mục đích
và lợi ích chung của toàn xã hội. Tín dụng Nhà nước là loại tín dụng phát triển
rất mạnh mẽ trong thời đại ngày nay, đặc biệt ở những nước phát triển có thò
trường tài chính hoạt động hiệu quả.
1.1.4.4 Tín dụng quốc tế:
Đây là quan hệ tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức tài chính
tiền tệ được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm trợ giúp lẫn
nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nước.
1.2.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thò trường ở nước ta hiện
nay:
1.2.1 Đặc điểm của DNVVN:
Trước đây, theo công văn số 861/CP-KTN ngày 20/06/1998, Chính phủ
đã ban hành tiêu thức phân loại DNVVN trong đó có nêu DNVVN là các
doanh nghiệp có vốn (hoặc doanh thu) dưới 05 tỷ đồng hoặc số lao động dưới
200 người.
Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghò đònh số 90/2001/NĐ-CP,
theo đó, DNVVN được đònh nghóa là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập,
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, đòa phương,
trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt
áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu
nêu trên.
13
1.2.2 Vò trí và vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam hiện
nay:
DNVVN ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Theo
thống kê, đội ngũ này chiếm tới gần 96% tổng số doanh nghiệp trong cả nước,
đóng góp 26%-30% GDP và thu hút một lực lượng lao động đáng kể, tạo
nhiều công ăn việc làm, góp phần làm chuyển dòch cơ cấu kinh tế, góp phần
khai thác những tiềm năng trong dân chúng. Hiện nay có hơn 29.000 DNVVN
tham gia xuất khẩu, giá trò xuất khẩu của khu vực này chiếm 25% tổng kim
ngạch cả nước. Điều đó cho thấy DNVVN có vai trò đặc biệt quan trọng trong
nền kinh tế nước ta, thể hiện qua:
- Một là, góp phần giải phóng sức sản xuất, thu hút mọi nguồn lực
vào giải quyết việc làm, tăng thu nhập, là nhân tố quan trọng trong tăng
trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Khu vực DNVVN thuộc các thành phần
kinh tế hiện thu hút khoảng 30% lực lượng lao động phi nông nghiệp cả nước
nhưng triển vọng thu hút thêm lao động rất lớn vì suất đầu tư cho một chỗ làm
việc tại đây thấp hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp lớn, chủ yếu là do chi
phí hoạt động thấp. Đây cũng là nơi thuận tiện nhất để tiếp nhận số lao động ở
nông thôn ra thành phố đang tăng lên mỗi năm và số lao động dôi ra từ các
doanh nghiệp nhà nước qua việc cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê, …
- Hai là, các DNVVN đã cung cấp một khối lượng lớn, đa dạng
phong phú về sản phẩm, đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Nhờ sự phát triển của các DNVVN mà nhiều ngành nghề truyền thống
của Việt nam đã được phục hồi và phát triển, nhiều ngành nghề mới xuất
hiện. Sản phẩm hàng hóa ngày càng phong phú đa dạng. Trình độ kinh doanh
của các DNVVN ngày càng tiến bộ hơn, nhiều mặt hàng đã chiếm lónh được
thò trường trong nước, thay thế được một số mặt hàng nhập khẩu, tham gia làm
hàng xuất khẩu. Một số ngành nghề như chiếu cói, hàng thủ công mỹ nghệ,
DNVVN tạo ra 100% giá trò sản lượng hàng hóa.
Mỗi năm DNVVN đóng góp khoảng 25 - 30% GDP cả nước và hơn 30%
giá trò tổng sản lượng công nghiệp hàng năm. Các DNVVN đã góp phần quan
14
trọng vào việc thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực hơn.
- Ba là, các DNVVN cùng với các doanh nghiệp có quy mô lớn có
sự bổ sung hỗ trợ lẫn nhau, tạo ra một nền kinh tế thò trường đích thực, có hiệu
quả, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ, bền vững.
Do yêu cầu vốn ít, quy mô nhỏ, DNVVN có khả năng thay đổi mặt
hàng, chuyển hướng sản xuất, … Đối với doanh nghiệp lớn, DNVVN còn có
thể làm đại lý, vệ tinh, tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp vật tư đầu vào với giá
rẻ hơn, góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp
lớn.
- Bốn là, DNVVN góp phần khai thác tiềm năng phong phú trong dân.
Một số các DNVVN thành lập mang tính gia đình. Dựa trên những ưu thế của
DNVVN như thành lập với số vốn ít, thu hồi vốn nhanh, sử dụng các tiềm
năng về nguồn vốn lao động và nguyên liệu sẵn có tại đòa phương, DNVVN
thu hút được một khối lượng lớn về vốn của các tầng lớp dân cư.
- Năm là, DNVVN góp phần vào sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở các nước cũng như ở Việt Nam, các
doanh nghiệp lớn thường tập trung ở các thành phố và các trung tâm công
nghiệp, gây nên trạng thái mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thò với nông thôn, giữa các vùng trong một
quốc gia. Chính sự phát triển DNVVN là phương tiện quan trọng trong việc
tạo lập sự cân đối giữa các vùng, góp phần chuyển dòch cơ cấu kinh tế giữa
các thành phần kinh tế, giữa các ngành và các vùng lãnh thổ.
1.2.3 Chiến lược phát triển DNVVN của Đảng và Nhà nước:
Từ khái niệm DNVVN “là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng
hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”, cho thấy đại đa
số doanh nghiệp ở nước ta là DNVVN.
Xác đònh tầm quan trọng của DNVVN đối với sự phát triển kinh tế đất
nước theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, 5 năm trở lại đây, Chính phủ đã có
nhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy mức cao nhất hiệu quả hoạt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét