phép rút ra được môït số chiến lược góp phần thúc đẩy các công ty hoạt động
giao nhận vận tải có hiệu quả hơn trong lónh vực kinh doanh dòch vụ giao nhận.
¾
Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng hoạt động đồng thời nghiên cứu quy
trình hoạt động giao nhận hàng hóa của công ty giao nhận vận tải hàng không
tại TP.HCM. Từ đó nắm bắt được ưu điểm, thuận lợi cùng những nhược điểm,
thách thức mà công ty cần phải đối mặt. Đưa ra những kiến nghò để tạo điều
kiện cho các chiến lược khả thi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngành giao nhận
vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không tại TP.HCM.
Phạm vi nghiên cứu: Nội dung của đề tài được tập trung vào việc nghiên cứu
nghiệp vụ giao nhận vận tải hàng không trong kinh tế thò trường hiện đại. Các
dẫn chứng, số liệu trong đề tài được lấy từ thực tế hoạt động của một vài công ty
giao nhận vận tải hàng không tại TP.HCM và số liệu thống kê của sở kế hoạch
và đầu tư.
4. Ý nghóa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Thông qua luận văn của mình, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành giao
nhận vận tải quốc tế nói chung và của ngành giao nhận vận tải hàng không nói
riêng, đưa ra một số giải pháp phát triển dòch vụ giao nhận vận tải hàng không
tại TP.HCM với hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo để giúp các doanh nghiệp tìm
ra phương hướng đúng đắn trên con đường phát triển, để tồn tại và đứng vững
trên thò trường.
5. Kết cấu đề tài:
Luận văn được chia làm 3 chương.
- 5 -
CHƯƠNG
I:
CHƯƠNG I:
NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI ĐƯỜNG HÀNG
KHÔNG TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI
1.1 . KHÁI QUÁT VỀ NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
1.1.1 Quá trình hình thành hoạt động giao nhận vận tải hàng hoá xuất nhập
khẩu
Dòch vụ giao nhận vận tải đã có từ rất lâu trên thế giới. Theo thời gian,
cùng với sự phát triển của những mối quan hệ giao dòch quốc tế trong lónh vực
thương mại và sự tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật mà dòch vụ này đã
không ngừng phong phú hóa về mặt hình thức và đa dạng hóa về mặt nội dung.
Trước thế kỷ XVI, nền sản xuất xã hội trên thế giới lúc bấy giờ chủ yếu là nông
nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, chòu ảnh hưởng rõ rệt của môi trường đòa lý.
Phân công lao động quốc tế chưa có, vùng kinh tế chưa hình thành. Do ảnh
hưởng của điều kiện tự nhiên, dân cư, lòch sử khác nhau giữa các khu vực trên
trái đất nên đã hình thành những khu vực sản xuất đặc thù. Đó là ba khu vực:
¾ Khu vực Hoàng Hà – Dương Tử (Trung Quốc ngày nay) và Hằng Hà
(n Độ) với sản vật chủ yếu là nông sản, tơ lụa, đá quý và hương liệu…
¾ Khu vực Bắc Đòa Trung Hải (có Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Hy Lạp): sản vật
chính là lúa mì, khoai tây, nho, táo, rượu, …
¾ Khu vực hạ lưu sông Nil và Lưỡng Hà (nay thuộc đòa phận các nước
Trung Đông): sản vật chính là chà là, bông, cừu, len, thảm dệt…
Sức sản xuất ở các khu vực bấy giờ chưa lớn, giao thông vận tải chưa phát
triển, tình trạng cát cứ phong kiến nặng nề, không cho phép phía Đông và phía
Tây bán cầu trao đổi hàng hóa với nhau.
- 6 -
Cuối thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI, giao thông vận tải phát triển mạnh, sự
phát minh ra đầu máy hơi nước, kỹ thuật hàng hải phát triển giúp cho hoạt động
vận tải biển có điều kiện phát triển ở Anh Quốc với những đội thương thuyền có
khả năng vượt biển.
Sang thế kỷ XVI – XVII, trường phái chủ nghóa trọng thương xuất hiện.
Vận tải viễn dương phát triển mạnh đã thúc đẩy giao lưu thương mại, văn hóa
giữa các châu lục u – Á, u – Mỹ. Vào thời kỳ này có nhiều ngành nghề mới
ra đời trong đó có ngành giao nhận hàng hóa và các nước Thụy Sỹ, Đức, Anh
được xem là chiếc nôi đầu tiên của ngành giao nhận.
Từ lúc ban đầu, các đơn vò giao nhận chỉ có vài ba người cùng nhau góp
vốn chung để kinh doanh, quy mô không lớn, thường đặt các hội sở ở những
thành phố cảng biển lớn ở Pháp, Anh, Đức. Công việc chính của họ chỉ là đại lý
ủy thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện những công việc bình thường
như: bốc dỡ hàng hóa, lưu kho hàng, thu xếp chuyên chở nội đòa bằng đường bộ,
thanh toán tiền hàng cho khách hàng của mình, một số khách hàng thương mại
thông qua đơn vò giao nhận để đặt mua hàng từ nước ngoài. Hãng giao nhận đầu
tiên trên thế giới ra đời vào năm 1522 ở Badilay – Thụy Sỹ, dưới tên gọi
E.Vansai.
Đến những năm đầu thế kỷ XX, sản xuất công nghiệp phát triển mạnh,
nhất là ngành sản xuất xe hơi, máy móc công nghiệp. Lượng trao đổi những mặt
hàng này giữa Bắc Mỹ và Châu u rất lớn, từ đó đã phát sinh ra nhu cầu cần
phải có một tổ chức chuyên biệt luôn đứng ra lo việc giao nhận hàng hóa ở bến
cảng. Và sau đó, các đơn vò giao nhận đã đứng ra ký kết hợp đồng với các nhà
sản xuất để cung cấp hoạt động đóng gói, chèn lót hàng thật kỹ lưỡng, đưa
xuống tàu biển xuất đi. Trải qua hàng trăm năm, quan hệ buôn bán quốc tế ngày
càng mở rộng và việc phát triển các phương thức vận tải ngày càng tiên tiến,
- 7 -
thông qua đó thì phạm vi hoạt động của các đơn vò giao nhận cũng ngày càng
được mở rộng về quy mô lẫn tầm hoạt động, khai trương thêm văn phòng ở sâu
trong đất liền để thu xếp việc vận chuyển hàng kỹ lưỡng hơn, mua sắm xe tải để
tham gia việc vận chuyển đường bộ, đường sắt. Các đơn vò giao nhận có quy mô
lớn mua lại các đơn vò có quy mô nhỏ, dần dần hình thành công ty giao nhận vận
tải lớn, có tầm hoạt động trên nhiều lãnh thổ khác nhau với đa dạng các loại
hình dòch vụ.
1.1.2 Sự phát triển của ngành giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường hàng
không
Từ thời xa xưa, giao nhận, vận tải đã đóng một vai trò quan trọng trong
đời sống xã hội. Qua nhiều thập kỷ, cơ cấu các ngành công thương nghiệp – dòch
vụ đã trải qua những biến đổi sâu sắc, nói chung người bán hàng hóa không nhất
thiết phải là người sản xuất và người mua cũng không nhất thiết là người tiêu
dùng cuối cùng. Quá trình hàng hóa đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng
phải đi qua khá nhiều nhà trung gian, họ lần lượt đóng vai trò người bán, người
mua và là một bộ phận của quá trình lưu thông hàng hóa từ người sản xuất đến
người tiêu dùng. Tính chất phong phú của hàng hóa và sự vận động phức tạp của
chúng đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra những yêu cầu mới đối với vận tải. Kết
quả là hoạt động vận tải nói riêng và lưu thông phân phối nói chung luôn phải
đảm bảo được yêu cầu đúng lúc, đúng đòa chỉ. Và vận tải hàng không đã là một
trong những phương tiện vận tải đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết của
khách hàng một cách tốt nhất.
Tuy vận tải hàng không vẫn còn là một ngành vận tải non trẻ. Cuối thế kỷ
19 đầu thế kỷ 20, vận tải hàng không mới bắt đầu phát triển và nhờ các tiến bộ
khoa học kỹ thuật mà ngành vận tải hàng không ngày càng được phát triển
nhanh chóng. Trước đây nó chủ yếu phục vụ chuyên chở hàng khách. Về sau
- 8 -
vận tải hàng không đã được sử dụng rộng rãi vào việc chuyên chở hàng hóa
trong phạm vi nội đòa cũng như quốc tế. Đến ngày nay thì việc chuyên chở hàng
hóa bằng đường hàng không đã đóng một vai trò rất lớn trong hoạt động thương
mại quốc tế. Trong những thập kỷ gần đây, việc vận tải hàng hóa bằng đường
hàng không giữa các quốc gia trên thế giới phát triển vô cùng mạnh mẽ. Năm
1998 hàng không thế giới đã thực hiện được 61,2 triệu tấn hàng hóa và vận
chuyển 2,9 tỷ hành khách.
Vận tải hàng không thích hợp với chuyên chở hàng hóa trên khoảng cách
xa, ở những nơi mà các ngành vận tải khác không có khả năng thực hiện hoặc
thực hiện được nhưng sẽ gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên mức cước của vận tải
hàng không lại khá đắt (cao gấp 5 lần so với vận tải biển), thường thì khách
hàng chỉ lựa chọn phương thức này khi không còn cách nào khác. Bên cạnh đó
thì thủ tục xuất nhập hàng lại phức tạp, đòi hỏi nhiều loại giấy tờ, chứng nhận và
bò hạn chế về sức chở. Tuy có những điểm yếu như vậy nhưng vận tải hàng
không lại có hai ưu điểm lớn đó là tốc độ vận chuyển nhanh và độ an toàn lại
cao. Vì vậy, vận tải hàng không rất thích hợp với chuyên chở hàng lẻ, có giá trò
cao (như ngân phiếu, nữ trang, kim cương, đá quý, vàng, đồng đen, …); Hàng có
tính hư hỏng cao (như rau quả, hải sản đông lạnh); Hàng hóa mang tính cấp
bách, thời vụ hay theo mùa (như hàng phục vụ lễ hội, hàng dự hội chợ, triển
lãm, áo len cho mùa đông, linh kiện lắp ráp vô tuyến cho mùa World Cup, quần
áo cho ngày Tết… ); Hàng hóa có tính thời sự như sách báo, tạp chí… ; Các loại
động vật sống…
- 9 -
1.2 . TÌM HIỂU VỀ NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA
1.2.1 Bàn về khái niệm giao nhận vận tải hàng hóa
Đặc điểm của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ở những nước
khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc
giao hàng, tức là hàng hóa được vận chuyển từ người bán sang người mua. Để
cho quá trình vận chuyển đó bắt đầu được, tức là hàng hóa đến tay người mua,
cần phải thực hiện hàng loạt các các công việc khác liên quan đến quá trình
chuyên chở như bao bì, đóng gói, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm các thủ tục
gửi hàng, xếp hàng lên tàu, vận tải hàng hóa đến cảng đích, dỡ hàng ra khỏi
tàu và giao cho người nhận hàng… Đó có phải là nghiệp vụ giao nhận vận tải
hàng hóa hay không?
Cho đến ngày nay, đã có khá nhiều các khái niệm được nêu ra để khái
quát về những chức năng của hoạt động dòch vụ giao nhận vận tải hàng hóa
như:
¾ “Hoạt động giao nhận có thể được đònh nghóa là tổ chức vận chuyển hàng
hóa và thực hiện tất cả các công việc có liên quan đến việc vận chuyển đó“
(sách “ kinh tế và tổ chức vận tải quốc tế” – nhà kinh tế Salan Tarski).
¾ “Người giao nhận là người trung gian giữa người gửi hàng hay người nhận
hàng với người vận chuyển. Vò thế trung gian của người giao nhận thể hiện ở
chỗ thực hiện rất nhiều hoạt động và công việc vận chuyển. Họ hoạt động từ
quy mô nhỏ là những văn phòng đơn lẻ, lo liệu chứng từ, sắp xếp việc vận
chuyển cho đến quy mô lớn là trở thành những công ty quốc tế, cung cấp hàng
loạt các hoạt động hỗ trợ bao gồm cả việc vận chuyển” ( Sách “ Kinh tế, tiếp thò
và điều hành trong vận tải hàng không” của Peter S.Smith ).
¾ “Người giao giao nhận vận tải là đại lý ủy thác thay mặt nhà xuất nhập
khẩu thực hiện những nhiệm vụ từ đơn giản như lưu cước, làm thủ tục thuế cho
- 10 -
đến làm trọn gói các dòch vụ của toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng
(Đònh nghóa về giao nhận vận tải do y ban kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình
Dương – ESCAP).
¾ Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA)
về dòch vụ giao nhận, dòch vụ giao nhận được đònh nghóa là bất kỳ loại dòch vụ
nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân
phối hàng hóa cũng như các dòch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dòch vụ
trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu nhập
chứng từ liên quan đến hàng hóa. Việc thực hiện các dòch vụ giao nhận được gọi
là nghiệp vụ giao nhận – Forwarding, người giao nhận là kiến trúc sư vận tải.
Đònh nghóa trên cũng nhấn mạnh giao nhận vận tải chính là người thiết kế, tổ
chức vận tải, là người đóng vai trò trung gian.
¾ Theo luật thương mại Việt Nam, dòch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi
thương mại, theo đó người làm dòch vụ giao nhận hàng hóa từ người gửi, tổ chức
vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dòch vụ khác có liên
quan để giao nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của
người làm dòch vụ giao nhận khác
Mặc dù có khá nhiều các đònh nghóa, mỗi đònh nghóa lại nhấn mạnh về
một chức năng, phạm vi, trách nhiệm của hoạt động giao nhận nhưng nói một
cách chính xác thì hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa phải bao quát được hai
yếu tố: các dòch vụ hậu cần trên đất liền; Các phương tiện vận tải và tổ chức vận
tải. Người giao nhận không chỉ là một kiến trúc sư vận tải mà còn là nhà cung
cấp các dòch vụ có giá trò nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng như cung cấp
các dòch vụ hậu cần cho khách hàng. Người giao nhận thực hiện đầy đủ các dòch
vụ ở phía người nhận trong quá trình thực hiện việc gửi hàng đến việc nhận hàng
- 11 -
với vai trò là một đại lý kinh doanh trung gian hoặc với vai trò là một công ty
được toàn quyền ủy thác chuyên chở của khách hàng.
Từ những đònh nghóa trên, hoạt động giao nhận quốc tế có những đặc
điểm sau:
¾ Đối tượng dòch vụ giao nhận vận tải quốc tế là sản phẩm hàng hoá, nhưng
hoạt động này không làm thay đổi trạng thái ban đầu như hình dáng, kích thước,
số lượng, chất lượng nếu có chỉ là tăng thêm giá trò của hàng hoá mà làm thay
đổi trong không gian bằng việc sử dụng các phương tiện vận chuyển.
¾ Hoạt động giao nhận vận tải quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào đường lối
phát triển kinh tế, chủ trương của mở cửa và kinh tế đối ngoại của Nhà nước
¾ Sản phẩm của dòch vụ giao nhận vận tải không có hình dáng kích thước cụ
thể, không tồn tại độc lập với quá trình tạo ra nó, sản phẩm của dòch vụ giao
nhận vận tải thể hiện chất lượng dòch vụ vận tải và các dòch vụ đi kèm trong quá
trình thỏa mãn những nhu cầu của người gửi (người cung cấp) và người nhận
hàng.
1.2.2 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc te
á
Vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không đóng một vai trò rất quan
trọng trong buôn bán quốc tế. Càng ngày càng có nhiều hàng hoá được vận
chuyển bằng phương thức vận tải hàng không. Hiện nay theo thống kê của liên
hiệp quốc thì lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không chiếm khoảng
1/3 giá trò hàng hoá buôn bán trên thế giới. Số hàng hoá này chủ yếu được luân
chuyển qua các đại lý hàng không (là người đại diện cho người gửi hàng và cho
cả hãng hàng không). Mạng lưới hàng không bao phủ khắp đòa cầu và hoạt động
rất nhộn nhòp. Các đại lý hàng không cũng tạo thành một mạng lưới tương tự ở
khắp các sân bay, các thành phố và đảm nhận hơn 9/10 số lượng hàng hoá vận
chuyển bằng đường hàng không.
- 12 -
Với một quốc gia phát triển thì chỉ tiêu về ngành hàng không là một chỉ
tiêu vô cùng quan trọng vì :
¾ Nó đánh giá được năng lực quản lý của nhà nước
¾ Trình độ kỹ thuật
¾ Khả năng kinh tế của quốc gia đó
¾ Cũng như lượng hàng hoá lưu chuyển bằng đường hàng không so với
các phương thức khác như thế nào.
Khi mà giao nhận vận tải hàng không ngày càng phát triển thì vai trò của
người giao nhận được thể hiện qua các chức năng sau :
1.2.2.1 Đối với nghiệp vụ giao nhận truyền thống
Kinh doanh giao nhận hàng hóa đơn thuần chính là giao nhận truyền
thống đã có từ thời xa xưa và chủ yếu là diễn ra trong nội đòa một nước. Nghiệp
vụ giao nhận truyền thống chủ yếu bao gồm các khâu như:
¾ Tổ chức chuyên chở hàng hóa từ nơi sản xuất đến các điểm đầu mối vận
tải và ngược lại.
¾ Tổ chức xếp dỡ hàng hóa lên xuống các phương tiện vận tải tại các điểm
đầu mối vận tải.
¾ Lập các chứng từ trong quá trình gửi hàng, nhận hàng nhằm bảo vệ quyền
lợi của chủ hàng.
¾ Theo dõi và giải quyết những khiếu nại về hàng hóa trong quá trình giao
nhận, vận chuyển đồng thời thanh toán các chi phí có liên quan đến giao nhận.
1.2.2.2 Đối với nghiệp vụ giao nhận vận tải quốc tế:
Khi mà vai trò của người giao nhận ngày càng được nâng cao trong
thương mại và vận tải quốc tế thì đồng thời phạm vi, chức năng của họ cũng
ngày càng được mở rộng:
¾ Môi giới hải quan (Custom Broker):
- 13 -
Thû ban đầu, người giao nhận chỉ hoạt động ở trong nước. Nhiệm vụ của
người giao nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu. Sau
đó họ đã mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu và dành chỗ chở hàng
trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu, hãng hàng không theo sự
ủy thác của người xuất khẩu hoặc nhập khẩu tùy thuộc vào quy đònh của hợp
đồng mua bán. Trên cơ sở được Nhà Nước cho phép, người giao nhận thay mặt
người xuất khẩu, nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan hay môi giới hải
quan.
¾ Làm đại lý (Agent):
Với chức năng là một đại lý, người giao nhận nhận ủy thác từ một người
chủ hàng để lo những công việc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, làm việc
để bảo vệ lợi ích của chủ hàng, làm trung gian giữa người gửi hàng với người
vận tải, người vận tảivới người nhận hàng, người bán với người mua. Họ hưởng
hoa hồng và không chòu trách nhiệm về tổn thất của hàng hóa, chỉ chòu trách
nhiệm về hành vi của mình chứ không chòu trách nhiệm về hành vi của người
làm thuê cho mình hoặc cho chủ hàng.
¾ Lo liệu chuyển tải và tiếp gửi hàng hóa (Transhipment and on – carriage):
Khi hàng hóa phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua nước thứ ba, người giao
nhận sẽ lo liệu thủ tục quá cảnh hoặc tổ chức chuyển tải hàng hóa từ phương
tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác hoặc giao hàng đến tay người
nhận.
¾ Lưu kho hàng hóa (Warehousing):
Trong trường hợp phải lưu kho hàng hóa trước khi xuất khẩu hoặc sau khi
nhập khẩu, người giao nhận sẽ lo liệu việc đó bằng phương tiện của mình hoặc
thuê người khác và phân phối hàng hóa nếu cần.
¾ Người gom hàng (Cargo Consolidator):
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét