giá trị phần sau là 1, 3 và 5, trong khi 3 máy tính nối mạng 2 có thể thiết lập giá trị phần
sau là 1, 2 và 3.
Sự phần cấp địa chỉ IP phải đảm bảo hai tính chất quan trọng sau:
Mỗi máy tính có một giá trị địa chỉ duy nhất.
Mặc dù việc thiết lập giá trị network number phải đợc phối hợp trên toàn mạng, nh-
ng phần sau của địa chỉ có thể thiết lập một cách cục bộ.
Tính chất thứ nhất luôn đợc đảm bảo bởi vì một địa chỉ đầy đủ có cả phần đầu và phần
sau, và chúng đợc thiết lập đảm bảo tính duy nhất. Nếu hai máy tính nối với hai mạng vật
lý khác nhau, địa chỉ của chúng sẽ khác nhau ở phần đầu. Nếu hai máy tính nối với cùng
một mạng vật lý thì địa chỉ của chúng khác nhau ở phần sau.
2. Các lớp của địa chỉ IP
Mỗi khi lựa chọn việc thiết kế địa chỉ IP và việc phân chia địa chỉ thành hai phần, các
nhà thiết kế phải quyết định bao nhiêu bit dành cho mỗi phần. Phần đầu cần sô bit đủ để
tạo ra số mạng là duy nhất để có thể thiết lập cho mỗi mạng vật lý thuộc liên mạng. Phần
sau cần số bit đủ để đảm bảo mỗi máy tính nối với cùng một mạng vật lý cũng có giá trị
phần sau là duy nhất. Không phải dễ dàng để đa ra sự chọn lựa bởi vì thêm một bit vào
phần này đồng nghĩa với việc giảm một bit của phần kia. Việc chọn lựa phần đầu lớn thích
hợp cho nhiều mạng nhng điều đó lại giới hạn kích thớc của mỗi mạng; nếu chọn phần sau
lớn thì mỗi mạng vật lý có thể chứa nhiều máy tính nhng lại bị giới hạn về tổng số mạng.
Bởi vì một liên mạng có thẻ có các công nghệ mạng bât kỳ nên một liên mạng có thể
có một số ít các mạng lớn trong khi một liên mạng khác lại có thể có nhiều mạng nhỏ.
Quan trọng hơn, một liên mạng có thể là sự kết hợp của cả mạng lớn và mạng nhỏ. Kết quả
là ngời thiết kế phải chọn lựa cơ chế đánh địa chỉ sao cho thoả mãn đợc sự thích hợp với cả
mạng lớn và mạng nhỏ. Cơ chế chia địa chỉ IP thành 3 lớp cơ bản, trong đó mỗi lớp có kích
thớc các phần khác nhau.
Bốn bit đầu của mỗi địa chỉ quyết định địa chỉ đó thuộc lớp nào, và chỉ ra phần còn
lại của địa chỉ đợc chia thành các phần nh thế nào. Hình dới đây minh hoạ 5 lớp địa chỉ,
các bit đầu để xác định các lớp và sự phân chia của phần đầu và phần sau. Các con số quy -
ớc việc sử dụng số bit của giao thức TCP/IP từ trái qua phải và số 0 là bit đầu tiên.
5
0 prefix suffix
01234 8 16 24 31 bits
Class A
1 prefix suffix
Class B
0
1 prefix suffix
Class C
01
1 Multicast address
Class D
011
1 Reserved for future use
Class E
111
5 lớp của địa chỉ IP trong đó địa chỉ để thiết lập cho các máy là thuộc lớp A,B hoặc
C.
Lớp A, B và C gọi là các lớp cơ bản bởi vì chúng sử dụng cho địa chỉ của các host.
Lớp D sử dụng cho multicast để dùng cho một tập các máy tính. Để sử dụng địa chỉ
multicast, một tập các máy trạm phải thoả thuận dùng chung một địa chỉ multicast. Mỗi khi
một nhóm multicast đợc thiết lập, một bản sao của bất kỳ gói tin nào chuyên đến địa chỉ
multicast đều đợc chuyển đến tất cả các máy trạm thuộc nhóm multicast.
Nh trên hình vẽ ta thấy, các lớp cơ bản sử dụng đơn vị byte để phân chia địa chỉ thành
phần đầu và phần sau. Lớp A xác định ranh giới giữa byte đầu tiên và byte thứ hai. Lớp B
xác định ranh giới giữa byte thứ hai và byte thứ ba, và lớp C ranh giới giữa byte thứ 3 và
thứ 4.
3. Tính toán các lớp của một địa chỉ
Phần mềm IP tính lớp của địa chỉ đích mỗi khi nó nhận đợc một gói tin. Vì sự tính
toán này đợc lặp lại thờng xuyên, nên nó phải hết sức hiệu quả. Địa chỉ Ip gọi là địa chỉ tự
nhận dạng bởi vì lớp của địa chỉ có thể tính đợc từ bản thân địa chỉ đó.
Một phần nguyên nhân của việc sử dụng các bit đầu để biểu thị từng lớp địa chỉ thay vì
sử dụng khoảng giá trị xuất phát từ việc nghiên cứu sự tính toán: sử dụng các bit có thể làm
giảm thời gian tính toán. Đặc biệt, một vài máy tính có thể kiểm tra các bit nhanh hơn việc
so sánh giữa các số nguyên. Ví dụ, trên máy tính có các lệnh logic and và shift và tìm chỉ
số, 4 bit đầu có thể đợc lấy ra và sử dụng một bảng chỉ số để xác định lớp của địa chỉ. Hình
sau minh hoạ nội dung của bảng sử dụng để tính toán.
4 bit đầu của địa
chỉ
Chỉ số (hệ
thập phân)
Lớp địa chỉ
0000 0 A
0001 1 A
0010 2 A
0011 3 A
0100 4 A
0101 5 A
0110 6 A
0111 7 A
1000 8 B
1001 9 B
1010 10 B
1011 11 B
1100 12 C
1101 13 C
1110 14 D
1111 15 E
6
Hình 3.Bảng có thể sử dụng để tính các lớp địa chỉ. 4 bit đầu tiên của địa chỉ đợc
lấy ra để sử dụng nh là chỉ số trong bảng.
Nh trên bảng ta thấy, 8 tổ hợp bắt đầu bằng số 0 thuộc lớp A. 4 tổ hợp bắt đầu bằng
10 thuộc lớp B, và 2 tổ hợp bắt đầu bằng 110 thuộc lớp C. Một địa chỉ bắt đầu bằng 111
thuộc lớp D và cuối cùng một địa chỉ bắt đầu bằng 1111 thuộc lớp E là lớp để dự phòng cha
sử dụng đến.
Ký hiệu thập phân bằng chấm
Mặc dù các địa chỉ IP là số 32 bit, ngời sử dụng hiếm khi đọc hoặc nhập giá trị vào ở
dạng nhị phân. thay vào đó, khi giao tiếp với ngời sử dụng, phần mềm sử dụng dạng địa chỉ
khác thuận tiện hơn. Gọi là dạng ký hiệu thập phân bằng chấm (dotted decimal notation),
dạng này gom 8 bit của số 32 bit thành các giá trị thập phân và dùng dấu chấm để phân
chia thành các phần. Hình sau minh hoạ ví dụ số nhị phân và và các dạng thập phân chấm
tơng đơng.
Số nhị phân 32 bit Thập phân chấm tơng đơng
10000001 00110100 00000110 00000000 129.52.6.0
11000000 00000101 00110000 00000011 192.5.48.3
00001010 00000010 00000000 00100101 10.2.0.37
10000000 00001010 00000010 00000011 128.10.2.3
10000000 10000000 11111111 00000000 128.128.255.0
Hình 4. ví dụ về số 32 bit nhị phân và dạng thập phân chấm tơng đơng. Mỗi byte đ-
ợc viết thành số thập phân và dùng dấu chấm để phân tách các byte.
Thập phân chấm coi mỗi byte là một số nguyên nhị phân không dấu. Nh trong ví dụ
cuối cùng, giá trị nhỏ nhất có thể là 0 xuất hiện khi toàn bộ các bit là 0 và giá trị lớn nhất
có thể là 255 khi toàn bộ các bit là 1. Do vậy, địa chỉ thập phân chấm chỉ nằm trong
khoảng từ 0.0.0.0 đến 255.255.255.255
4. Các lớp và các ký hiệu thập phân bằng chấm
Dạng thập phân chấm có thể làm việc tốt với các địa chỉ IP bởi vì nó phân chia các
phần của địa chỉ theo các byte. Trong lớp A, 3 byte cuối tơng ứng với địa chỉ phần sau của
máy trạm. tơng tự nh vậy, địa chỉ lớp B có 2 byte cho địa phần sau của máy trạm và lớp C
có 1 byte.
Nhng không may là việc dùng dạng thập phân chấm không chia thành từng bit để cót
hể thấy rõ các lớp địa chỉ, các lớp phải nhận biết từ giá trị thập phân của địa chỉ. Hình sau
chỉ ra khoảng giá trị thập phân cho mỗi lớp.
Lớp Khoảng giá trị
7
A 0 đến 127
B 127 đến 191
C 192 đến 223
D 224 đến 239
E 240 đến 255
Hình 5. khoảng giá trị thập phân thuộc byte đầu tiên của mỗi lớp địa chỉ
Sự phân chia các khoảng địa chỉ
Cơ chế lớp địa chỉ IP không chia địa chỉ 32 bit thành các khoảng bằng nhau giữa các
lớp, và các lớp không có chứa cùng một số mạng. Ví dụ, hơn một nửa số địa chỉ IP (những
địa chỉ mà có bit đầu bằng 0) thuộc lớp A. Lớp A chỉ có thể chứa 128 mạng bởi vì bit đầu
của địa chỉ lớp A là 0 và phần đầu của địa chỉ này là 1 byte. Do vậy chỉ có 7 bit còn lại là
sử dụng để đánh số các mạng. Hình sau tóm tắt số các mạng lớn nhất có thể trong mỗi lớp
và số máy trạm lớn nhất trên mỗi mạng.
Lớp địa chỉ Số bit thuộc
phần đầu
Số mạng lớn
nhất
Số bit phần
sau
Số máy trạm
lớn nhất mỗi
mạng
A 7 128 24 16777216
B 14 16384 16 65536
C 21 2097152 8 256
Hình 6: số mạng lớn nhất và máy trạm trên mỗi mạng với 3 lớp địa chỉ IP
Nh trên bảng ta thấy, số bit cho mỗi phần đầu và phần cuối của mỗi lớp địa chỉ quyết
định các số giá trị duy nhất có thể có để thiết lập. Ví dụ, phần đầu của n bit cho phép có 2
n
số mạng duy nhất, trong khi phần cuối có n bit sẽ có 2
n
số máy trạm cho mỗi mạng.
5. Nơi quản lý các địa chỉ
Trên toàn bộ mạng, mỗi mạng phải có giá trị địa chỉ duy nhất. Đối với các mạng kết
nối Internet toàn cầu, một tổ chức có thể lấy số các mạng từ các công ty cung cấp dịch vụ
kết nối Internet. Các công ty đó gọi là nhà cung cấp dịch vụ Internet (Internet Service
Provider - ISP). Các nhà cung cấp dịch vụ Internet phối hợp với tổ chức trung tâm là nơi
quản lý đánh số điạ chỉ Internet (internet Assigned Number Authority), để đảm bảo số cấp
cho mỗi mạng là duy nhất trên toàn mạng.
Với liên mạng riêng biệt, việc chọn số cho mỗi mạng có thể đợc quyết định bởi tổ
chức ấy. Để đảm bảo rằng mỗi phần đầu của địa chỉ là duy nhất, một nhóm xây dựng liên
mạng quyết định việc phối hợp thiết lập các giá trị. Thông thờng, ngời quản trị mạng thiết
lập phần đầu địa chỉ cho tất cả các mạng trong liên mạng của công ty đó để đảm bảo các
giá trị đó không bị trùng nhau.
8
III. Ví dụ về một cách đánh địa chỉ
Một ví dụ sẽ làm sáng tỏ ý tởng và giải thích việc thiết lập các địa chỉ trong thực tế.
Hãy xem xét một tổ chức chọn lựa để xây dựng liên mạng TCP/IP gồm có 4 mạng vật lý.
Tổ chức này phải mua các router để nối kết 4 mạng đó, và sau đó phải thiết lập địa chỉ IP.
Để bắt đầu, tổ chức sẽ chọn lựa một giá trị duy nhất cho mỗi mạng để làm phần đầu địa
chỉ.
Khi đã thiết lập giá trị cho phần đầu của địa chỉ, các giá trị số sẽ đợc chọn lựa theo
lớp A, B và C tuỳ vào kích thớc của mạng vật lý. Thông thờng các mạng thiết lập địa chỉ
thuộc lớp C trừ phi lớp B thực sự cần thiết còn lớp A thì hiếm khi đợc lựa chọn bởi rất ít
mạng có thể chứa tới 65536 máy trạm. Đối với mạng kết nối Internet toàn cầu, nhà cung
cấp dịch vụ sẽ thực hiện việc chọn lựa. Đối với các liên mạng lẻ, ngời quản trị mạng sẽ lựa
chọn lớp địa chỉ.
Hãy để ý ví dụ về liên mạng riêng lẻ đã nói ở trên. ngời quản trị mạng sẽ ớc tính kích
thớc của các mạng vật lý và dùng các kích thớc đó để chọn lựa phần đầu. Nếu tổ chức đó
mong muốn một mạng nhỏ, hai mạng kích thớc trung bình và một mạng lớn, ngời quản trị
mạng có thể thiết lập phần đầu địa chỉ thuộc lớp C (192.5.48), hai mạng có phần đầu địa
chỉ thuộc lớp B (ví dụ 128.10 và 128.211), và một mạng địa chỉ phần đầu thuộc lớp A(ví dụ
10). Hình 7 minh hoạ một liên mạng với 4 mạng vật lý đã đợc thiết lập phần đầu của địa
chỉ, và ví dụ về địa chỉ IP thiết lập cho máy trạm.
Hình 7 : ví dụ về liên mạng riêng lẻ với các địa chỉ IP thiết lập cho các máy trạm.
Kích thớc của các đám mấy biểu thị cho các mạng vật lý tơng ứng với số máy trạm nối kết
vào mỗi mạng; kích thớc của mỗi mạng quyết định lớp địa chỉ thiết lập.
9
Prefix 128.10
Prefix
128.211
Prefix 10
Prefix192.5.48
10.0.0.37
128.211.28.4128.211.6.115128.10.0.2128.10.0.1
10.0.0.49
192.5.48.3 192.5.48.85
Nh trên hình vẽ ta thấy, địa chỉ IP thiết lập cho các máy trạm luôn bắt đầu với phần
đầu là giá trị mà đã thiết lập cho mạng vật lý của máy trạm đó. Phần sau của địa chỉ đợc
thiết lập bởi ngời quản trị mạng cục bộ có thể lấy giá trị bất kỳ. Trong ví dụ, hai máy trạm
nối với mạng có giá trị đầu 129.10 có giá trị phần sau là 1 và 2. Mặc dù nhiều quản trị
mạng chọn giá trị phần sau theo thứ tự, nhng địa chỉ IP không bắt buộc phải làm nh vậy. Sự
thiết lập địa chỉ trong ví dụ chỉ ra rằng có thể lấy giá trị phần sau tuỳ ý nh là 37 hoặc 85.
IV .Địa chỉ IP đặc biệt
Cùng với việc thiết lập địa chỉ cho mỗi máy trạm, việc có một số địa chỉ có thể sử
dụng để biểu diễn các mạng hoặc một tập các máy tính cũng khá là thuận tiện. IP đa ra một
tập các địa chỉ đặc biệt tạo ra để dự trữ. Đó là, địa chỉ đặc biệt mà không bao giờ đợc đặt
cho máy trạm. Trong phần này chúng ta sẽ xem xét cả về cú pháp và ý nghĩa của các địa
chỉ đặc biêt này.
1. Địa chỉ mạng
Một trong những nguyên nhân đa ra các dạng địa chỉ đặc biệt có thể nhận thấy qua
hình sau sẽ rất thuận tiện khi có một địa chỉ có thể sử dụng địa chỉ phần đầu để biểu
diễn địa chỉ cho một mạng cụ thể. IP đa ra địa chỉ máy trạm là 0 và sử dụng nó để biểu diễn
một mạng. Do đó, địa chỉ 128.211.0,0 biểu diễn mạng mà đã thiết lập địa chỉ lớp B với
phần đầu địa chỉ là 128.211.
Địa chỉ mạng dùng để chỉ đến bản thân mạng đó mà không phải là máy trạm nào
nối với mạng đó. Do vậy, địa chỉ mạng không bao giờ nên xuất hiện là địa chỉ đích trong
gói tin.
2. Địa chỉ quảng bá trực tiếp
Đôi khi, rất thuận tiện khi có thể gửi một gói tin đến tất cả các máy trạm thuộc cùng
một mạng vật lý. Để làm cho việc truyền toàn mạng dễ dàng, IP định nghĩa ra một địa chỉ
quảng bá trực tiếp (directed broadcast address) cho mỗi mạng vật lý. Khi một gói tin đợc
gửi đến địa chỉ quảng bá trực tiếp, một gói tin sẽ đợc truyền qua liên mạng đến khi nó đến
đợc mạng cần thiết. Gói tin sau đó sẽ đợc truyền đến tất cả các máy trạm thuộc mạng đó.
Địa chỉ quảng bá trực tiếp có dạng phần đầu là địa chỉ của mạng và phần sau gồm
toàn số 1. Để đảm bảo mỗi mạng có thể trực tiếp thực hiện việc quảng bá, IP dự trữ địa chỉ
máy trạm có chứa toàn bit 1. Ngời quản trị mạng phải không đợc thiết lập địa chỉ máy trạm
gồm toàn 0 hoặc 1 hoặc phần mềm có thể bị hỏng.
Nếu phần cứng mạng hỗ trợ quảng bá, việc quảng bá trực tiếp sẽ đợc thực hiện nhờ
phần cứng. Trong trờng hợp đó, sự truyền tin của một gói tin sẽ tới tất cả các máy tính
trong mạng. Khi việc quảng bá trực tiếp không đợc thực hiện bởi phần cứng trong mạng,
phần mềm phải thực hiện việc truyền từng bản sao của gói tin đó đến từng máy trạm trên
mạng.
10
3. Địa chỉ quảng bá giới hạn
Thuật ngữ quảng bá giới hạn để chỉ việc quảng bá chỉ thực hiện trong một mạng vật
lý; thông tục chúng ta có thể gọi đó là quảng bá giới hạn với đờng dây đơn (single wire).
Quảng bá giới hạn đợc thực hiện trong quá trình khởi động của máy tính khi nó cha biết giá
trị số của mạng.
IP dự trữ địa chỉ gồm toàn các bit 1 để quy định quảng bá giới hạn. Do vậy, IP sẽ
thực hiện gửi bất kỳ gói tin nào mà có địa chỉ gồm toàn bit 1 trên toàn mạng cục bộ.
4. Địa chỉ của máy tính này
Một máy tính cần biết địa chỉ IP của nó để gửi hoặc nhận các gói tin truyền đi liên
mạng bởi mỗi gói tin cần có địa chỉ nguồn và đích. Bộ giao thức TCP/IP có các giao thức
cho phép máy tính có thể xác định đợc địa chỉ IP của nó khi máy tính đợc khởi động. Thật
là thú vị vì các giao thức khởi động sử dụng IP để kết nối. Khi dùng các giao thức khởi
động đó, máy tính không thể cung cấp địa chỉ IP nguồn chính xác. Để thực hiện đợc điều
này, IP dự trữ một địa chỉ gồm toàn các số 0 để chỉ địa chỉ của máy tính này.
5. Địa chỉ lặp quay lại
IP định nghĩa một địa chỉ lặp quay lại đợc sử dụng để kiểm tra các ứng dụng của
mạng. những ngời lập trình thờng sử dụng kiểm tra lặp quay lại cho việc tìm lỗi ban đầu
với các ứng dụng mạng vừa đợc viết. Để thực hiện kiểm tra lặp quay lại, ngời lập trình cần
có hai ứng dụng mà định giao tiếp với nhau qua mạng. Mỗi ứng dụng cần có phần mã lệnh
thực hiện việc tơng tác với phần mềm giao thức TCP/IP. Thay vì việc phải thực hiện từng
chơng trình trên các máy khác nhau, ngời lập trình có thể chạy cả hai chơng trình trên một
máy tính và chỉ dẫn chúng thực hiện địa chỉ IP lặp quay lại khi kết nối. Khi một ứng dụng
gửi dữ liệu đến một ứng dụng khác, dữ liệu truyền qua các ngăn xếp giao thức để đến ch-
ơng trình kia. Do vậy, ngời lập trình có thể kiểm tra chơng trình ứng dụng của mình một
cách nhanh chóng không cần chạy trên hai máy tính và không cần truyền các gói tin qua
mạng.
IP dự trữ lớp A với phần đầu địa chỉ mạng là 127 cho sử dụng với lặp quay lại. Địa
chỉ của máy trạm sử dụng với 127 là không xác định tất cả các địa chỉ máy trạm là nh
nhau. Theo quy ớc ngời lập trình thờng sử dụng địa chỉ máy trạm là 1 có dạng 127.0.0.1 là
phổ biến nhất cho lặp quay lại.
Trong suốt quá trình kiểm tra lặp quay lại không có một gói tin nào ra khỏi máy tính
phần mềm IP chỉ truyền gói tin từ ứng dụng này sang ứng dụng kia. Kết quả, địa chỉ lặp
quay lại không bao giờ xuất hiện trong gói tin truyền qua mạng.
Tóm tắt các địa chỉ IP đặc biệt
Bảng sau tóm tắt các dạng địa chỉ đặc biệt.
11
Prefix Suffix Kiểu địa chỉ Mục đích
Toàn số 0 Toàn số 0 Cho máy tính này Sử dụng khi khởi
động
Giá trị mạng Toàn số 0 Mạng Xác định một
mạng
Giá trị mạng Toàn số 1 Quảng bá trực tiếp Quảng bá trên một
mạng xác định
Toàn số 1 Toàn số 1 Quảng bá giới hạn Quảng bá trên một
mạng cục bộ
127 Bât kỳ Lặp quay lại Kiểm tra
Bảng tóm tắt các dạng địa chỉ đặc biệt.
Chúng ta đã nói rằng địa chỉ đặc biệt là để dự trữ và không bao giờ dùng để thiết lập
cho máy trạm. Hơn nữa, mỗi địa chỉ đặc biệt này bị giới hạn trong một sử dụng. Ví dụ, địa
chỉ quảng bá không bao giờ đợc xuất hiện trong địa chỉ nguồn của gói tin và địa chỉ toàn 0
phải không đợc sử dụng sau khi máy tính thực hiện xong việc khởi động và đã có một địa
chỉ IP.
6. Dạng địa chỉ quảng bá Berkeley
Trờng đại học California tại Berkeley phát triển và phân phối việc bổ sung giao thức
TCP/IP nh là một phần của BSD UNIX. Sự bổ sung BSD có những đặc tính không chuẩn
nên có thể ảnh hởng đến việc thực hiện xảy ra sau. Thay vì việc sử dụng phần sau địa chỉ
gồm toàn 1 để biểu diễn địa chỉ quảng bá trực tiếp, sự bổ sung của Berkeley sử dụng phần
sau gồm toàn số 0. Các dạng địa chỉ đó gọi là quảng bá berkeley (Berkeley broadcast).
Nhiều nhà chế tạo máy tính thực hiện các phần mềm TCP/IP đầu tiên của họ theo bổ
sung của Berkeley, và một số nơi vẫn sử dụng quảng bá Berkeley. Một vài thực hiện
TCP/IP với các thông số cấu hình cho phép chọn lựa giữa chuẩn TCP/IP hoặc dạng
Berkeley; rất nhiều sự thực hiện đợc xây dựng để chấp nhận cả hai dạng địa chỉ quảng bá
TCP/IP chuẩn và địa chỉ Berkeley.
V. Router và các nguyên tắc đánh địa chỉ IP
Cùng với việc thiết lập các địa chỉ liên mạng cho các máy trạm, giao thức liên mạng
cũng quy đinh rằng các router cũng cần có địa chỉ IP. Thực tế mỗi router có thể đợc thiết
lập hai hoặc nhiều địa chỉ IP:
Một router có nhiều kết nối với các mạng vật lý.
Mỗi địa chỉ IP có chứa phần đầu để chỉ một mạng vật lý.
Do vậy, một địa chỉ IP không đủ cho một router bởi vì mỗi router nối kết với nhiều
mạng. Kỹ thuật IP có thể đợc giải thích bởi nguyên lý cơ bản:
12
Một địa chỉ IP không xác định một máy tính. Thay vào đó, mỗi địa chỉ IP xác định
một kết nối giữa một máy tính và một mạng. một máy tính với nhiều kết nối mạng (ví dụ
nh router) phải đợc thiết lập mỗi kết nối một địa chỉ IP.
Hình 8 minh hoạ ý tởng với ví dụ chỉ ra việc thiết lập địa chỉ IP cho hai router nối kết
3 mạng.
Hình 8. ví dụ của địa chỉ IP thiết lập cho 2 router. Mỗi mạch nối ghép đợc thiết lập
một địa chỉ có chữa phần đầu là mạng mà mạch nối ghép đó kết nối
IP không đòi hỏi cùng một phần sau cho địa chỉ thiết lập cho các nối ghép của cùng
một router. Trên hình vẽ, ví dụ router kết nối Ethernet và Token ring có phần sau địa chỉ là
99.5 (kết nối với Ethernet) và 2 (kết nối với Token Ring). Tuy nhiên, IP không ngăn cấm
việc sử dụng cùng một giá trị địa chỉ phần sau cho tất cả các kết nối. Do vậy, ví dụ cũng chỉ
ra rằng có thể chọn lựa cùng một giá trị phần sau địa chỉ là 17 cho cả hai nối ghép của
router với mạng Token ring và mạng WAN. Trong thực tế sử dụng cùng một giá trị phần
sau có thể giúp cho việc quản lý liên mạng bởi dùng cùng một giá trị số sẽ dễ dàng nhớ đ-
ợc.
13
Token Ring
223.240.129.0
Wan 78.0.0.0
131.108.99.5 223.240.129.2
223.240.129.17
78.0.0.17
Ethernet 131.108.0.0
Phần III
Đóng kết địa chỉ giao thức (ARP)
I.Giới thiệu chung
Địa chỉ Ip là địa chỉ ảo bởi chúng chỉ đợc duy trì bởi phần mềm. Không có một phần
cứng nào mạng cục bộ hay mạng diện rộng có thể hiểu đợc mối quan hệ giữa phần đầu địa
chỉ IP với một mạng cụ thể hoặc mối quan hệ giữa phần sau của địa chỉ IP với một máy
tính cụ thể. Hơn nữa một khung tin truyền qua mạng vật lý cần có địa chỉ phần cứng của
máy tính đích. Do vậy, trớc khi phần mềm giao thức có thể truyền các gói tin qua mạng vật
lý, nó cần chuyên địa chỉ IP của máy tính đích sang địa chỉ vật lý tơng ứng.
2. Địa chỉ giao thức và sự phân phát các gói tin
Khi một chơng trình ứng dụng đa ra dữ liệu cần truyền qua liên mạng, phần mềm
giao thức sẽ để dữ liệu trong các gói tin mà có chứa địa chỉ của máy nhận. Phần mềm trong
mỗi máy trạm và router sử dụng địa chỉ giao thức đích đó để chọn lựa máy tiếp theo cần
chuyển tới. Khi mà máy tiếp theo đã đợc lựa chọn, phần mềm giao thức sẽ truyền gói tin đó
qua mạng vật lý để đến máy đã đợc chọn.
Để tạo ra đợc một mạng ảo lớn, phần mềm làm việc với địa chỉ IP khi truyền tiếp các
gói tin. Cả địa chỉ của máy tiếp và địa chỉ đích của gói tin đều là địa chỉ IP. Không may là
địa chỉ giao thức không thể đợc sử dụng để truyền các frame qua phần cứng mạng vật lý
bởi nó không hiểu đợc địa chỉ IP. Thay vào đó, frame gửi qua mạng vật lý phải sử dụng
định dang frame của phần cứng và tất cả địa chỉ trong frame đều là địa chỉ vật lý. Kết quả
là, địa chỉ giao thức của máy tiếp sẽ đợc chuyển thành địa chỉ vật lý tơng ứng trớc khi
frame đợc truyền đi.
II. Phân giải địa chỉ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét